ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 
CHÚT TÌNH RIÊNG

    Quách Tấn                                                                 

Bích Khê và tôi biết tiếng nhau từ lúc có thơ đăng ở Tiếng Dân và Phụ Nữ Tân Văn, tức vào khoảng 1932.

Nhưng mới kết thân với nhau năm 1939 do Hàn Mặc Tử giới thiệu. Tập “Một Tấm Lòng” và tập “Tinh Huyết” là hai sứ giả sang nước nhau lần đầu tiên.

Rồi chỉ có thơ từ qua lại.

Mãi sau khi Hàn Mặc Tử qui thần, chúng tôi mới giáp mặt nhau và từ ấy tình thương yêu càng ngày càng thêm thân thiết.

Tôi vốn làm việc tòa sứ tại Nha Trang. Lương bổng đủ sống phong lưu, có một ngôi nhà ngói nho nhỏ sẵn sân cổ thọ để ngủ trưa, giếng cam tuyền để tắm mát; vừa gần sông vừa gần chợ, bề tới lui thuận cả buổi mai, buổi chiều. Cho nên anh em văn nghệ quen thân đều lấy Nha Trang làm trạm nghỉ chân khi vào Nam ra Bắc, làm nới dưỡng sức khi mỏi bước giang hồ. Năm ba bạn còn dùng làm viện chứa bản thảo và sách quí.

Trước kia Bích Khê thường qua lại Nha Trang, nhưng vì chưa biết người biết mặt, nên ngại lòng cất đi luôn.

Năm 1941, vào khoảng tháng hai hoặc tháng ba Tân Tỵ, Khê ở Thu Xà viết thư tin cho biết rằng sắp vào Nha Trang chơi. Tôi đợi. Được mấy hôm, Chế Lan Viên ở Sài Gòn về Bình Định, ghé lại thăm. Mừng quá, tôi vội viết thư ra giục Khê vào, chưa vào thì Yến Lan ở Bình Định đi Hà Tiên lại ghé nữa. Cảnh vui thêm vui. Tôi liền đánh điện tín ra cho Khê. Khê đáp “sẽ vào nay mai”.

Chế Lan Viên và Yến Lan đối với Bích Khê cũng in tôi, chỉ quen thân nhau trên bút mực và cũng do Hàn Mặc Tử làm trung gian. Được gặp nhau là một cái thú. Cho nên vui vẻ nằm chờ. Nhưng chờ đến 15 hôm mà không thấy Khê vào, nên kẻ đi Hà Tiên, người về Bình Định.

Viên và Lan đi được hai hôm thì Khê vào! Hỏi:

- Sao vào chậm?

Đáp:

- Đến Sông Cầu ghé thăm ông anh làm y tá thì bị cảm. Ông anh không cho đi. Phải ở lại chữa. Vừa khỏi liền lên đường.

Không gặp được Viên, Lan, Bích Khê rất lấy làm tiếc, song tự an ủi:

- Cũng không sao, ngày xuân còn dài.

BÍCH KHÊ lúc bấy giờ sức khỏe có phần kém. Vóc gầy, nước da mét. Nhưng đôi mắt đen nhánh và sáng ngời. Năm ấy Khê mới 26 tuổi, nhỏ hơn tôi đến 6 tuổi. Tánh e lệ, nhưng tình rất nồng nàn. Vừa gặp nhau liền quyến luyến như như đôi “trai gái”.

Khê ở chơi được 20 hôm. Những buổi tôi đi làm thì Khê nằm ở nhà đọc sách. Lúc tôi ở nhà thì hết hỏi chuyện nầy đến nói chuyện nọ, luôn luôn cận kề nhau. Chiều chiều gần giờ bãi sở, Khê lững thững đi đón tôi để cặp tay nhau chung về... Thái độ và cử chỉ của Khê đối với tôi thật không khác Hàn Mặc tử ngày trước! Và tôi thương yêu Khê cũng không kém Tử buổi sanh tiền.

Trong câu chuyện chúng tôi thường nahwcs đến Tử và nhiều khi ngã vào nhau mà khóc ròng!

Hỏi đến đời tình ái của nhau. Khê không chút giấu diếm. Thì ra Khê vẫn còn là một cậu đồng nam và cách đối xử với đời không mấy khi dám sai lời Khổng Tử viết. Thế mà trong Tinh Huyết lại nhan nhản những cái lịch duyệt mà chỉ có người thật sự lịch duyệt mới biết được, cảm được! Tôi toan hỏi thật Khê. Nhưng nghĩ đến Vũ Trọng Phụng, một nhà văn bất kham về sắc giới, mà lại viết Liêu Trai Chí Dị chứa đựng toàn những đệ nhất sướng khoái trong thế gian, tôi bèn đình chỉ.

Tôi lại chợt nhớ lại.

Một hôm cùng Chế Lan Viên nói đến Bích Khê, Viên nói:

- Khê bị bệnh “tự do xuất dương”.

          Tôi cười:

- Sao lại nhè bệnh quốc cấm mà mắc! Nhưng mộng, hay di?

- Phải chi mộng cho đỡ khổ!

- Sao biết?

- Trên đời có gì giữ mãi được bí mật... Và cũng vì không làm việc trên thực tế được, Khê phải làm việc trong thơ.

- Do đó Khê đi đến “cõi nan y”.

Nghĩ đến đó, lòng đương vui trở ngùi ngùi...

Để chữa bệnh cho Khê, tôi nhờ người bạn học là B.S. Lê Văn Tân đến coi mạch và cho y tá đến tiêm kim. Vì công không nhiều, tốn kém cũng không mấy, nên Khê không nỡ chối từ. Lại thêm Tân cũng thích nghe Khê nói chuyện thơ, nên mỗi ngày đến thăm nửa giờ hoặc một vài giờ vẫn không lỗ lã. Tân thường nói:

- Cũng thì SỸ mà Bác Sỹ và Thi Sỹ sống trong hai thế giới trái ngược nhau. Một bên thấy toàn sắc đẹp ngửi toàn hương thơm, nghe toàn tiếng du dương thanh thoát... Một bên ngày nào cũng thấy toàn những nhơ bẩn gớm guốc, ngửi toàn mùi tanh hôi của xương máu, của thuốc men, nghe toàn những tiếng rên, tiếng la, thiếng thét, cả tiếng chửi rủa... Nhưng nếu tôi nhìn vào sọ người mà thấy “buồng xuân hơ hớ cánh đào sương” nhìn vòa người đàn bà nằm trên bàn mổ mà thấy “nhan sắc lên hương”... thì mỗi ngày trước nhà ít ra cũng có một âm hồn đến đòi thường mạng.

Ít hôm sau lại nói:

- Làng chơi bảo rằng hút nha phiến ban đầu thấy đắng và say rất khó chịu, nhưng hút vài lần thì thấy ngon rồi lần lần sanh nghiện. Nghe các anh nói chuyện thơ sao giống hút nha phiến quá. Không khéo tôi mắc bệnh nghiện thơ, chớ chẳng chơi! Mắc bệnh gì nguy hiểm mấy cũng có thể chữa khỏi được. chớ nghe nói bệnh nghiện thơ là bệnh nan y. Phải không hai “cha”?

Nghe nói bệnh gì nguy hiểm mấy cũng có thể chữa khỏi được, tôi hỏi riêng Tân:

- Bệnh Khê có hy vọng khỏi chứ?

