BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG TRONG THI CA VIỆT NAM 1932-1962

Minh Huy

(trích)

 Chương I. Hai nhà thơ lý thuyết: Hàn Mặc Tử và Bích Khê                                                                                

          Năm 1939, đề tựa tập thơ tượng trưng đầu tiên trong thi ca Việt Nam, tập “Tinh Huyết” của Bích Khê, Hàn Mặc Tử viết: “Với những cảnh trí, sự vật rất tầm thường, hơn nữa, tội lỗi nhuốc nhơ, rùng rợn, mà thi nhân trái lại thấy ở những chỗ ấy là cao siêu, là nhân đức, là thơm tho, khoái lạc...

Thí dụ cái sọ người. Ta không kịp rùng rợn với mảnh óc trắng trợn, với hàm răng trắng như tinh, thì thi sĩ đã vội bảo ta đấy là bình vàng, chén ngọc, chứa bao chất ngào ngạt, say dại, uống đến ngất người đi cả tủy thơm, cả não mát... Cái sọ người không còn là cái sọ người nữa. Mất hết cả sự ghê rợn của sự chết, sự hãi hùng tàn phá của thời gian đối với sự vật. Để còn lại hình ảnh của “khối mộng”, của “buồng xuân”, của “hồ nguyệt”. Trước kia thối tha nhơ nhớp bao nhiêu, thì bây giờ lại thơm tho, sạch sẽ, đến muốn cắn vào hàm răng trắng dẽ, đến muốn rút hết chất gì ngon ngọt ở miệng, chất gì mát mẻ ở mắt, ở hai lỗ hũng, ở cái hố sâu hoắm”.

Những dòng chữ trên trình bày một thẩm mỹ quan hoàn toàn khác với cái thẩm mỹ quan của Thế Lữ trong “Mấy vần thơ” (1935) và của Xuân Diệu trong “Thơ Thơ” (1938).

Nghệ thuật ở đây không còn là sự phô diễn liên miên của cái tôi “bề ngoài”, cái anh anh, em em như trong thi ca lãng mạn. Nghệ thuật ở đây tìm đến lãnh vực siêu hình, nó đi tìm “bề sâu” của cái tôi, “bề cao” của sự vật; nó là nghệ thuật “luyện kim thi ca” (alchimie poétique) như Baudelaire đã nói: “Người cho tôi bùn của người, tôi sẽ làm bùn đó thành vàng”.

Nghệ thuật thi ca theo Hàn Mặc Tử, sẽ làm cho những cái thối tha, nhơ nhớp nhất thành thơm tho, ngon ngọt; nghệ thuật ở đây sẽ làm cho cái tầm thường thành cao siêu. Người ta tưởng như nghe lời ca vẻ đẹp (Hymme à la beauté) của Baudelaire trong “Les fleurs du mal”.

Hỡi cái đẹp! Hỡi con quái vật vĩ đại khủng khiếp và chất phác!

Dầu ngươi đến từ trời hay từ địa ngục đến, điều đó có hề chi,

Miễn sao con mắt, nụ cười và bàn chân của ngươi mở ra cho ta chiếc cửa

Cửa vô tận mà ta mến yêu và chưa hề biết đến (1)

Ba năm trước khi đề tựa “Tinh Huyết”, Hàn Mặc Tử đã báo hiệu khuynh hướng tượng trưng với bài thơ “Tình quê” (1936), một bài thơ ghi lại các sự vật chung quanh một cách mờ ảo như để đưa ta vào giấc mơ buồn một cách đẹp đẽ, thần tiên:

Trước sân anh thơ thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Mây chiều còn phiêu bạt

Lang thang trên đồi quê

Gió chiều quên ngừng lại

Giòng nước luôn trôi đi

Ngàn lau không tiếng nói

Lòng anh dường đê mê

Cách nhau ngàn vạn dặm

Nhớ chi đến trăng thề

Dù ai không mong đợi

Dù ai không lóng nghe

Tiếng buồn trong sương đục

Tiếng hờn trong lũy tre

Dưới trời thu man mác

Bàng bạc khắp sơn khê

Dù ai trên bờ liễu

Dù ai dưới cành lê

Với ngày xanh hờ hững

Cố quên tình phu thê

Trong khi nhìn mây nước

Lòng xuân cũng não nề.  HÀN MẶC TỬ (Gái quê: Tình quê)  

Nhưng phải đợi đến khi bái tựa “Tinh Huyết” và tập “Tinh Huyết” ra đời thì cái thẩm mĩ quan của khuynh hướng tượng trưng trong thi ca Việt Nam mới thành hình rõ rệt. Bài tựa “Tinh Huyết” như vậy, có thể xem là một “biến cố” trong văn học Việt Nam.                            

