BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (2)

3/ Như đã nêu ở nhan đề bài này, tập thơ Tinh huyết (in xong lần đầu vào tháng 12/1939 tại Hà Nội, sau đó được phát hành rộng rãi) có thể được xem như điểm đánh dấu hai giai đoạn phát triển của phong trào thơ mới 1932-1945. Một số cây bút ở Hà Nội từng tham gia phong trào thơ mới như Vũ Hoàng Địch, Đông Hoài… đã nói cho tôi biết nhận xét này của họ, và từ việc xem xét cứ liệu cụ thể, tôi cũng đi tới nhận định như vậy.

Nếu mô tả thật khái quát tiến trình thơ mới, có thể tóm gọn nó trong hai giai đoạn: giai đoạn đầu với vai trò chủ đạo của những nhà thơ mới của (hoặc gắn với) nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… mà nét nổi bật chung về khuynh hướng nghệ thuật là thơ trữ tình lãng mạn duy lý; giai đoạn sau với uy tín của Hàn Mặc Tử, Bích Khê… và “trường thơ loạn” của họ mà dấu ấn rõ rệt về khuynh hướng sáng tác là sự xuất hiện những đặc điểm tiền hiện đại chủ nghĩa hoặc hiện đại chủ nghĩa như tượng trưng, siêu thực, suy đồi, tiền phong (tất nhiên ở giai đoạn sau còn có khuynh hướng trở về với nguồn thơ phương Đông, nhưng ở một vài hiện tượng tiêu biểu của khuynh hướng này như Xuân Thu Nhã Tập, người ta vẫn thấy những nét của tinh thần tiền phong, tức là tinh thần hiện đại chủ nghĩa).
Cần phải nói thêm rằng, sớm hơn Bích Khê vài ba năm, vào năm 1936, người sẽ là đại diện số một của “trường thơ loạn” là Hàn Mặc Tử đã công bố tập thơ Gái quê, nhưng tập thơ này vẫn chưa cho thấy tác giả của nó đã đi sang phạm vi tượng trưng, siêu thực; vào năm 1937, một đại diện khác, cũng đích thực của “trường thơ loạn” là Chế Lan Viên, đã trình làng tập thơ Điêu tàn (cũng in tại Hà Nội)mà bài tự đề tựa chính là tuyên ngôn của “trường thơ loạn”. Nhưng Điêu tàn ra mắt chỉ khiến làng thơ đương thời ở đất Bắc thấy “như một niềm kinh dị”(đây là mượn lời diễn tả của Hoài Thanh) chứ chưa tìm được tri âm tri kỷ. Là vì khi ấy làng thơ đất Bắc vẫn còn đang tiếp tục dành nhiều ngưỡng mộ cho các thi gia xuất hiện trên các cơ quan của nhóm Tự Lực (các tờ Phong hoá, Ngày nay). Tập Thơ thơ của Xuân Diệu in thành sách năm 1938, tập Lửa thiêng in thành sách năm 1940 nhưng khá nhiều bài trong các tập này đã đến với người đọc từ dăm ba năm trước đó, chủ yếu cũng trên các ấn phẩm của nhóm Tự Lực. Sang thập niên 1940, hoạt động văn nghệ của nhóm Tự Lực sút kém rõ rệt; kiểu thơ của các thi gia gắn với Tự Lực cũng kém dần sức hấp dẫn trong con mắt những người cầm bút trẻ. Đến lúc này, người ta lưu ý nhiều hơn đến những tìm tòi kiểu khác cho thơ tiếng Việt. Tập Tinh huyết vì vậy là một trong những ví dụ hiếm hoi đáp ứng tâm thế ấy của giới sáng tác trẻ đất Bắc.