- Đừng cho bệnh nhân biết nhé! Bệnh Khê đến thời kỳ thứ hai rồi. Chỉ có thể chận đừng cho vi trùng Koch bành trướng để giữ phần phổi còn tốt đó thôi. Nhưng trường hợp Khê rất khó! Bởi vòi rồng bị sút nút, thuốc bổ nhập nội đều lén cho “xuất ngoại” hết... Như vậy lực lượng làm sao có đủ để “chống xâm lăng?!”. Phải tìm cách “bế quan tỏa cáng” trước.

- Cưới vợ có được chăng?

- Ý! Đừng bày! Sẽ làm “con nai vàng ngơ ngác đạp lên lá vàng khô” đó.

- Sao vậy?

- Anh ngu quá! Bởi vì chưa đủ sức “tự vệ” còn sức đâu nữa để “phục vụ”? Không phục vụ được thì... có sừng có gạc chớ sao. Thôi, anh cứ yên tâm, để tôi lo liệu. Cứ tận nhân lực, miễn các anh đừng biến tôi thành thi sỹ là được.

Ngoài anh Lê Văn Tân đến mỗi ngày hoặc hai lần, còn có ông bạn vong niên Trần Khắc Thành và người bạn đồng sự Nguyễn Tử Anh đêm nào cũng đến chơi đến chín, mười giờ mới về.

Ông bạn Trần Khắc Thành, hiệu Thuần Phu, là một nhà nho uyên thâm, thơ quốc âm cũng lão luyện. Ông cụ rất thích thơ cũ của Khê, còn thơ mới thì “chịu không nổi”. Nguyễn Tử Anh trái lại, chê thơ cũ của Khê “không hồn” và khen thơ mới của Khê (chung chiếu cùng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên thật cân xứng”.

Nguyễn Tử Anh học rộng và có đôi mắt xem thơ rất sắc bén. Một hôm hỏi tôi:

- Đem nhân vật trong Tam Quốc mà sánh, thì anh sánh Bích Khê, Chế Lan Viên là Mã Siêu, Hàn Mặc Tử là Triệu Tử Long.

Tử Anh nói:

- Tôi lạ thấy Bích Khê giống Lã Bố và Tào Tháo.

Bích Khê vội khoát tay:

- Không, không. Tôi không làm Lã Bố cũng không làm Tào Tháo. Nếu không làm được Phung Sồ, Huỳnh Trung thì thà làm Tôn Quyền, Hạ Hầu Đôn còn hơn. Tôi ghé là Bố và Tào Tháo thậm tệ.

Tôi nói:

- Khi đọc những bài thơ mới đầu tiên của Khê gởi đến, Tử viết thư vào cho Trọng Miên có câu: “Xem xong tập thơ tôi không khỏi phập phồng lo ngại, muốn gào lên rằng trời đã sanh Chu sao còn sanh Lượng”. Như thế là Tử sánh tài Khê như tài Khổng Minh và tài Tử như tài Chu Du. Tức là Tử chịu nhượng Khê rồi đó.

Khê thành thật đáp:

- Tôi biết thơ tôi chưa theo kịp thơ Tử. Thơ Tử đã lên đến độ “xuất thần nhập hóa”. Tôi phải tu luyện lâu ngày mới với tới vai Tử được. Sánh Tử là Gia Cát Lượng, tôi là Bàng Thống đúng lắm. Phải công nhận Bàng Thống thua Gia Cát Lượng xa. Một bên ung dung... một bên bôn bức. Tánh tôi thật giống tánh Phung Sồ.

Tử Anh hỏi tôi:

- Thơ Tử và thơ Khê khác nhau ở chỗ nào?

Tôi đáp:

- Thơ Khê chuộng cốt cách, thơ Tử chuộng tiết điệu. Nói theo kiểu mới: thơ Khê là Điêu khắc, thơ Tử là Âm nhạc. Cho nên đọc thơ Khê phải để ý từng cái phết, cái chấm phết..., từng chỗ ngắt câu xuống hàng. Còn thơ Tử thì nhạc đi trước, lời đi sau rốt. Cho nên đọc thơ Tử đừng chấp ý mà hại lời, đừng chấp lời mà hại nhạc. Do đó thơ Khê phải đọc kỹ mới nhận thấy cái đẹp cái hay, còn thơ Tử nghe qua là thích, lắm lúc không cần tìm hiểu Tử muốn nói gì.

Khê sung sướng nắm tay tôi:

- Vậy sao lâu nay anh không viết ra cho chúng tôi đỡ khổ?

Tôi cười:

- Nếu Bá Nha nghe lời phê bình của Tử Kỳ trong nơi ngàn tai muôn mặt, thì đâu còn cái thú đoạn cầm.

Nguyễn Tử Anh lại đem hai bài Sọ người của Bích Khê và Chế Lan Viên ra so sánh. Đây bài của Viên:

Này chiếc sọ người kia mi hỡi!

Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi,

Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?

Mi trông mong ao ước những điều chi?

 

Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rởn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?

Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi bay trong đám lửa ma trơi?

 

Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió,

Của người mi thi thể rữa tan rồi?

Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ

Đang lạc loài trong cõi chết xa xôi?

 

Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại

Muốn giết mi trong sức mạnh tay ta!

Để những giọt máu đào còn đọng lại

Theo hồn ta, luôn chảy những lời thơ.

 

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!

Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!

Để nếm lại cả một thời xưa cũ

Cả một dòng năm tháng đã trôi qua.

Và đây, bài của Khê:

Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!

Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!

Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!

Ôi thần tỉnh! Người chứa một trời thương.

 

Người yên tịnh  nhưng người đi muôn dặm

Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!

Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!

Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!

Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo.

 

Một đêm vàng – một đêm vàng âm điệu

Đầy nhựa thơm, xanh mịt ngàn phi lau

Mộng ngời lên bay đến một bến tàu –

Biển ngọc bích, thuyền buồm say sóng dịu;

Hương ngọt ngào, ánh sáng chớp mau mau.

 

Hương say người như say men tình ái,

Kề ngực trăng người mớm vị say sưa.

Người chưa say vì hương vị chưa bưa:

Dìm trăng xuống một vùng trăng nước giãi

Và xóa lên… diêu động bóng ngàn xưa.

 

… Hoa thần bí vấn vương hồn ngọc nữ;

Động đào nguyên chấp chóa ánh lưu ly;

Ô! sắc phàm trên bộ mặt từ bi;

Ô! tiên nương trong tình xuân đầy ứ;

- Một u sầu dìu dịu của cung phi.

 

Ôi! Sọ người! Sọ người! – Gương phép tắc!

- Ngọc Kiều ơi! ghé lại ngắm dong nhan.

Ngọc Kiều ơi ta chợp thấy tim nàng,

Tim nàng bằng đá, tim nàng bằng sắt.

Ngọc Kiều! hơi độc sắp tràn lan!

 

Người ngất ngư – Chết trong muôn thế kỷ!

Chạy điên rồ… đứng sựng giữa xương ma.

Người là ai? Người có phải là ta?

Tử Anh hỏi tôi:

- Anh thấy sao?