Bích Khê chú ý rất nhiều đến sự thay đổi của hình thức trong thơ. Ở điểm này, Bích Khê gần với Verlaine, nhà thơ tượng trưng, chủ trương trong thơ nhạc là trên hết; mà muốn có nhạc thì nên chọn các thể thơ có số âm lẻ như 5, 7, 9, 11; đồng thời Verlaine cũng chủ trương thơ không hùng biện (2)

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng (3)

Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng

Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng,

Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ

Vì hình dung những sắc mát, non, tơ,

Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một

Hoàng hôn - Ôi đàn môi, chim báu tớt:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm,

Chữ trong vắt sánh nghệ thuật sầu câm

Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng… BÍCH KHÊ (Duy tân)

Bích Khê quan niệm điệu mới phải nhịp nhàng đầy âm nhạc, cho nên thơ Bích Khê có một nhạc điệu khác hẳn với thơ cổ điển và thơ lãng mạn. Ta thấy trong thơ Bích Khê nhiều chỗ ngắt hơi khác thường và cách choàng, cách thòng khác lạ làm cho câu thơ có một tiết điệu luôn luôn thay đổi.

Quan niệm thơ là “hạt châu trong” (4) chỉ là quan niệm của nhà thơ tiền tượng trưng Pháp Vigny. Còn quan niệm thơ là họa điệu của âm hưởng, của màu sắc và hương thơm là quan niệm của Baudelaire trong “Correspondances”. Tuy nhiên, đúng như tên của bài thơ, Duy tân đối với thi ca Việt Nam là một cuộc duy tân thực sự, có đường lối, có lý thuyết và (điều quan hệ hơn hết) sự áp dụng của lý thuyết đó vào thi ca. Chúng ta có thể lấy bài thơ “Xuân tượng trưng” của Bích Khê để minh chứng cho cuộc duy tân đó trong thi ca Việt Nam:

Hỡi lời ca man dại,

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần tuý và tượng trưng

Nâng lên núm vú đồi

Sữa trăng nhi nhỉ giọt;

Bay qua cụm liễu phơi

Những cườm tay điểm hột

Sương. Phất phơ lau lách

Khe uốn mình giai nhân;

Đường non khéo điêu khắc

Những dáng hình khoả thân;

Lụa mây nẩy vàng chạm,

Tia ngọc bén màu ngân.

Chủ xuân đương triển lãm!

Lời ca như hạc theo

Gió lên. (Tình múa reo

Những điệu vàng châu báu,

Dường có con chim báu

Rỉa cánh trên ngai lòng)

Xoè xoè màu lông công

Vườn thơm khua sắc mát.

Rồng uốn vóc tùng cong,

Áo bạch mai khoát khoát

Môi đào chờ khoái lạc...

Hồn tôi như đỉnh hương

Bốc lên mình thánh giá!

Ý xuân mát đến xương

Ngậm tuyết phun lã chã!  BÍCH KHÊ (Xuân tượng trưng)                     

Nghệ thuật “điêu khắc những dáng hình khỏa thân” của Bích Khê xui ta nhớ đến nghệ thuật của tạo hình trong thi ca Pháp chịu ảnh hưởng của Hy Lạp, đặc biệt hơn hết là ở Chénier, một nhà thơ rất giỏi tạo hình và tạo nhạc của thế kỷ 18.

Trong “Duy tân”, Bích Khê kết luận:

Thơ loã thể! Giai nhân tuần trăng mật,

Nữ thần ơi! ta nô lệ bên người! BÍCH KHÊ (Duy tân)                

Và trong bài “Tranh lõa thể”:

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Bênh vực cho lối “thơ lõa thể” đó, Hàn Mặc Tử viết: “Ở đây, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Qủa nhiên là một sự không khen thanh tao đến ngọt lịm cả người và cả thơ” (Tựa Tinh Huyết).        

