ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 

 BÍCH KHÊ – THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn), tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh. Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Bích Khê xuất thân từ một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh yêu nước cách mạng. Ông nội nhà thơ là cụ Lê Trọng Khanh đỗ cử nhân năm tự Đức thứ 21 (1868), làm quan đến chức viên ngoại lang Viện cơ mật. Trước tình hình nhà Nguyễn bất lực, hèn nhát, từng bước đầu hàng đế quốc Pháp, cụ cáo quan về nhà, rồi không bao lâu sau đã tuẫn tiết tại quê nhà, để khỏi cộng tác với Nguyễn Thân đánh phá phong trào Cần Vương, khi tên tay sai đắc lực của thực dân phong kiến này ép cụ ra làm tham biện sơn phòng Nghĩa – Định (Quảng Ngãi – Bình Định). Các thế hệ tiếp theo đều có người tham gia các phong trào đấu tranh yêu nước, cách mạng, từ các phong trào Đông du, Duy Tân, chống sưu cao thuế nặng, các hoạt động của Đông kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ 20, như cụ thân sinh Lê Quang Dục, đến phong trào cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo như người chị ruột rất gần gũi Lê Thị Ngọc Sương, như người em họ Lê Trọng Lào, một trong những người cộng sản đầu tiên của Quảng Ngãi…

Cũng cần nói thêm gia đình Bích Khê còn là một môi trường văn chương rất thuận lợi cho hoạt động sáng tác của nhà thơ: các anh chị đều là những người yêu thơ, hay làm thơ, trong đó người anh cả Lê Quang Thuần có nhiều bài thơ được đăng báo, và đã để lại một tập thơ nhan đề: “Tùng khê thi tập”.

Thông minh và hiếu học, cậu thiếu niên Lê Quang Lương đỗ đầu kỳ thi tiểu học Pháp – Việt tại Đồng Hới năm 1929, rồi tiếp tục học bậc trung học ở trường dòng Pellerin tại Huế, và chỉ trong ba năm đã hoàn thành chương trình bậc học này. Sau đó, anh ra Hà Nội học ban tú tài, song chỉ được một năm, anh thôi học, để chia sẻ số tiền chu cấp ăn học của gia đình với một người bạn nghèo và cùng bạn vào Phan Thiết sống trong gia đình người anh trưởng để cùng nhau tiếp tục tự học.

         Năm 1934 để tự túc việc ăn học đỡ gánh nặng cho gia đình, Bích Khê cùng người bạn mở một trường tư thục đặt tên là Hồng Đức tại Phan Thiết. Cuối năm đó, người chị Lê Thị Ngọc Sương tham gia việc quản trị nhà trường bị mật thám Pháp bắt giải về giam ở Quảng Ngãi, vì trước đó bà đã từng hoạt động cách mạng ở đây. Sau một năm học, phần thì buồn vì các người thân bị ly tán (vợ chồng người anh cả cũng vì chuyện cô em mà cũng bị tình nghi, và bị đổi ra Mũi Né), phần thì chán nản về việc người bạn muốn chiếm độc quyền sở hữu nhà trường, Bích Khê bỏ trường ra đi, lúc đầu lên sống trong các ngôi chùa tại Phan Thiết, bắt đầu mối duyên nợ với đạo Phật.

Cuối năm 1935, ông về Thu Xà sống với mẹ nhưng không được bao lâu thì ông mắc bệnh lao phổi, một trong tứ chứng nan y lúc bấy giờ. Ông phải đi nằm điều trị tại bệnh viện lao P. Pasquier ở Huế hơn một năm trời. Khoảng hạ bán niên 1937, bệnh thuyên giảm, ông trở về quê. Để thay đổi không khí thuận lợi cho việc điều dưỡng bệnh, và cũng để tìm nguồn cảm hứng cho sáng tác, ông sống lãng du khi thì ở trong chùa trên các núi Thiên Ấn, Phú Thọ, khi thì trú trong một túp lều trên bãi biển, khi thì lênh đênh trên thuyền trôi nổi trên các khúc sông Trà Khúc.

Trở về nhà một thời gian ngắn, ông lại vào Phan Thiết dạy học ở trường Quảng Thuận do ông Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương, người anh rể sau này của ông, đứng ra mở từ niên khóa 1938 – 1939. Chính trong hai năm này, Bích Khê đã dồn sức để hoàn thành tập thơ đầu của mình, và “Tinh Huyết” đã ra đời vào cuối năm 1939. Nhưng do trường có nhiều giáo viên, nhân viên có tên trong sổ đen của mật thám, hoặc vì có tư tưởng tiến bộ biểu hiện trong thơ văn đăng trên báo, nhất là báo “Tiếng dân” của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, như hiệu trưởng Lạc Nhân, như bản thân Bích Khê, hoặc vì đã từng tham gia hoạt động chính trị như bà Ngọc Sương-nhân viên quản trị nhà trường, nên nhà trường đã nhiều lần bị đóng cửa, và đến cuối năm 1939 thì bị đóng cửa hẳn.