Có thể tìm thấy ảnh hưởng của “trường thơ loạn” trong sáng tác của một loạt cây bút thơ ở Hà Nội những năm 1940-46 như Hoàng Lộc (Từ tịch dương đến bình minh), Đông Hoài (Giác linh hương), Đinh Hùng (Mê hồn ca) và nhóm Dạ đài (Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch… ). Trừ Từ tịch dương đến bình minh của Hoàng Lộc hiện chưa tìm lại được văn bản nên về xu hướng của nó buộc phải dựa vào nhận định của các nhân chứng (dựa vào Vũ Hoàng Địch, Đông Hoài); ngoài ra các trường hợp khác đều có văn bản tác phẩm để xem xét.
Nhìn chung, trong sáng tác, các cây bút này đều xem trọng những gì như bất giác đến từ trực giác, từ vô thức; họ thích thác lời những linh hồn của thế giới bên kia hoặc thích chuyện trò với chúng; ý niệm thực tại ở họ như gồm cả cõi sống lẫn cõi chết và cái được nói đến nhiều hơn lại là cõi chết; ở sáng tác của họ đôi khi cũng thấy cảm hứng đập phá của phái tiền phong; họ cũng chú trọng sáng tạo nhạc tính của ngôn từ thơ ca.
Đông Hoài phác vẽ một thứ Ngẫu tượng siêu luân:
Sặc sụa hương nào thơm xác ma
Lòng đi âm phủ bước dương tà
Đầu lâu ghé miệng hôn yêu dấu
Cổ mộ hoa lầu quỷ hát ca
Trần Mai Châu ở bài Theo bóng tử thần trở lại một đêm tàn sát nào đó từ cổ đại trung đại:
Trăng ơi! trở lại đêm tàn sát
Này ánh tà dương khóc bạo Tần
Em có buồn không, giờ tử nạn
Ta cười ghi lại nét phù vân
Nửa đêm sao biếc về trong mộ
Mừng cuộc hồi sinh hiện giữa trần
Trong bài Về nẻo thanh tuyền, Trần Dần thác lời hồn ma một kẻ từng có uy quyền trên thế gian nay đã mất hình hài nằm dưới thuỷ cung vẫn đe doạ đòi lại những gì đã mất:
…Hồn ta mất mảnh thi hài
  Về trên thế tục ta đòi cố đô
…Tiếng ta than động trăng mờ
  Từng đêm ta gọi lá cờ Nữ Vương
…………
Nếu mấy sáng tác lẻ tẻ của Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn Văn Tậu in trong Dạ đài số 1 chưa thể minh chứng đáng kể cho những điều họ nói trong Bản tuyên ngôn tượng trưng (cũng in trong Dạ đài số 1), thì tinh thần của bản tuyên ngôn ấy lại được bộc lộ rõ hơn trong tập Mê hồn ca của Đinh Hùng. Tập thơ này mãi đến 1954 mới in thành sách, nhưng hiển nhiên đây là thơ của thời kỳ 1944-46 mà một số bài đã đăng tải ngay những năm ấy (ví dụ bài đăng ở Dạ đài số 1).
Như tên gọi của nó, đây là những khúc “mê hồn”, “lạc hồn”, những bài ca của một linh hồn chu du dấn bước vào những miền lạ, hoặc thử làm lạ miền đất quen, chẳng hạn thử vào vai “người rừng”, bước về “đô thị” để thấy “Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản / Mất tinh thần từ những thưở xa xôi”, để thấy mình bị xa lánh và trở nên xa lạ, rốt cuộc ra tay tàn phá đình tạ thành quách rồi trở lại núi rừng, trở lại cuộc sống hoang dã: “Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ / Ta nằm trên cỏ lắng tai nghe… / Thèm ăn một chút hoa hoang dại / Rồi ngủ như loài muông thú kia”. Dĩ nhiên linh hồn ấy cũng dấn bước vào tình yêu, vào thế giới những “kỳ nữ”, những “người gái thiên nhiên”… Nhưng đáng nói hơn là linh hồn ấy hướng về trò chuyện với người gái dưới mộ, dõi tìm bóng dáng tử thần… Linh hồn ấy như thuộc về cả cõi sống lẫn cõi chết, thuộc về cả hiện tại lẫn các thời đại xa xưa… “Ai tìm ta đó trong đêm loạn? / Có gặp Thơ về, Nhạc hiển linh?/ Ta gọi thiên tai, cười mệnh số”…