Cùng trong năm 1939, trước khi tập “Tinh Huyết” ra đời, đề tựa tập “Thơ điên” của mình, Hàn Mặc Tử đã giải thích ý nghĩa của thơ tượng trưng: “một cung đàn”, “một làn ánh sáng”, chứa đựng của thở là “vui, buồn, hơn, giận đến gần đứt sự sống”. Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại có một lối giải thích khác thường như thế. Nhà thơ mời ta và người bạn gái vào vườn thơ của người và từ “Thơ điên” (gồm có ba tập Hương thơm, Mật đắng, máu cuồng và hồn điên) đến “Xuân Như ý”, “Thượng Thanh khí”, “Duyên kỳ ngộ” và “Quần tiên Hội”, ta nhận thấy đúng như Hàn Mặc tử đã nói: “Vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh”. Ta rùng mình khi nghe nhà thơ giải nghĩa:

“Tôi làm thơ?

Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng.

Anh sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thở của môi tôi và chìm theo những sóng điệu nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyển chuyển.

Anh sẽ rung theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rền rĩ mãi không ngừng.

Và anh sẽ cảm giác lạ, nhìn không chớp mắt khi một tia sáng xôn xao tại có vì sao vỡ. Những thứ ấy là âm điệu của thơ tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút.

Tôi làm thơ?

Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng gào, tiếng rú... Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?                               

 Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống.                                         

Thôi mời cô cứ vào...

Ánh sáng lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa, càng ớn lạnh...”

                                                                   HÀN MẶC TỬ

Hàn Mặc Tử còn có những ý muốn lạ lùng: mỗi lời thơ phải là máu vọt, là cân não của nhà thơ:

“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt

Như mê man chết điếng cả làn da”.

Xét trên bình diện thế giới, thi ca cổ kim chưa bao giờ có một quan niệm quái dị như thế, và ghê gớm như thế. Edgar Poe cũng chỉ đến vậy là cùng. Thơ, theo Hàn Mặc Tử, chỉ là âm thanh, tiếp nối nhau, khi thì lả lướt khi thì quay cuồng chết điếng cả thân xác và linh hồn.

Ở Việt Nam trước Hàn Mặc Tử, từ 1932 cho đến khi tập “Đau thương” (1939) của Hàn Mặc Tử ra đời, (nhưng đến năm 1943 mới in thành tập) chưa bao giờ thi ca Việt Nam lại được quan niệm một cách khác thường và mới lạ như vậy. Đây là một thế giới đầy âm nhạc, riêng biệt, mung lung, mờ ảo.

Lạc vào trong thế giới kỳ lạ đó của vườn thơ Hàn Mặc Tử, người đọc sẽ chỉ gặp toàn là những cảm xúc ghê gớm do nhạc và hình ảnh gây nên lạ lùng, mãnh liệt.

“Làm thơ nghĩa là yếu đuối quá”, nhà thơ cảm thấy như bao nhiêu sức mạnh của mình, sức mạnh tinh thần và thể xác đều phung phí, đều dồn vào trong nhạc của thơ. Một nhà tâm bịnh học hay phân tâm học có thể giải nghĩa cho thơ Hàn Mặc Tử  hơn một nhà khảo luận văn học, bởi vì Hàn Mặc Tử là một nhà thơ bệnh hoạn, một nhà thơ có cái nhìn khác lạ “nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền bí” vô cùng quái đản:

Nhớ khi xưa, ta là chim Phượng hoàng

Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất,

Bay từ Đao Ly đến thời Đâu Suất,

Và lùa theo không biết mấy là hương.

Lúc đằng vân, gặp ánh sáng chận đường,

Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ,

Ta lôi đình, thấy trăng sao liền mổ,

Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao,

Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ,

Ở ngôi sao ngước mắt ra ngoài bể,

Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi!

Ta đắm say như đến chốn Phượng Trì... HÀN MẶC TỬ (Phan Thiết)                                       

Hai nhà lý thuyết của khuynh hướng thơ tượng trưng thời tiền chiến gặp nhau ở nhiều điểm: trong thơ nhạc là trên hết, muốn có nhạc thì tiết điệu phải nhịp nhàng, lời thơ phải gợi ảnh; phải tạo hình và gợi cảm. Điều nên ghi nhận là cả hai cùng xuất thân ở trường thơ Đường (xem bài “Gõ bồn” dưới đây của Bích Khê) trước khi tiến đến tượng trưng.