Về Thu Xà được ít lâu, Bích Khê có vào Quy Nhơn thăm Hàn Mặc Tử, trước khi người bạn thơ thân thiết này vào bệnh viện phong Quy Hòa (20.9.1940). Sau đó ông được trường Phú Xuân ở Huế mời ra dạy. Nhưng chỉ được bảy tháng, sức khỏe giảm sút: bệnh lao bước vào thời kỳ thứ hai, ông lại thôi dạy trở về nhà.

Giữa năm 1942, bệnh trở nặng, ông phải vào bệnh viện P. Pasquier lần thứ hai. Được chừng tám tháng, cơ sở điều trị bệnh lao hiện đại vào bậc nhất Đông Dương này cũng đành bó tay, khi bệnh đã bước vào thời kỳ thứ ba. Và đây là lần trở về quê cuối cùng.

Các năm sau đó Bích Khê và gia đình đánh vật với cơn bệnh quái ác, nhưng đành chịu thất bại. Bích Khê đã lặng lẽ ra đi vào ngày 17.01.1946, lúc mới tròn 30 xuân! Bây giờ thời cuộc đang rất khẩn trương, bạn bè không ai hay biết. Vài năm sau, khi chuẩn bị cho hội nghị thành lập Chi hội văn nghệ Liên khu V, ban tổ chức có gửi đến Thu Xà giấy mời ông tham gia. Bà mẹ già cầm tấm giấy và nói trong nước mắt: “Nó đã chết rồi, còn sống đâu mà đi họp”.

Những cuộc tình duyên của Bích Khê:

Một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến sáng tác của Bích Khê là phần đời tình ái của ông. Cũng như người thầy Baudelaire của mình, trước sau Bích Khê có ba người yêu. Song tất cả đều lần lượt ra khỏi cuộc đời ông để lại trong tâm hồn ông những hình bóng sâu đậm, những nỗi đau buồn khôn nguôi.

Trước hết là một học sinh trường Hồng Đức có bí danh là Song Châu. Mối tình đầu có tính chất thơ ngây này diễn ra khoảng một năm, và đã chấm dứt khi ông bỏ trường ra đi, do hoàn cảnh lúc này của ông, và cũng do Song Châu còn quá trẻ, mới chí là “người mỹ nữ xuân mười bốn” (1). Tuy vậy ông đã dành cho mối tình này cả một chương trong tập “Tinh Huyết” với nhan đề “Châu”.

Người thứ hai là Thanh Thủy cũng quê ở Quảng Ngãi. Tuy đã quen biết nhau từ hai năm trước ở Mũi Né, nhưng đến năm 1937, khi tác ngộ trên con sông Trà Khúc, tình yêu giữa hai bên mới nảy nở. Tưởng chừng một cuộc hôn nhân sẽ xảy ra, vì Thanh Thủy yêu Bích Khê tha thiết, và gia đình cũng khuyên ông lấy vợ, nhưng không ngờ ông lại từ chối với lý do để giữ một thứ “tình yêu thơ mộng, tình yêu thuần khiết”! (Phải chăng bên trong có một lý do xác thực hơn là tình trạng sức khỏe suy yếu?”). Để an ủi Thanh Thủy đang đổ bệnh vì thất vọng, ông gửi tặng bài thơ “Ngón giai nhân” kết thúc bằng hai câu:
                           Tình anh lụy ngón giai nhân

                           Sống lìa nay được ấy ngần đoàn viên.

 Người thứ ba có biệt hiệu là Ngọc Kiều (tên thật là Nhung) cũng là một học sinh, nhưng là một học sinh đã lớn theo học lớp buổi tối ở trường Quảng Thuận (1938 – 1939). Đây là một mối tình nồng nàn, chín chắn. Gia đình nhà thơ tiến hành dạm hỏi, nhưng gia đình Ngọc Kiều từ chối vì chê Bích Khê nghèo. Ngọc Kiều đau khổ đến phát điên khiến gia đình hoảng sợ buộc phải chấp nhận gả con. Nhưng một bất ngờ lớn đã xảy ra: đến lượt Bích Khê từ chối cuộc hôn nhân, vì cảm thấy mình bị xúc phạm danh dự quá lớn. Dù người yêu hết mực van xin, dù bà con, bạn bè hết sức khuyên nhủ, Bích Khê kiên quyết giữ ý kiến của mình. Tuy không có cái may mắn như Song Châu chiếm trọn một phần trong tác phẩm “Tinh Huyết”, nhưng hình ảnh của Ngọc Kiều luôn hiển hiện hay bàng bạc trong nhiều bài thơ của Bích Khê. Có khi là cái tên thật được lồng vào một chi tiết của thiên nhiên: “Nhung mây tê ngời sao kim cương” (Nghê thường). Có khi là một hình ảnh huyền ảo: “Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi” (Tỳ bà).