Tôi đáp:

- Chế Lan Viên đem chiếc sọ người ngâm vào cường toan của tưởng tượng để tìm lại nguyên chất của nghìn xưa. Còn Bích Khê thì tán chiếc sọ người ra thành bột rồi trộn lẫn với bột tưởng tượng, nặn thành những hình tượng láng bóng và trắng tinh. Cho nên nhìn vào sọ người của Viên thì thấy “Muôn ma Hời sợ soạng dắt nhau đi” và “Những bóng người vùn vụt đuổi bay ra” (1). Còn nhìn vào sọ người của Khê thì thấy “Đường non khéo điêu khắc những dáng hình khỏa thân” (2)

Tử Anh nói:

- Đọc thơ Chế Lan Viên tôi có cảm giác nhìn một thơ âm hồn ở dưới mồ chui lên, chập chờn phương phát. Đọc thơ Bích Khê như đứng ngắm một giai nhân ở trong tòa nhà lộng lẫy bước ra, ngắm chưa đã thì giai nhân vụt hiện thành một bộ xương trắng trên đầu có mớ tóc bờm xờm!

Bích Khê thích chí cười:

- Các anh có một lối phê bình vui quá!

Ông bạn Thuần Phu nằm nghe, nửa ngủ nửa thức, thỉnh thoảng nói:

- Nói toàn chuyện bá láp!

Có lần ông cụ hỏi Khê:

- Đương làm thơ luật hay như thế, tại sao lại nhảy đi làm thơ bất thành nhân dạng như thế?

Khê toan đáp. Tôi ngăn lại:

- Nói với ông cụ này 10 năm cũng không đánh đổ nổi bức tường thành kiến kiên cố hơn cả dãy Lũy Thầy.

Ông cụ cười ha hả:

- Tôi mà có quyền thì các anh bị cột đá thả trôi sông hết. Nghe nói thơ mới của các anh thật muốn phát điên.

Nói là nói vậy chớ từ ngày gặp Khê, không đêm nào ông cụ khiếm diện. Có khi đến chơi cả ban ngày, lúc tôi đi làm việc. Ông cụ đến rủ Khê đánh cờ. Biết tánh ông cụ hễ ngồi vào bàn cờ thì dù giặc có đến cũng đợi đánh cho hết ván rồi mới chịu chạy, nên tôi dặn Khê:

- Có muốn giải khuây chốc lát thì phải hẹn trước với ông cụ, ăn thua chi cũng vậy, không được kéo quá 1 giờ đồng hồ. Nhưng lúc nào trong mình không khỏe thì dù ông cụ nài nỉ mấy cũng đừng ngồi vào bàn. Ông cụ không bao giờ giận đâu mà ngại.

Khê đánh cờ vừa sạch nước cản, đánh sao cho lại ông cụ nổi tiếng cao cờ từ lúc thanh xuân. Thế mà thỉnh thoảng Khê lừa ông cụ, thắng được một vài ván, khiến ông cụ tức mình phá ước lệ buộc phải kéo dài cuộc chơi hàng giờ! Nhà tôi sợ Bích Khê ngồi lâu mệt,nên sau mấy hôm, lén lấy dấu mất bàn cờ.

Tôi có mấy bộ thơ Đường (Cổ Xụy, Quán Châu, Hợp Tuyển) và đã phiên âm cùng dịch nghĩa đen độ năm sáu trăm bài. Khê rất ham thích đọc. Những lúc ông cụ Thuần Phu đến mà không tìm thấy bàn cờ, thì Khê đem thơ Đường ra thảo luận. Ông cụ ghiền thơ Đường em – em ghiền cờ. Cho nên đã đến là không về gấp được.

***

Khê thú thật cùng tôi:

- Tôi xem thơ Đường rất ít. Tôi chỉ được những bài Tản Đà trích dịch đăng ở các báo chí. Tôi thường nghe thơ chữ Hán của các nhà cách mạng tiền bối nước ta. Nay đọc những bài thơ Đường anh phiên âm tôi thấy thích thú quá. Nhưng có nhiều bài tôi không nhận thức hết ý nghĩa. Cụ Thuần Phu dường cũng không lãnh hội thấu đáo những chỗ tinh diệu của thơ Đường?

Tôi đáp:

- Cụ Thuần Phu, học lực uẩn tạ. Song cũng như các nhà nho chuyên về thơ cử nghiệp, cụ nặng bên qui luật hơn bên tâm hồn và chỉ ưng thưởng thức vị trong vị chớ ít chịu lắng lòng theo “tiếng đàn ngoài giây tơ”. Não quí vị ấy rất thực tế, cho nên những gì quí vị không thấy được bằng mắt, không rờ được bằng tay, không nghe được bằng tai, không nghĩ được bằng trí... quí cụ đều cho là hoang đàng và nhất định không chấp nhận. Thơ Đường thực trong mơ, mơ trong thực, biến hóa như nhân vật trong Liêu trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Cứ “ngang ngay sổ thẳng” thì làm sao đi vào cõi tinh diệu được. Phải đi vào thơ Đường bằng trực giác mới biết rõ chân vị, bằng không thì chỉ thấy vẻ đẹp ở bên ngoài.

Thỉnh thoảng tôi đem những chỗ sở đắc về Đường Thi nói cho Khê nghe.

“Mùa Cổ Điển” của tôi lúc bấy giờ còn nằm trong bản thảo và Chế Lan Viên cũng chưa đề tựa. Nằm ở nhà Khê vừa xen thơ Đường, vừa xem những tập “Notes” của Chế Lan Viên ghi chép những lời của các thi hào Pháp nói về Thơ Thuần Túy, vừa đọc bản thảo “Mùa Cổ Điển”, Khê bảo tôi:

-Thơ “Mùa Cổ Điển” là “con la Việt Nam” do “con ngựa Đường thi phủ con lừa Tượng trưng Pháp” mà sanh ra.

Tôi cười:

- Phải nói là “con lừa Tượng trưng Pháp phủ con ngựa Đường thi” thì đúng hơn. Vì thơ tôi nằm trong lòng Đường thi lâu ngày, còn thơ Tượng trưng Pháp chỉ “gần gũi một đôi lần ngăn ngắn”.

- Theo anh thì thơ Tượng trưng Tàu và thơ Tượng trưng Tây khác nhau ở chỗ nào?

- Người thơ Á đông để lòng mình hòa đồng cùng cảnh vật. Người thơ Âu Tây bắt cảnh vật phải biến hóa theo lòng mình. Cho nên hình ảnh trong thơ Tượng trưng của Đông phương là hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh trong thơ Tượng trưng Tây phương đều là hình ảnh do thi nhân sáng tạo hoặc biến chế. Thơ Tượng trưng Tây phương phong phú. Thơ Tượng trưng Đông phương thanh phú. Thơ Tây phương động. Thơ Đông phương tịnh. Thơ Tây phương đi sâu vào lòng người. Thơ Đông phương đi sâu vào lòng tạo vật.

Khê khen:

- Anh xem thơ chín quá

Tôi cải chính:

- Không phải chín. Tôi chỉ xem với “con mắt riêng” của tôi. Tôi biết rằng những bài thơ hay là những mảnh ốc xà cừ, mình phải tìm thưởng thức những màu sắc mà người ta chưa chỉ cho mình thấy. Đó chỉ là “hiện tượng” chớ đâu phải “chân như”.

Khê cười:

- Anh giỏi Đạo Phật không?

- Đức Thích Ca là Phật đã thành, tôi là Phật chưa thành. Như vậy Đạo Phật ở ngay trong mình chớ phải đâu ở nơi sách vở kinh kệ, mà bảo giỏi với dở.

Khê thích chí cười to:

- Sao anh lại nói “tôi” phải nói “chúng ta” chớ.

- Không phải tôi quên. Tôi nói “tôi” là vì sợ anh không chịu “thành phật” mà nhất định đòi lên “Thiên đàng” sanh ra sự níu kéo lôi thôi.