Điểm khác nhau giữa Hàn Mặc Tử và Bích Khê là đức tin: Hàn Mặc Tử tìm nguồn thơ trong đức tin Thiên Chúa giáo thì Bích Khê gần Phật và lão Trang. Tuy nhiên, họ vẫn là bạn thân nhau thấm thiết và ảnh hưởng lẫn nhau một cách rõ rệt.

Bích Khê trong bài “Gõ bồn”, nói đến tao khách, hạc, phù vân:

Liêu trai trở lại, lánh vòng trần,

Ma Phật mơ hồ mộng với thân!

Mặt ngọc bên trời tàn bóng nguyệt,

Mình ta trước cửa thưởng hoa xuân,

Gõ bồn chẳng thấy ai tao khách,

Cách núi khôn tìm bóng cố nhân

Một tiếng trên không trong ác lặn

Hạc kêu bay lẫn đám phù vân. BÍCH KHÊ

Trong “Ave Maria”, Hàn Mặc Tử cho thơ là mầu nhiệm, thơ là linh giác, “kiến thần” và “thấu thị”, một sáng tạo “huyền bí”, không cần thời gian và không gian, thi sĩ nói đến phép lạ, sứ thần Thiên Chúa, nhưng giọng thơ vẫn vương vấn một chút gì của văn chương Phật giáo:

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nam hào quang

Tôi no rồi ơn vũ lộ hòa chan;

Tấu lạy Bà, lạy Bà nhiều phép lạ

Ngọc như ý vô tri còn biết cả

Huống chi tôi là thánh thể kết tinh

Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi

Thơm nhường bao cho miệng lưỡi không khen

Hỡi sữ thần Thiên Chúa Gabriel

Khi người xuống truyền tin cho thánh nữ

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú

Người có nghe náo động cả muôn trời

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời... (Ave Maria)

                                      HÀN MẶC TỬ

                                     

Có khi Hàn Mặc Tử cầu nguyện cho thơ được cao sang và trọng vọng:

“Lạy Chúa Trời tôi! Hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành, ơn cả! Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chan vô vàn phước lộc”.

Điểm khác nhau giữa hai nhà thơ là hình thức.

Bích Khê quan niệm điệu mới phải nhịp nhàng cho nên thơ Bích Khê có những tiết điệu mới, có những chỗ ngắt hơi khác thường khi dài, khi ngắn, có những vần thật nghèo nhưng nhiều âm điệu:

Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái

Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ

Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô

Vàng... Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -

Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ

Im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên

Những dáng hình thanh khí...) Giữa mông mênh

Đường nhiếp ảnh, sắc khua màu - Tiếng thở

Hỡi hội họa, đến muôn đời nức nở!

Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp nhàng ta… (Duy tân)

                                      BÍCH KHÊ

                                       

Riêng Hàn Mặc Tử không hề đi quá xa để trở thành “quá tây”. Thơ Hàn Mặc Tử, bắt nguồn trong Thiên Chúa giáo, vẫn giữ được cái bản chất Đông phương và nhờ đó đến được đỉnh của thơ tượng trưng với màu sắc thật dân tộc:

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,

Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,

Như đón từ xa một ý thơ.

 

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,

Để nghe dưới đáy nước hồ reo;

Để nghe tơ liễu run trong gió,

Và để xem trời giải nghĩa yêu.

 

Hàng thông lấp loáng đứng trong tim

Cành lá in như đã lặng chìm.

Hư thực làm sao phân biệt được?

Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm.

 

Cả trời say nhuộm một màu trăng

Và cả lòng tôi chẳng nói rằng,

Không một tiếng gì nghe động chạm

Dẫu là tiếng vỡ của sao băng!   (Đà Lạt trăng mờ)

HÀN MẶC TỬ

                  

Chúng ta thấy trong những lúc tâm hồn tỉnh táo, nhà thư rung động chúng ta nhiều hơn trong những lúc điên cuồng rùng rợn, trong những lúc kêu gào thống thiết:

Cả miệng là trăng là trăng

Cả lòng ta vô số gái hồng nhan

Ta nhả ra đây một nàng...