Ngoài ra Bích Khê còn có một mối tình đơn phương kín đáo nữa. Đó là một quả phụ còn trẻ rất mực đoan trang, đã từng tham gia dạy học ở trường Quảng Thuận. Mười năm sau khi Bích Khê mất, trong dịp đến thăm bà Ngọc Sương, Minh Sim – tên của người phụ nữ ấy – mới biết được chuyện này, và đau đớn nhận những bức thư chưa bao giờ được gửi đi, mà Bích Khê để lại trước khi mất.

Tiến trình sáng tác của Bích Khê:

Tiến trình sáng tác của Bích Khê có thể chia ra ba giai đoạn:

         1. Giai đoạn “thơ cũ”: Bích Khê bước vào làng thơ rất sớm, khi còn ở tuổi thiếu niên. Từ những năm 1931-1932, ông đã có thơ đăng ở báo “Tiếng dân”. Cho đến cuối năm 1936, nhiều bài được sáng tác theo các lối Đường luật, từ khúc và hát nói của ông đều đặn xuất hiện trên mặt báo này, và đăng rải rác ở một số báo khác như “Phụ nữ Tân Văn”, “tuần báo Đông Tây” dưới các bút danh Lê Mộng Thu, Bích Khê. Tuy tuổi đời tác giả còn trẻ, nhưng nhiều bài thơ của ông đã đạt đến trình độ già dặn, và được nhiều bậc túc nho tán thưởng. Hấp thụ truyền thống yêu nước của gia đình, đồng thời chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu. “thơ cũ” của Bích Khê nằm trong xu hướng văn chương “ưu thời mẫn thế” hồi mấy thập kỷ đầu thế kỷ 20.

2. Giai đoạn “Tinh Huyết”: Từ năm 1936, Bích Khê từ giã con sông dù sao cũng vẫn êm ả của “thơ cũ”, để nhảy vào dòng xoáy của “thơ mới”. Điều đó không có gì là lạ trong xu thế đổi mới tất yếu của thơ ca Việt Nam đường thời, mà Hàn Mặc Tử cũng là một trường hợp tiêu biểu. Có lạ chăng là một khi đã chuyển hướng, Bích Khê muốn vượt lên đi đến một cuộc “Duy tân” (tên một bài thơ nổi tiếng của ông) thật mạnh mẽ, sâu sắc và táo bạo đối với thi ca. Để làm việc này, Bích Khê đã tìm đến các trường phái thi ca hiện đại của Phương Tây cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực. Đặc biệt ông chịu ảnh hưởng của mỹ học Baudelaire mà ông tôn làm “Vua thi sĩ” (“Người ăn mày” – “Tinh Huyết”). Nhưng ông không dừng ở đó, mà còn tiếp biến nhiều quan điểm nghệ thuật khác của các nhân vật cự phách thuộc các trường phái nói trên: Rimbaud, Verlaine, Mallarmé v.v… Đương nhiên ông không phải là người độc nhất trong số các nhà thơ đương thời đã tiếp nhận ảnh hưởng của phương Tây, nhưng ông là người hơn ai hết muốn đi đến tận cùng của lý thuyết các trường phái ấy.

         Tuy nhiên, trong khi hướng mạnh về phương Tây, Bích Khê vẫn giữ những mối liên hệ mật thiết, bền chặt với các truyền thống văn hóa, văn học Phương Đông và dân tộc. Lý Bạch của Trung Quốc, Hồ Xuân Hương và Tản Đà của Việt Nam vẫn để những dấu vết sâu đậm trong thơ ông. Và nếu Hàn Mặc Tử tìm nguồn cảm hứng trong Thiên Chúa giáo, thì Bích Khê đến với Phật giáo và Đạo giáo.

Tất cả những điều này chi phối mạnh mẽ hoạt động sáng tác của Bích Khê, nhất là trong thời gian đầu của quá trình chuyển hướng sang thơ mới, mà kết quả là sự ra đời của tập thơ “Tinh Huyết” vào cuối năm 1939, tập thơ đã được Hàn Mặc Tử đón nhận như “Một bông hoa lạ nở hương” (Tựa tập thơ “Tinh Huyết”).