- Thiên Đàng và Niết Bàn, theo tôi là hai tên chỉ một chốn là Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa... là những con đường để đi tới chốn cực lạc và vĩnh cửu đó vậy.

- Quan niệm anh thật giống quan niệm Hàn Mặc Tử. Nhưng tôi “thấy”, Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn là ba nơi khác nhau. Anh có theo Đạo Thiên Chúa mới được lên Thiên Đàng và một khi được lên đó rồi thì ở đó hưởng ơn phước đời đời. Còn Cực Lạc và Niết Bàn ai vào cũng được, miễn người đó giác ngộ chánh pháp. Và muốn vào Niết Bàn được dễ dàng thì nên tu hành để lên Cực Lạc trước. Một khi vào Niết Bàn rồi mà tự nguyện xuống trần thế để cứu độ chúng sinh thì được toại nguyện ngay. Niết Bàn cón có Hữu Vi Niết Bàn và Vô Vi Niết Bàn. Ở Hữu Vi Niết Bàn, nếu vì một niệm mà vô minh khởi, thì bị đọa tức khắc...

Khê cười:

- Đó là lời của “Phật đã thành” nói, hay của “Phật chưa thành” nói? Nhưng thôi, Phật nào cũng là Phật...

Rồi nhìn tôi một cách hóm hỉnh:

- Cái tướng anh mà thành Phật! Tôi ngại quá! Trong Nam nghe nói có những “ông phật sống”... Muốn thành Phật thì anh đợi chết rồi sẽ thành. Chớ còn sống mà thành như cái vị trong Nam kia, thì việc ấy xin đừng vậy.

Đoạn trở lại với thơ Đường luật. Khê nói:

- Anh đã thành công với “Mùa Cổ Điển”. Tuyệt tác là bài “Đêm thu nghe quạ kêu”. Nội bài đó, anh cũng đủ sống vĩnh viễn rồi. Nhưng vì sao anh lại làm bài đó?

Tôi bèn kể cho Khê nghe nguyên nhân (3). Khê than:

- Hèn chi tôi đọc thấy một nỗi buồn lành lạnh man mác. Tôi đã đọc nhiều thơ Ta thơ Tây, tôi cũng thường gặp nhiều bài có cái buồn của “Đêm thu...”. Nhưng cái buồn trong các bài thơ kia ban đầu thì đậm, nhưng đọc vài lần nó phai dần. Trái lại nỗi buồn trong thơ anh, ban đầu nhè nhẹ song càng đọc nó lại càng thấm thía và đi sâu mãi vào tâm hồn. Tôi không hiểu “tại sao?”. Nay anh nói rõ nguyên nhân, tôi có thể kết luận: nguồn cảm xúc nằm lâu trong tâm hồn mình chừng nào thì làm rung cảm tâm hồn người lâu chừng nấy, và mình rung cảm sâu đậm chừng nào thì làm cho người rung cảm sâu đậm chừng nấy.

- Bởi vậy làm thơ trước hết phải uẩn nhưỡng tâm tư rồi mới thôi xao từ điệu.

- Vâng, trái cây để cho chín mùi rụng xuống ăn mới thật ngon. Phải để cho “trái tâm tư” thật chín, chớ đừng hái trong khi mới chín tới. TrongTinh Huyết, xin thú thật, có nhiều bài tôi “dú ép”.

- Tập Đẹp đã gần xong chưa?

- Mới được chừng mười bài. Có một ít bài Đường luật nhưng không Đường như “Mùa Cổ Điển”. Thôi thể thơ này đã có anh lo, tôi không bận tâm đến nữa.

- Hàn Mặc Tử bảo tôi là người ôm giữ gốc tre làng.

- Tôi nghĩ khác: anh là con trưởng nam phảo lo việc “nối dõi tổ tông” và “giữ gìn ruộng hương hỏa”. Chúng tôi là thứ nam phải lo gây dựng sự nghiệp mới, thỉnh thoảng trở về từ đường xem anh có lén bán ruộng ông bà để mua quà tặng cho các nàng Tho Tân thời chăng, có sánh thêm được mụn con nào mặt mũi sáng sủa chăng. Chúng tôi không nên ở nhà. Anh lại không nên bỏ nhà đi. Ai có phần nấy...                                                               *

 Một hôm, Nguyễn Tử Anh hỏi thăm Khê về cuộc tình duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, vì biết Mộng Cầm là cháu ruột Bích Khê.

Bích Khê vụt nói:

- Cái thứ đàn bà!

Tử Anh vội la lớn:

- Ấy, ấy! Đừng nói dại mà bị ăn cơm tiệm với anh Tấn đó. “Đàn bà ba thứ đàn bà” kia mà!

Khê cười:

- Tôi nói “thứ đàn bà tình nhân”, chớ ai dám nói động đến “đàn bà vợ”.

Tôi chen vào:

- Hãy nói về Mộng Cầm đi. Nói xem tình Mộng Cầm đối với Tử có đúng như Tử nhận xét chăng.

Khê nói:

- Mộng Cầm quen với Hàn Mặc Tử đã lâu. Hai bên có thơ từ qua lại với nhau từ khi Tử còn làm sở Đạc Điền ở Qui Nhơn. Nhưng mãi đến lúc Tử vào Sài Gòn làm báo mới ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Mộng Cầm có đưa Tử đến gặp tôi một lần tại trường Hồng Đức. Lúc ấy tôi xem thường Tử lắm, nên chỉ nói chuyện qua loa vậy thôi. Mà Tử đến Phan Thiết vì Mộng Cầm, nên với tôi cũng chỉ đến thăm xã giao vậy thôi.

Tôi hỏi:

- Mộng Cầm có yêu Hàn Mặc Tử thật sự chăng!

Khê nổi cáu:

- Anh hỏi Mộng Cầm chớ sao lại hỏi tôi?

- Mộng Cầm ở đâu đây mà hỏi.

Khê bật cười, đáp:

- Không yêu mà chiều thứ bảy nào, tử cũng ra Phan Thiết để cùng Mộng Cầm đi chơi với nhau cho đến chiều chúa nhật hôm sau mới vào Sài Gòn. Hai bên giao tiếp thân mật với nhau ngót hai năm trời mà nếu không yêu nhau thì chỉ có gỗ đá.

Tôi đem kể cho Khê và Anh nghe câu chuyện “Đi chơi lầu Ông Hoàng gặp mưa, ngồi đụt dưới một tấm bia ở nghĩa địa Phan Thiết” mà Tử đã kể cho tôi nghe năm 1936 (4). Tôi không quên những chi tiết “ánh lửa cứ hừng lên rồi lại tắt, tắt rồi lại hừng. Đồng thời lại nghe tiếng rền, ầm ầm như tiếng thúng sắt lăn trên đường trải đá” trong “túp lều tranh xiêu vẹo tồi tàn ở cách tấm bia Tử và Mộng Cầm ngồi chừng vài ba mươi thước”.

Bích Khê nói:

- Tôi có nghe câu chuyện hai người đi chơi Lầu Ông Hoàng bị mắc mưa vào đụt nơi nghĩa địa. Song không biết rõ chi tiết. Vốn không có tánh tò mò nên không hỏi cặn kẽ làm chi.

Tử Anh hỏi:

- Không biết ánh lửa và tiếng rên kia do đâu mà ra?

Khê đáp:

- Nghĩa đại Phan Thiết, ma có tiếng!