Có lần chính Hàn Mặc Tử cũng đã viết: “Vẫn biết nghệ thuật chuộng ở sự tiến bộ, ở sự hoàn toàn từ hình thức đến tinh thần của một bài thơ. Song lẽ ra ta không nên quên rằng thơ ta là thơ quốc âm, ta phải giữ cái tinh thần Việt Nam của ta, hơn nữa, cái tinh thần Đông Phương mà sự rung cảm tâm hồn người ta là nhờ ở cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thắm thía...”

Chính “cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thắm thía” làm cho tượng trưng của Hàn Mặc Tử thành bất tử, chứ không phải cái điên cuồng đáng tởm làm cho ta ghê người, mệt nhọc.

Có một điều nên ghi nhận nữa ở Hàn Mặc Tử là thi ca tiên tri. Nhà thơ vượt lên trên thời đại đương thời, đứng trên cao nhìn xuống nhân loại trong đó chúng ta đang sống để mà truyền cảm với chúng ta qua những vần thơ “tiên kiến”, qua những tưởng tượng mà ngày nay đang sắp thành sự thực:

Ta bay lên! Ta bay lên

Gió tiễn đưa ta đến nguyệt thềm

Ta ở trên cao nhìn trở xuống

Lâng lâng mây khói huyện hương đêm.

HÀN MẶC TỬ

Với Hàn Mặc Tử và Bích Khê, một thi ca tượng trưng Việt Nam đã đến một cao độ tuyệt vời, đến một nơi thật cao siêu và khả kính, mà cho đến ngày nay chưa một nhà thư tượng trưng tiền và hậu thế chiến nào có thể vượt đến được.

Chương II. Những nhà thơ tượng trưng

Trong thời tiền thế chiến, ngoài hai nhà lý thuyết của thơ tượng trưng là Hàn Mặc Tử và Bích Khê, chúng ta có thể ghi nhận các nhà thơ Bình Định là những nhà thơ luôn luôn bị mùa thu và trăng vàng ám ảnh: Yến Lan, Vhees Lan Viên và những nhà thơ khác không cùng một quê hương: Phạm Hầu, Đoàn Phú Tứ.

Với bài thơ “Vọng hải đài”, Phạm Hầu đã tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng của mình. Đây là sự hòa điệu của âm thanh (thêm son từng đôi gót vân hài) của màu sắc (một sắc không bờ trên biển xa) và của hương thơm (lòng xiêu xiêu hồn nức hương mai).

Chẳng biết trong lòng ghé những ai?

Thềm son từng đội gót vân hài

Hỗi ôi! Người chỉ là du khách

Giây phút dừng chân vọn hải đài.

 

Cơn gió nào lên có một chiều

Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu

Tháng ngày đi rước tương tư lại

Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

 

Trống trải trên đài du khách qua

Mây ngày vơ vẩn, gió đêm là

Muôn đời e hãy còn vương vấn

Một sắc không bờ trên biển xa

 

Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai

Rạng đông về thức giấc hoa nhài

Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai?

                             PHẠM HẦU

 

Thơ Đoàn Phú Tứ mang nhiều daus vết của khuynh hướng tượng trưng trong bài “Mầu thời gian” :

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

                   ĐOÀN PHÚ TỨ

Nhóm “Xuân Thu Nhã Tập” gồm có Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Xuân Sanh, tuy làm được nhiều chuyện nhưng không còn để gì lại trong tâm trí của những người yêu thơ tượng trưng ngoài một vài câu thơ đẹp như:

“Đáy đĩa màu đi nhịp hải hà”

Muốn có nhiều nhạc và nhiều tiết điệu, thơ tượng trưng thường là hai lối thơ có số tiếng lẻ, thơ 5 tiếng và thơ 7 tiếng. Với Yến Lan thì hình thức thơ tượng trưng thường là thơ 8 tiếng. Vần tréo của thơ 8 tiếng làm cho câu thơ 8 tiếng có nhạc điệu êm đềm:

Thành Bình Định nương mây và cậy nguyệt

Đường chờ xe, sông nước ước mong thuyền

Tịch dương liễu không biết mình đương biếc

Tương tư trời, tượng tự nhạc triền miên...