3. Giai đoạn “Tinh Hoa”: Từ sau “Tinh Huyết” cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, mặc dù sức khỏe ngày càng suy giảm, Bích Khê vẫn tiếp tục sáng tác. Nhưng giờ đây người ta sẽ bắt gặp một Bích Khê khác. “Tinh Huyết” là cả một bầu máu nóng của tuổi trẻ với những ưu điểm, nhược điểm của nó. Sự háo hức đi tìm cái mới lạ, sự sôi nổi trong cảm hứng sáng tạo, một mặt đem lại sức sống và tính độc đáo cho các bài thơ, nhưng mặt khác có lúc cũng dẫn đến những gì còn sượng, chưa nhuần nhị. Có thể nói đó mới là một cuộc thử nghiệm táo bạo. Đến “Tinh Hoa”, sự bồng bột ban đầu lắng xuống, những cái gì quá đà được gạn lọc để hiện lên một Bích Khê chín chắn hơn, cả về tâm hồn lẫn nghệ thuật. Một sự so sánh những bài thơ trong dạng ban đầu trong “Tinh Huyết”, với những văn bản đã được sửa đổi của chung in trong tập “Tinh Hoa” sẽ cho ta thấy một phần quan trọng của sự chuyển hướng ấy. Trong sự kết hợp Đông – Tây, nếu trước kia ảnh hưởng của phương Tây có phần mạnh hơn, thì bây giờ yếu tố “Đông” trỗi dậy để tạo ra sự hài hòa trong nội dung cũng như trong hình thức. Nói cách khác, “Tinh Hoa” là một cuộc trở về: trở về với những lối thơ truyền thống cùng những âm hưởng quen thuộc, nhưng cấu trúc không hoàn toàn như cũ; trở về với cách nghĩ, điệu cảm quen thuộc nhưng với một tâm trạng của con người thời đại mới. Tuy nhiên ông vẫn giữ một sự nhất quán về những quan niệm nghệ thuật cơ bản của mình.

Có thể khái quát tiến trình thơ của Bích Khê như sau: “Tinh Huyết” là phủ định của “thơ cũ”, và “Tinh Hoa” là phủ định của “Tinh Huyết” vậy!( Dĩ nhiên, đây là phủ định theo kiểu triết học biện chứng “phủ định của phủ định”)

Cuộc đời của người thi sĩ tài hoa bạc mệnh quá ngắn ngủi, nhưng ông đã kịp hoàn thành ba tập thơ:

-        Những dòng thơ cũ” tập hợp các bài thơ cũ được sáng tác trong khoảng 1931 – 1936 chưa xuất bản.
-        Tinh Huyết” được xuất bản vào tháng 12 năm 1939
-        Tinh Hoa” (2) được xuất bản trọn vẹn vào tháng giêng năm 1997 (trước đó đã được trích đăng một số bài trên các sách, báo trước và sau 1975).
 

 _____________________

Chú thích:

  1. “Tinh Hoa” – “Tấm bia trước mộ thơ”

     2.  Có một số tài liệu ghi Bích Khê còn có các tập thơ “Đẹp”, “Ngũ hành sơn”. Điều ấy không đúng. Đó chỉ là những cái tên mà ông dự định đặt cho tập thơ thứ hai, trước khi dừng lại ở cái tên chính thức: “Tinh Hoa”. Bích Khê cũng không hề viết thiên tự truyện “Lột truồng” như có người đã nói.

PHIÊN HỌP THỨ NHẤT HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN TỔNG TẬP BÍCH KHÊ
       Hội đồng biên soạn kêu gọi các nhà nghiên cứu, các nhà văn và bạn đọc xa gần nếu có tư liệu quý về Bích Khê hoặc những bài viết, sáng tác, cảm nhận  về Bích Khê đã công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước, xin gửi về địa chỉ thobichkhe@gmail.com để Hội đồng chọn lựa, sử dụng.
BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ
Qua những hồi ức của nhà thơ Quách Tấn và Nữ sĩ Ngọc Sương cho ta thấy, dù chỉ ở độ tuổi đôi mươi, Bích Khê vẫn luôn chứng tỏ mình tự chủ, tự quyết và tự biết mình trong học tập, trong lập thân, trong văn chương, trong tình yêu, ngay cả trong cái chết. Và ngay trong Lời Tuyệt mệnh, Bích Khê đã tự đề thơ trên mộ chí của mình, như một dự báo đầy tự tin và thật ung dung tự tại của một nhà thơ hiên đại trên khu vườn thơ ca Dân tộc. Trong thơ và ngay cả trong đời sống, Bích Khê như người đạt đạo ở tuổi 30!




  
Gia đình Bích Khê