Tôi nói:

- Tôi không tin là ma. Chiếc lều tranh xiêu vẹo tồi tàn của Tử, tôi e không phải là “lều tranh” mà là “lều lợp tole”. Trong lúc trời bị che trăng, Tử “trông gà ra cuốc”. Và dưới nền lều chắc có vài tấm tole rơi nằm ở đó. Trời mưa chớp giăng. Những tấm tole dưới đất phản chiếu ánh chớp lạch thành những ánh lửa hừng rồi tắt, tắt rồi hừng. Và gió mạnh làm lay động những tấm tole trên mái lều thành ra những tiếng mà trong lúc sợ sệt, tử nghe như tiếng thùng sắt lăn trên đường trải đá... Ngồi nơi bãi tha ma trong đêm mưa gió, Tử in trí rằng những hiện tượng kia do ma quỉ biến hóa để làm cho mình khiếp vía chơi.

Khê và anh gật đầu:

- Cũng có lý.

 Rồi anh hỏi Khê:

- Lúc ấy anh đã thân với Tử chưa?

- Chưa. Tôi thân với Tử sau khi Tử mang bệnh ngặt nghèo. Mà tôi thân Tử vì yêu những bài thơ mới của Tử chớ không phải vì thương về bệnh. Rồi thơ và bệnh nhập lại thành một thứ keo thiêng liêng mỗi ngày mỗi gắn chặt hai tâm hồn lại với nhau.

Tôi ba lơn:

- Thấy đã có anh yêu Tử, Tử khỏi bơ vơ, nên Mộng Cầm mới giao Tử cho anh mà đi lấy chồng đó.

Khê liền nói một cách gắt gỏng:

- Con người như thế có đáng ghét không?

Tôi đáp:

- Không đáng ghét tí nào cả.

Khê trợn mắt:

- Anh cho việc Mộng Cầm đi lấy chồng là phải?

- Vâng.

Khê đứng phắt dậy, bỏ đi nơi khác. Tôi theo bỏ nhỏ:

- Sao nóng thế? Thảo luận đã nào.

- Còn thảo luận gì nữa? Anh chấp nhận những cái xấu, cái tệ của bọn phụ nữ!

Tôi cười:

- Vậy anh buộc mấy cô tình nhân của anh phải trung thành sống đời với anh ư?

Khê hơi dịu:

- Ai buộc được.

Tôi tấn công tiếp:

- Vậy nếu họ có chồng?

Khê làm thinh có vẻ suy nghĩ. Tôi ôm vai Khê dìu lại chỗ cũ:

- Anh quên chuyện “quạt mồ và vát vồ tháo sang” của Trang Chu rồi sao? Mà có lẽ anh cũng quên nốt rằng sanh mới say sưa cảnh núi, vụt bỏ núi xuống biển; mới say sưa biển đó, vụt bỏ lên chùa...

- Sao anh lại đem người sánh với cảnh?

- Anh nghĩ cảnh không bao giờ phụ người mà người còn phụ chúng như thế, huống hồ người với người đều là giống phụ phàng! Riêng về Mộng Cầm, tôi xin hỏi anh: Tử có trung thành hoàn toàn với nàng không mà bảo nàng phải hoàn toàn trung thành suốt đời với Tử?

- Ai bảo trung thành suốt đời? Chỉ nên đợi một thời gian lâu lâu một chút rồi sẽ có chồng cũng chẳng muộn gì. Sao vừa nghe Tử mặc bệnh nặng liền dứt tình như thế?

Tôi phá lên cười. Khê bực mình hỏi:

- Anh cười gì?

- Cười anh chóng quên. Bệnh Tử phát vào năm 1937. Nếu tôi không lầm thì Mồng Cầm “ở vậy” gần một năm sau mới ra đi lấy chồng kia mà! Huống hồ đã đi lấy chồng thì dù ở nán lại vài ba năm nữa rồi cũng đi. Như vậy có “ích lợi” chi cho đạo thủy chung? Mộng Cầm hành động như thế là thành thật với lòng mình và không muốn làm việc giả dối để mua tiếng tốt với đời. anh vốn thích người chân thật, sao lại bất bình một cách bất công như thế?

Khê ngồi làm thinh hồi lâu rồi bỏ vào giường nằm, vừa đi vừa nói.

- Người đời đã bạc, anh còn khuyến khích thêm!

Nguyễn Tử Anh và tôi nhìn theo Khê, mỉm cười. Rồi Anh bảo tôi:

- Chắc Mộng Cầm không thiết tha yêu Tử nên mới có thể đi lấy chồng một cách dễ dàng.

- Tôi đã từng đọc thư Mộng Cầm gởi cho tử. Nếu anh được xem bức thư nàng gởi cho Tử năm 1936 lúc anh Mộng Châu bị nạn mất ở Phú Yên, chỉ xem một bức ấy thôi, thì anh cũng có thể đo được mức thiết tha của tình yêu đôi bên... Mộng Châu là anh ruột Tử và Mộng Cầm tỏ ý muốn... Thôi nàng đã có chồng rồi, nhắc lại không hay ho gì... Xin cho qua... Có yêu cũng được, không yêu cũng được, yêu tha thiết cũng được, yêu không tha thiết cũng được, miễn có cái đinh là MỘng Cầm để treo những bức tranh tình của Tử cho thế gian xem là được rồi.                                                                  *

Một hôm chúa nhật, cụ Trần Khắc Thành, Nguyễn Tử Anh và tôi đưa Bích Khê ra chơi Hòn Chồng.

Hòn Chồng là một cụm đá to lớn nằm nơi mé biển Cù Lao, cách Nha Trang chừng ba bốn cây số. Đó là một thắng cảnh của tỉnh Khánh Hòa.

Khắng khít thớt em nương thớt chị,

Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông.

Sóng xô đẩy mãi bền gan sắt,

Rêu buộc ràng thêm chặt giải đồng.

Đương nằm tựa đá nhìn nước nhìn trời cụ Thuần Phu, trần Khắc Thành ngồi dậy nói một cách thích khoái:

- Năm ngoái năm kia, bọn mình thường hưởng cảnh biển rộng trời cao ở Hòn Chồng. Nay có khác xưa một điểm là ông Bích Khê thế bà Liên Tâm. Cái thú của ông Tử Anh và của tôi không khác, chớ ông Tấn chắc khác?

Nói rồi cười ha hả.

Bích Khê liền chổi dậy vỗ vào đùi tôi:

- Đã định vô đây xem cho thấy mặt, thế mà hổm nay quên lửng! Sao không giới thiệu?

- Nguyễn Tử Anh cười:

- Còn đâu nữa mà giới thiệu!

Cụ Thuần Phu nhịp vế ngâm bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Bích Khê nhìn tôi. Lòng tôi bị kích thích.

Liên  Tâm là người Hương Bình, văn thái phong lưu, quen thân với tôi tại Nha Trang từ năm 1938. Sau vì hoàn cảnh bắt buộc phải ra Hà Nội, để lại một tập thơ nhan là “Sợi Tơ Lòng”.

Trong “Sợi Tơ Lòng” có một bài được Tản Đà và Hàn Mặc Tử tán thưởng là bài SỢI TƠ MÀNH:

Thành xa mấy bận trống sang canh,

Thổn thức mình riêng cảm nỗi mình.

Cao cả chưa đền ơn chín chữ,

Nặng nề thêm ngán nợ ba sinh.

Chòm hoa dưới nguyệt so le bóng,

Tiếng hát bên sông bận bịu tình.