                             YẾN LAN

 

Tác giả “Điêu tàn” (1937) không có bệnh mà rên rỉ, không phải học Chế mà dựng lại “non nước giống dân Hời” nên tuy thơ có tạo hình nhưng nặng nề, u uất không thành thật và không gợi cảm như thơ của Bích Khê:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

                                                                   BÍCH KHÊ

Thu đến đây chừ, mới nói răng?

Chừ đây, buồn giận biết sao ngăn?

Tìm cho những cánh hoa đang rụng

Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn! (Thu)

                                                                   CHẾ LAN VIÊN

                                     

Thơ Chế Lan Viên không hẳn là tượng trưng mà là một lối thơ lãng mạn có khi tầm thường, vẩn đục.

Người ta tưởng phải sắp Xuân Diệu thời tiền thế chiến vào danh sách những nhà thơ tượng trưng bởi vì Xuân Diệu đã say mê các nhà thơ tượng trưng Pháp:

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,

Say thơ xa lạ, mê tình bạn,

Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen.

 

Những bước song song xéo dặm trường,

Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,

Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,

Nghe hát ân tình giữa gió sương.

 

Kể chi chuyện trước với ngày sau;

Quên ngó môi son với áo màu;

Thây kệ thiên đường và địa ngục!

Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

                                                                   XUÂN DIỆU

Nhưng vì:

“Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt

Cơm áo không đùa với khách thơ”

nên thơ Xuân Diệu chỉ có thoáng không khí tượng trưng của Verlaine và Rimbaud mà thôi. Huy Cận cũng vậy. Nguyễn Vỹ tuy viết: “Nhà văn An Nam khổ như chó” và tuy đã nói lên với khá nhiều chán nản và mỉa mai về cuộc đời của nhà văn, nhà báo thời tiền thế chiến:

Chứ như bây giờ là trò chơi,

Làm báo làm bung chán mớ đời!

Anh đi che tàng một lũ ngốc,

Triết lý con tiều, văn chương cóc!

Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,

Ra chợ bán văn, ngày tháng qua!

                                                                   NGUYỄN VỸ

nhưng Nguyễn Vỹ lại gần với tác giả của “Jadis et Naguère” trong bài thơ hai tiếng “Sương Rơi”:

Sương rơi

Nặng trĩu

Trên cành

Dương liễu...

Nhưng hơi

Gió bấc

Lạnh lùng

Hiu hắt

Thấm vào

Em ơi,

Trong lòng

Hạt sương

Thành một

Vết thương!...

                                                          NGUYỄN VỸ

          Thơ là nhạc. Lời thơ là lời nhạc, cố tranh với nhạc, chập chờn mờ ảo.

Về nội dung, thơ tượng trưng không đề cập đến đề tài xã hội, chính trị (5) mà chỉ chấp nhận những đề tài tam tình và nhiều nhất là đề tài thiên nhiên:

“Người họa điệu với thiên nhiên ân ái”

Nhà thơ có khuynh hướng lãng mạn là Lưu Trọng Lư đã sáng tác một bài thơ tượng trưng rất nổi tiếng vừa diễn tả thiên nhiên, vừa diễn tả nỗi lòng bâng khuâng của người cô phụ:

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

 

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phụ?

 

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô?

 (Tiếng thu 1937)

                                                LƯU TRỌNG LƯ

                  

Trong thời hậu thế chiến, thi ca tượng trưng đã trải qua hai thời kỳ: thời kỳ bế tắc (1945-1954) và thời kỳ phục hưng (từ 1954 đến nay).

Trong suốt 9 năm chiến tranh, thi ca tượng trưng cơ hồ như bị bóp nghẹt vì mọi cuộc chiến tranh đều phản lại với tinh thần thi ca thuần túy. Tuy nhiên thỉnh thoảng người ta cũng được đọc một vài câu thơ tượng trưng khá hay chẳng hạn như đoạn thơ sau đây (mà chúng tôi quên mất tên tác giả):

Thâm khuê ý thức chong đèn lạnh

Mặt nguyệt tâm tư tròn vẹn gương

Chiếc én thành son chưa đẩy cánh

Nét đau xanh liễu chửa buông tường.