Trong những lời ca lạc hồn ấy đôi khi vang lên những lời như toan nói tiên tri: “Thế kỷ thanh bình nức nở qua / Ta nhìn nhau khóc tuổi trăng già…”, hoặc: “Thời đại Hoàng Kim đã phục hồi / Ta mừng Bạo Chúa sắp lên ngôi / Tìm thơ vương giả, xuân lưu huyết…” Thế giới mê hồn là cõi trời loạn, là cõi hỗn độn, là nơi tử sinh chuyển hoá: “Bừng mắt dậy, lửa hồi sinh đỏ rực / Thịt xương về trong cổ mộ xôn xao / Hoả thiêu rồi! Làn tử khí lên cao / Chiều tái tạo bâng khuâng từng ngọn cỏ…”. Những đổ vỡ mà linh hồn này cảm thấy ở đây là những đổ vỡ vũ trụ: “Trời lâm nạn, thôi! hành tinh tan vỡ!/ …/ Chúng ta khóc như một bầy thú dữ / Lòng dã man nghe trái đất tan tành”.
Mặc dầu cũng hướng tới một thế giới siêu thực tại như tác giả Tinh huyết, nhưng ở Đinh Hùng và các thi gia Hà Nội kể trên, cõi siêu thực tại dường như vẫn bị viền khung bởi ý thức duy lý của những cái tôi tác giả. Có vẻ như cái tiếng Việt xứ Bắc quá sáng rõ, cái câu thơ lục bát, câu thơ bảy chữ hoặc tám chữ quá đều đặn đã phản lại tâm thế điên rồ của họ, phản lại bước chân mê cuồng của họ. Thi nhân như là vẫn luôn ở bờ bên này tuy biết có bờ cõi siêu thực tại bên kia; họ hầu như chưa mấy khi nhập hồn mình được hoàn toàn sang đó như Hàn Mặc Tử đã làm được thường xuyên trong Thơ điên (Đau thương), Chơi giữa mùa trăng, Bích Khê đã làm được khá thường xuyên trong Tinh huyết, Chế Lan Viên đã làm được ít nhiều trong Điêu tàn.
Dầu sao những hiện tượng trên đây ở giới làm thơ ngoài Bắc đầu những năm 1940 vẫn cho thấy những tìm tòi của “trường thơ loạn” miền Trung giữa những năm 1930 là bước đi hữu lý trên hướng cập nhật hoá những tìm tòi của thi ca thế giới đương đại vào thi ca tiếng Việt. Họ không trực tiếp chịu ảnh hưởng cụ thể của một ai đó trong “trường thơ loạn”; đơn giản là họ thấy ở những Tinh huyết, Điêu tàn, Đau thương (Thơ điên)… một hướng sáng tác khả thi, hứa hẹn đem lại cái mới vào thơ tiếng Việt. Một số kết quả sáng tác quá ít ỏi của họ trong thời gian quá ngắn ngủi, chưa in thành dấu vết đáng kể vào thành tựu phát triển của thơ ca tiếng Việt. Tuy vậy, thể nghiệm sáng tạo của họ cũng như của các tác gia “trường thơ loạn” cho thấy đây là một hướng có thể trông cậy được nhằm đưa thơ tiếng Việt vượt qua thời đại những mẫu mực của thơ mới lãng mạn duy lý.  
Hà Nội, tháng 1/2005
 

Các bài khác:
· ĐI VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ: 'THUẦN TÚY VÀ TƯỢNG TRƯNG'
· CHÍNH THƠ ĐÃ GIẾT BÍCH KHÊ
· ĐIỀU ĐÁNG NÓI Ở ĐÂY, LÀ CÙNG Ở TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN...
· NHỮNG CÂU THƠ ĐÓ NHƯ LÀ CHÌA KHÓA MỞ VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ...
· MỘT CÕI THƠ GẮN SỐ PHẬN VỚI NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA THƠ MỚI
· BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - 'THI SĨ THẦN LINH', THƠ 'LÕA THỂ'

 

  
Gia đình Bích Khê