Nhện báo tin gì sa trước mặt,

Gió đưa lăng líu sợi tơ mành!

Chế Lan Viên khen những câu:

Tỉnh mộng nằm ôn tràng mộng cũ,

Mong thơ lần giở xấp thơ xưa.

                                      (Nhắn ai)

Nhớ chập chồng non mây sớm tối

Tình lai láng biển nước đầy vơi

(Lại nhắn ai)

          Là “những câu thơ hay trong những câu thơ hay của Việt Nam từ xưa để lại”.

Tôi có trích một số bài gởi ra cho Bích Khê. Bích Khê liền gởi vào một bài đề là:

GỞI LIÊN TÂM NHỜ QUÁCH TẤN TRAO LẠI       

Canh sương tiếng hát vẳng kia sông,

Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng.

Thưa chị đêm nay dường nhớ quá!

Đưa thư hồng nhạn biết mang không?

Một nhành mai trắng long lanh ngọc,

Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông (5)

Muốn thấy người xa trong giấc mộng,

Khuya lơ còn tựa ở bên song.

Nghe nói Liên Tâm không còn ở Nha Trang nữa, Bích Khê liền hỏi tôi:

- Vậy 5 vần thơ của tôi “hồng nhạn”có mang đến cho nàng không?

- Có, vì lúc ấy “đường mây chưa có sấm sét”.

Đoán biết ý Khê muốn rõ tại sao Liên Tâm lại “thừa hoàng hạc”, Tử Anh đọc mấy câu trong Sợi Tơ Lòng:

Từ đây thân gái chữ tòng,

Ra đi ôm một tấm lòng anh theo.

Rồi nói:

- Ba chữ “một tấm lòng” viết hoa cũng được không viết hoa cũng được. Thật tình mà cũng thật khéo! Dường như tập Một Tấm Lòng của anh Tấn ra đời, số Thiên đình đã định, để làm quà tiễn biệt Liên Tâm!

Bích Khê thở dài:

- Cũng là theo chồng!

Cụ Thuần Phu cười hả hả:

- Chồng người ta không theo, bảo theo ai bây giờ? Theo Trường Xuyên nhà ta à? Đâu được!

Đoạn cất tiếng ngâm to:

Long trì liên!

Long trì liên!

Dệt gấm đã vương tơ Chức Nữ,

Vẽ mày còn mượn bút Trường Xuyên.

Lòng tài tử,

Ý thuyền quyên

Vì đồng bịnh,

Hóa tương liên.

Đa tình gần với Phật,

Không tục ấy là tiên.

Nỗi niềm ai biết, không ai biết,

Mây nước Cù Giang, Phạm Lãi thuyền.

Về nhà Khê đòi xem trọn tập “Sợi Tơ Lòng”. Tôi trao tập thơ cho Khê và nói:

- Đây là kết quả cuộc gặp gỡ của chúng tôi.

Xem xong, Khê giao lại:

- Nó mang khí huyết anh nhiều! Cốt cách của cha, tánh tình của mẹ. có nó một bên, thì nghìn dặm vẫn là tấc gang vậy.

                                                          ***

          Đọc xong “Sợi Tơ Lòng”, Bích Khê đòi xem tác phẩm của Yến Lan. Tôi trao tập “Bến My Lăng” do tác giả chép với bài tựa của Chế Lan Viên. Khê nói:

- Hàn Mặc Tử thường nói chuyện Chế Lan Viên cùng tôi, thêm nữa tôi đã đọc Điêu Tàn, nên biết rõ Chế. Còn Yến Lan thì tôi nghe tên.

Tôi đáp:

-  Yến Lan và Chế Lan Viên đều ở tại thành Bình Định, Chế Lan Viên ở trong thành, tại Cửa Đông. Yến Lan ở ngoài thành, tại Chùa Ông, cách Cửa Đông chừng năm ba trăm thước. Hai bên thương yêu nhau như anh em. Cho nên đã biết Chế Lan Viên thì coi như cũng đã biết Yến Lan rồi vậy.

- Tôi biết Chế Lan Viên yêu tôi lắm. Vậy Yến Lan có yêu tôi chăng?

- Cũng như Chế Lan Viên. Nhưng tình Viên nồng nàn, bộc lộ, tình của Lan đằm thắm, lặng lẽ.

- Yến Lan phê bình tôi như thế nào?

- ý kiến của Lan cũng giống phần đông các bạn quen biết, trong đó có Viên và tôi là: “Bích Khê là con người động, là một cuộc đời luôn luôn đổi mới”.

- Thế thì đối với các anh, tôi chưa thành “cái quái” gì cả?

Tôi cười:

- Trừ Hàn Mặc tử đã được định luận, ai là người đã “được cái quái gì” rồi?

Khê làm thinh, ngồi lật xem “Bến My Lăng”.

Xem xong nói:

- Không đậm, cũng không sâu. Chỉ được cái man mác, cái mờ mờ, làm cho hồn người đọc hơi say say thế thôi. Không có gì đáng sợ.

 Tôi lấy đưa cho Khê một số thơ của Lan mới làm:

- Đó là Yến Lan trước kia. Yến Lan bây giờ khác hẳn. Đừng khinh thường. Hãy đọc đi...

Khê đem vào giường nằm đọc.

Tôi đương lui cui sửa mấy chậu hường ở trước sân bỗng nghe Khê gọi inh ỏi. Tôi vào thấy Khê đã ngồi dậy, vẻ mặt hoan hỷ, hối tôi:

- Anh hãy ngâm cho tôi nghe bài này. Tôi ngâm không nên dáng nên hình tức quá!

Tôi nhìn Khê mỉm cười. Khê giục:

- Ngồi xuống đây, rồi ngâm to lên. Mau, tôi đương hứng!

Tôi bật cười, ngồi xuống cạnh Khê:

- Sao hứng bất tử thế?

Khê trao cho tôi bài thơ. Thì ra bài BÌNH ĐỊNH:

Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,

Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền.

Tịch dương liễu không biết mình đương biếc

Tương tư trời tương tư, nhạc triền miên...

 

Mây nổi đó nhưng hồn chừng viễn xứ,

Nguyệt cô liêu trắng mộng hồ xa nao?

Xe lỗi hẹn với người trong lữ thứ,

Trường hận thuyền muôn dặm cũng hư hao.

 

Ôi Bình Định hương phong trường cách biệt,

Nhúng bâng khuâng trong đức hạnh sương hoa.

Nhà nhẩn ngơ, những tường vôi keo kiết,

Nam quách sầu, Đông phố quạnh, tây môn xa...

 

Cây lặng lẽ vui làm bầy hải đảo,

Thuyền bồ câu nghiêng buồm trắng trôi ven.

Tam triêu mộ nổi trên dòng nước Đạo,

Rượu ân tình Bình Định xứ lên men.

 

Ôi Bình Định tự thành cao trao gởi

Buồn xế tà qua mấy cửa song xanh;

Nơi đã đọng những vũng đàn lạnh đợi

Của trăng gầy, gió lụy xuống mong manh...

Khê ngồi tựa vào mình tôi, cất tiếng khẽ khẽ ngâm theo. Đến đoạn thứ 5 này cao hứng, vỗ tay vào đùi tôi khen:

- Tuyệt!

Rồi hối:

- Ngâm tiếp.

Nhà thiêm thiếp khổ trong quầng nắng nhạt

Nhớ thương từ vườn chuối nuối vương dưa

Giấc trang tử đêm vầy theo hội hát,

Cuối đôi làng xanh xám dệt tơ mưa.