Từ sau 1954, cùng với thái bình, người ta thấy xuất hiện nhiều nhà thơ tượng trưng có tiếng như Quách Thoại, Cung Trầm Tưởng chịu ảnh hưởng của Verlaire và Rimbaud, Đông Hồ,  Mặc Thu, Lý Quốc Sỉnh, Nguyễn Huyền Không chịu ảnh hưởng của Tỳ bà Hành (6) và thơ Đường (7), Đoàn Thêm, Xuân Phụng chịu ảnh hưởng của Mallarmé, Valéry...

Quách Thoại từng đóng vai nhà lý thuyết về thơ tượng trưng. Lý thuyết này chung qui cũng đề ra sự “hợp tấu” của màu sắc, âm thanh và mùi hương trong một hình thức mới mẻ:

Ái tình giao tay làm khối lượng

Nghệ thuật nằm trong kiến trúc

Phảng phất lời lẽ một làn hương

Tâm linh bỗng nhiên thành vũ trụ vô lường

Thực tại bao trùm bởi ảo tưởng

Đâu biết màu xanh hay chính ấy âm thanh.

 (Hợp tấu)

                                                          QUÁCH THOẠI

                            

“Một làn hương... đâu biết màu xanh hay chính ấy âm thanh”. Ta tưởng nghe lạ lời “Hợp tấu” của Baudelaire (8)

Không lý luận, thơ Cung Trầm Tưởng chính là nhạc của thơ tượng trưng, mặc dù những ý tưởng trong thơ Cung Trầm Tưởng mang nhiều dấu vết của thi ca hiện sinh:

Lên xe tiễn em đi

Chưa bao giờ buồn thế

Trời mùa đông Paris

Suốt đời làm chia ly.

                             CUNG TRẦM TƯỞNG

 

Thơ tượng trưng của Nguyễn Huyền Không là thi ca tình yêu đượm vẻ thiêng liêng, siêu hình của Phật giáo. Nhà thơ định tìm sự yên tỉnh trong tâm hồn sau khi đã yêu đương tha thiết nhưng...

Những tưởng hiên thiềng im tiếng khóc

Thôi xưa ngỏ hẹn chẳng trăng nguyền

Lần xâu ngày tháng theo xâu ngọc

Giăng vướng, than ôi, mái tóc huyền.

                                                 NGUYỄN HUYỀN KHÔNG

Những “điên đảo cũ” đã hiện lên, khói lửa “cảnh yêu tà” đã dựng dậy, nhà thơ đành trở về với phù thế của chúng ta:

Lòng dượi sụp quì van lạy Phật

Xin về nẻo trước bước điêu linh

Tơ duyên còn rối trong tơ tóc

Kiếp trước chưa thâu trọn lưới tình.

NGUYỄN HUYỀN KHÔNG

Đến “Vườn Mây” (1961) của Đoàn Thêm thì thơ tượng trưng Việt Nam tiến đến một thời kỳ mà ta có thể so sánh với thời kỳ Mallarmé trong thi ca Pháp. Nhà thơ cố gợi cho được cái mùi hương trong thi ca, làm cho người đọc thơ như cảm thấy mùi hương ấy (9)

Khoác áo mùa thu biếc

Đi về lối đẫm sương

Trao xuân tùy gió lộng

Cho cỏ bén mùi hương…

 (Giấc Mơ Bồng Đảo)

                                        ĐOÀN THÊM   

 

Nửa giấc đời khuya lay bóng sử

Tắt mơ buông ý lặng giờ xanh

Đêm nay hương ngát, đồng ngân điệu

Nghĩa sống rung mây nở mộng lành…

(Chung Linh)

                                           ĐOÀN THÊM

                           

Thơ Đoàn Thêm có “hậu”: kết cuộc bao giờ cũng tốt đẹp, cũng êm đềm. Đó là một đặc điểm của các nhà thơ cổ điển thuần túy.

 “Tôi còn đi xa nữa”, đó là tâm sự của nhà thơ. Chúng ta vui mừng mà gặp được một hồn thơ “dài hơi” có thể góp phần to lớn để đưa thi ca tượng trưng đến một nơi cao đẹp.