Khê chép miệng:

- Ý thông thường mà biến thành tứ rất mới. Đoạn thứ tư thứ năm biến những cảnh tầm thường trước mắt thành những cảnh tinh diệu của Thơ. Đoạn thứ sáu nầy, tác giả đã trở thành ông phù thủy gọi hồn người đã chết về với xóm làng xưa!

Ngâm tiếp:

Đây tôi sống trong xanh nghiêm thành thất;

Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.

Lan can đổ xuống lần từng bậc bậc,

Lòng cuộn dần bậc bậc khói hương xây

 

Hồn tôi loảng trên bệ vàng thếp chảy,

Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân.

Tám phương bạn chợp hàng mi mộng thấy

Thái bình trang vàng rộn lá thu phân.

 

Kiếp tòng bá có xanh vì xứ sở,

Chớ quăng mình thêm nức nở hồn tôi.

Không được sống xin cho cùng được thở

Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi.

Khê vỗ đùi:

- Thật là giàu sang!

Tôi thêm:

- Nội tâm của tác giả đã giàu sang mà ngoại cảnh của nơi tác giả sống cũng thật sự giàu sang. Hai ông bạn thành Bình Định, trưa nắng nực thường vào ngủ trong Hành Cung có bệ vàng, có giao lân, buổi mai buổi chiều thường lên lầu Cửa Đông có lan can xuống từng bậc bậc... Ai đã từng sống tại thành Bình Định, thì thấy rõ những cảnh trong Thơ của Yến Lan đều alf những cảnh có thực nơi thực tại khách quan. Tác giả đã thổi hồn mình vào cảnh vật và biến thành Thơ với nhịp rung cảm của lòng.

- Thật hay! Hãy ngâm tiếp.

Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc

Em nằm thương xanh biếc của trời buồn!

Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt!

Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.

 

Hoa tư tưởng phân thân chiều gió trải,

 Trời Giang Nam hồ hải nói trong tâm.

Ôi Bình Định ngươi nằm trong mãi mãi

Đĩa dầu vơi tim cháy ngọn âm âm.

Nghe trọn bài, Khê ngả mình xuống ngối, lom dim đôi mắt:

- Thật hay! Nhiều tứ mới lạ, nhưng vẫn giữ được phong cách Á Đông. Không ngờ Yến Lan tài đến thế.

Rồi ngồi nhỏm dậy:

- Tôi phải gặp anh chàng mới được.

Lại nói tiếp:

- Người Á Đông ăn những món ăn nấu theo kiểu Âu Tây dù ngon đến đâu rồi cũng chán. Rốt cuộc rồi cũng phải trở về cùng mùi vị Á Đông. Chung quanh anh bao trùm bầu không khí Á Đông, tài gì anh chẳng giữ được cốt cách Đường thi. Vào đây tôi thấy thoải mái quá!

Tánh Bích Khê rất bất thường, nhưng lòng rất chân thật, không bao giờ khách sáo, cũng không bao giờ dùng lời nói đầu lưỡi để làm vui lòng bất kỳ ai. Tánh lại hay giận hay gắt. Nhưng trong lúc giận lúc gắt đều có những cái dễ thương đi kèm, nên “đối phương” chịu đựng không đến nỗi khó.

Bích Khê định ở chơi cùng tôi lâu, một là để nhờ Lê Văn tân chữa bệnh, hai là đợi Yến Lan ở Hà Tiên về. Nhưng một hôm nói chuyện về Hàn Mặc Tử, Khê hỏi tôi:

- Anh đến thăm Tử, anh có sợ lây chăng?

- Cũng có phần sợ, nhưng không bao giờ tỏ ý dè dặt.

- Như vậy chắc không khi nào anh bắt tay Tử?

- Không bao giờ Tử đưa tay cho ai bắt cả. tử lại để riêng một chiếc ghế đẩu ở nhà ngoài, có khách đến chơi lâu, tử sai người nhà nhắc vào tiếp. Tánh tử rất thận trọng.

- Đúng thế. Nhưng tôi phá lệ. Khi ở Phan Thiết tôi ra thăm Tử mấy lần. Năm 1949, ở Thu Xà tôi vào thăm một lần trước khi tử đi Qui Hòa. Lần nào tôi cũng ngồi cạnh tử và lúc về cũng như lúc đến, tôi buộc tử phải đưa tay tôi bắt. Để an ủi tử mình phải tỏ cho tử biết rằng mình yêu tử triệt để.

- Anh không sợ lây ư?

- Đã thương yêu nhau mà còn sợ lây à?

- Thương yêu là một việc, sợ lây là một việc. và yên bạn sao bằng yêu mình?

Câu nói thật sống sượng! Nhưng trót ra khỏi miệng, bốn ngựa không còn theo kịp nữa rồi! Khê “hừ” một tiếng:

- Té ra lòng thương yêu bè bạn của anh có chừng mực!

Tôi hối hận và ngượng ngùng chữa lỗi:

- Anh nghĩ: bạn đã mang bệnh rồi, rủi mình lại mang bệnh nữa, thì có lợi gì cho tình thương yêu nhau? Bạn đã muốn giữ sức khỏe cho mình, thì mình cũng cố giữ lấy để có thể lo cho bạn bớt đau khổ phần nào chẳng hơn sao?

Khê nhún vai, bỏ đi nằm.

Đêm hôm ấy Khê đi ngủ sớm và sáng hôm sau dậy sớm, bảo tôi:

- Tôi cần phải ra Ninh Hòa thăm người bà con ít hôm.

Tôi biết Khê hờn tôi. Tôi tìm đủ cách để cầm chân. Khê có ý gắt:

- Tôi ra đó nhiều lắm là hai hôm rồi trở vào. Chuyện chi mà sợ dữ vậy?

Tôi đành phải để cho Khê đi.

Khê đi buổi sáng thì buổi chiều Yến Lan ở Hà Tiên ra. Tôi vẫn có ít nhiều hy vọng rằng Khê không nỡ giận mình mà bỏ ra về như thế. Nhưng hai hôm sau, tôi được thư Khê ở Ninh Hòa gởi vào cho biết rằng vì có việc cần nên phải về nhà gấp! Tôi rất buồn! Nhưng rồi Yến Lan gởi thư cho Khê, Khê phúc đáp vui vẻ. Trong thư không quên tôi. Sau đó tôi lại thường được thư Khê với lời lẽ vẫn thiết tha như trước.

Tôi mừng. 

***

Từ 1941 trở về sau, Yến Lan và Chế Lan Viên thường ở Nha Trang. Những thư và thơ Bích Khê gởi vào Nha Trang đều gởi chung cho Lan, Viên và tôi. Nếu không có Viên, Lan ở Nha Trang thì tôi phải chuyển đến trú chỉ sau khi xem xong.

Trong năm 1941, Khê sáng tác được nhiều giai vận xuất sắc hơn cả bài “Xuân tượng trưng”.

Lúc này Hoài Thanh đương sưu tập tài liệu đặng viết quyển “Thi nhân Việt Nam”. Hoài Thanh có xin thơ và ảnh của Khê, Khê không cho ảnh, mà chỉ cho ba bài thơ chưa hành thế là “Duy tân”, “Nấm mộ Bích Khê” và “Giờ trút linh hồn”. Nhưng sau khi “Xuân Tượng trưng” ra đời và được Chế Lan Viên tán thưởng, thì Khê viết thư ra cho Hoài Thanh, yêu cầu nếu có in vào sách thì nên in bài nầy, vì là bài Khê thích nhất.

Mùa hạ năm 1942, Chế Lan Viên và Yến Lan ở Bình Định vừa đến Nha Trang, thì Trọng Miên và họa sĩ Phạm Tú (người đã vẽ bìa tập thơ Hàn Mặc Tử) ở Hà Nội vào Sài Gòn cũng ghé lại. Thật là “thiên tải nhất thì”. Bốn ông bạn và chủ nhà hợp thành “ngũ quỉ”. Không có “nhà chay” để phá, ngũ quỉ chiều chiều đem nhau xuống biển, và ngày chúa nhật dắt nhau ra Hòn Chồng, ngâm thơ Hàn Mặc Tử và nói chuyện bá nhăng. Nhớ đến Bích Khê, tôi viết thư và đánh điện tín ra Thu Xà mời khê vào để “thành lập đảng Lục Tặc”.

Chờ ngót một tuần nhật, không thấy Khê vào mà cũng không có thơ từ chi cả, anh em lần lượt từ giã Nha Trang. Trọng Miên và Phạm Tú vào Sài Gòn, Chế Lan Viên, Yến Lan về Bình Định.

Mấy tháng sau, tôi tiếp được thư Khê từ Huế gởi vào tin cho biết rằng bệnh phổi trở lại nặng, phải ra điều trị tại viện bài lao Pasquier. Mặc dù đã biết trước thế nào rồi cũng đi đến tình trạng đau đớn ấy,mà khi nhận được tin Khê, lòng tôi cũng không nén được đau thương! Bạn thân không mấy lăm người, mà đã hai người mắc phải chứng nan y! lại mắc phải hai chứng nặng nhất trong bốn chứng!!!

Tuy bệnh nặng, Khê vẫn làm thơ và viết thơ cho bạn.

Tằm xuân đến chết tơ còn vướng,

Đèn sáp thành tro lệ chữa khô! (6)

Thơ Khê sáng tác trong năm 1942 thường thường là những bài thư ngắn và ngậm chứa hương vị Á Đông. Được thưởng thức nhất là bài “Tiếng đàn mưa” làm theo thể song thất lục bát. (7)

Sau tám tháng điều trị, Khể trở về Thu Xà rồi ra nhà anh Lạc Nhân ở Bảo An Đông, tỉnh Quảng Nam, tịnh dưỡng.

Nhân có giáo sư Nguyễn Đình ở Nha Trang về thăm nhà ở Bảo An, Chế Lan Viên cùng đi Quảng Nam tìm thăm Khê. Vui mừng không xiết tả! Trong mấy hôm gần nhau, tình khăng khít như đôi tình nhân! Rồi chia tay, Khê khóc:

- Bao giờ gặp lại nhau? Có gặp nhau nữa không?

Về Nha Trang, Viên khóc cùng bạn:

- Anh Tử mang bệnh ngặt nghèo mà chết! Bệnh Khê cũng ngặt nghèo không kém bệnh Tử! Bọn mình lại toàn lũ nghèo túng, thương nhau chỉ biết lấy lòng tặng cho nhau!

Nhưng cũng có phần an ủi là Khê vẫn sáng tác được nhiều thơ hay.

Năm 1941 Khê soạn bài Ngũ Hành Sơn. Năm 1943 cao hứng soạn thêm một bài nữa, và sửa lại bài trước, đặt tên là bài “Tiền” để gọi bài sau là bài “Hậu”. Khê bảo rằng long bình sinh đã gởi hết trong hai bài, không làm thơ nữa cũng được. quả thật là hai bài thơ kỳ thú! Cùng với “Duy Tân”, “Xuân tượng trưng”, “Hàn Mặc Tử”, “Tiếng Đàn mưa”, “Nam Hành” làm “Đại hùng tinh” cho tập Tinh Hoa vậy.

Để cho Khê tin tưởng ở sự bất hủ của thơ mình, để Khê chắc chắc rằng thân dù yểu nhưng danh vẫn thọ, Chế Lan Viên định sẽ viết một bài biểu dương những cái hay cái đẹp trong thơ Khê và trong hồn Khê.

Tâm hồn Khê là một khối thủy tinh đa lăng, phản chiếu vào thơ, bảy sắc cầu vồng ở bao nhiêu mặt, trong bao nhiêu lúc. Phải có đôi mắt bao la như Hàn Mặc Tử, tế nhị và sâu sắc như Chế Lan Viên mới có thể nhận thức đầy đủ. Tinh Hoa không thể xuất bản được. Bạn bè tản mác mỗi người mỗi nơi, ý định của Chế Lan Viên cũng không thực hiện được!

Kế chiến tranh Việt Pháp bùng nổ!

Rồi Bích Khê qua đời:

Phạm Tú mất trước Bích Khê. Các bạn còn sống Chế Lan Viên, Yến Lan, Trọng Miên, vì đường giao thông bị lủng đoạn, không đến đưa đám Khê được. Còn tôi tản cư trong nơi hẻo lánh, mãi nửa năm sau mới được tin buồn! Bồi hồi, ảo não, tôi soạn 5 vần ngũ ngôn khóc Khê:

Ngắm vọi trời Thiên Ấn;

Cố nhơn ơi! Cố nhơn!

Bóng theo Hàn Mặc Tử,

Tâm gởi Ngũ Hành Sơn.

Danh vọng đài mây vút,

Anh ba biển sóng dờn.

Đã hay nghìn tuổi thọ,

Thương nhớ lụy đôi cơn.

Năm 1959, nhân Bộ Quốc Gia Giáo dục mời vào Sài Gòn nói chuyện về Hàn Mặc Tử (nói chuyện lại Hội trường Quốc Gia Âm nhạc ngày 15/11/1959) tôi gặp chị Ngọc Sương và ngỏ ý muốn viết về Bích Khê. Chị Sương cung cấp cho tôi một số tài liệu và cho mượn những xấp bản cảo chép tay mà chị còn giữ được.

Mùa xuân năm 1960, tôi bắt đầu viết. Vì cỉ có thể ngồi lâu trong những ngày chủ nhật, nên mãi đến đầu mùa hạ tôi mới viết xong có hai chương “Những quãng đời” và “những cuộc tình duyên” của Bích Khê.

Rồi cụt hứng!

Mãi đến mùa hạ năm nay, trong khi ngoài trời chộn rộn về việc ứng cử bầu cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống và Thượng nghị Viện, tôi đóng cửa tiếp tục viết về Bích Khê. Viết thêm hai chương nữa: “Đời Thơ” và “Chút tình riêng”.

Và hoàn tất lúc đúng ngọ ngày 27 tháng 5 năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 7 năm 1967 tại Nha Trang, nơi nhà – dù xưa kia đã cùng Bích Khê nằm nghỉ mát.

 

Nguồn:

Quách Tấn: Đời Bích Khê, Nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1971.

 

Các bài khác:
· ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI BÍCH KHÊ
· THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ
· NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG
· NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - MỘT VƯỜN THƠ, MỘT ĐỜI NGƯỜI
· HOÀNG DIỆP TÁI HIỆN VỤ KIỆN THƠ HÀN MẶC TỬ
· ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI BÍCH KHÊ
· THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ
· NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG
· NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
· PHIÊN HỌP THỨ NHẤT HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN TỔNG TẬP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ

 

  
Gia đình Bích Khê