Vả chăng các nhà thơ lỗi lạc nhất của thế giới hiện nay hầu hết há chẳng từng chịu ảnh hưởng rất nhiều của thi ca sau tượng trưng Pháp sao?

Chúng ta có quyền lạc quan về sự tiến triển của thi ca tượng trưng Việt Nam.

Sau 9 năm im hơi lặng tiếng, thi ca tượng trưng đang vươn mình chỗi dậy. Chúng ta chào mừng sự hồi sinh của khuynh hướng “thi ca thuần túy”, một khuynh hướng gồm có nhiều thi tài mà “thơ diễn tả bằng tiếng như là một sáng tạo của cái đẹp do tiết điệu: quyền tối thượng để phê phán nó là thẩm mỹ quan. Thi ca chỉ có với tri giác và ý nghĩa đạo đức những tương quan gián tiếp... Nó không có một tương quan gì với bổn phận và sự thật”(Edgar Poé, Principe de la poésie 1850). Quan điểm sáng tác thi ca nói trên của Poé hình như cũng chính là quan điểm sáng tác của các nhà thơ tượng trưng Việt Nam.

Nguồn:

Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (1932-1962), Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1962, tr.114-139

Chú thích

(1) Que tu viennes du ciel ou de l’enfer, qu’importe, / O Beauté! Monstre esnorme, effrayant, ingesnu! / Si ton oeil, ton souris, ton pied m’ouverent la porte,/ D’un infini que j’aime et n’ai jamais connu?  

(2) De la Musique avant toute chose / Pour cela préfère l’Impair.../ Prends l’Esloquence et tords-lui son cou. -- Verlaine

(3) Hãy chú ý đến điệp ngữ và vần trong (rime intérieure) của câu thơ này: vẫn gieo giữa tiếng thứ ba (trong) in tiếng thứ 8 (lòng).

(4) Poésie! Ô Trésor, perle de la pensée! -- Vigny

(5) Một số người nghĩ rằng mục đích của thơ là giáo dục một điều gì đó, khi thì nó phải tăng cường lương tri, khi thì nó phải hoàn mỹ phong tục, khi thì nó phải chứng minh một điều gì hữu ích. Thơ... không có mục đích gì khác hơn là chính nó” (Baudelaire)

(6) Lệ ai chan chứa hơn người?/ Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh (Tỳ Bà Hành)

(7) Thơ Đường cũng rất tượng trưng như “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu, nhiều bài đường thi của Lý Bạch, Đỗ Phủ (Xem “Đường thi và khuynh hướng cổ điển”. Sắp in).

(8) Les parfums, les couleurs et les sons se respondent.

(9) Thơ Mallarmé cố gắng tạo mùi hương: “D’une essence ravie aux vieillesses des roses”                  


 

Các bài khác:
· NHÂN ĐỌC “THI NHÂN VIỆT NAM” CỦA HOÀI THANH VÀ HOÀI CHÂN
· HAI BÀI BÀN VỀ THƠ MỚI CỦA PHAN KHÔI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BÍCH KHÊ
·
· ĐỀ BẠT “TINH HUYẾT”
· BÁN THI
· DƯ LUẬN VỀ THƠ BÍCH KHÊ TRÊN SÁCH BÁO VIỆT TRƯỚC 1945
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ LỚN CỦA VIỆT NAM
· BÍCH KHÊ - TÀI THƠ ĐỘC ĐÁO
· XUÂN TƯỢNG TRƯNG – TUYÊN NGÔN CỦA THI SĨ RÚT HẾT TINH HUYẾT CHO THƠ
· THI SĨ BÍCH KHÊ VỚI MÙA THU
· BÍCH KHÊ TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN
· NHẠC VÀ HỌA TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· THI PHÁP BÍCH KHÊ
· TÂM THỨC PHẬT GIÁO QUA THƠ HÀN MẶC TỬ, CHẾ LAN VIÊN, BÍCH KHÊ TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN
· BÍCH KHÊ - GIẤU VÀNG TRONG GIÓ THU
· HOÀNG DIỆP VỚI BÍCH KHÊ
·
· MỘT NÉT BÍ ẨN CỦA THƠ BÍCH KHÊ
· NHỮNG VẬT LIỆU KIẾN TẠO THẾ GIỚI TƯỢNG TRƯNG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - HỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG

 

  
Gia đình Bích Khê