DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HÃY TÔN TRỌNG VÀ TỰ HÀO VỚI DANH HIỆU "NHÀ VĂN VIỆT NAM"

                                                                                                                                                     Tô Hoàng

( Tham luận tại Đại Hội Nhà văn TP HồChí Minh )

 

Mấy năm trở lại đây, trong đời sống văn học ở nước ta đang tồn tại một hiện tượng không lành mạnh. Thông qua báo mạng, báo viết, một số nhà văn, nhà phê bình đang moi móc bêu xấu, thậm chí lăng mạ nhau, nhằm hạ thấp các đồng nghiệp cầm bút của mình. May sao ở phía Nam còn chưa thấy xuất hiện căn bệnh này. 

 

Chưa có một công trình nghiên cứu nào trả lời câu hỏi: Xét riêng về mặt tài năng, nhà văn xứ ta hơn hay thua các nhà văn thế giới? Lý luận chính thống dạy chúng ta rằng, nhà văn phải đẫm mình trong hiện thực đời sống mới mong có những tác phẩm tầm cỡ, mang sức sống lâu dài. Điều này không sai nhưng theo tôi, cần được bổ sung. Những biến động dữ dằn của hiện thực cách mạng và chiến tranh giống như cây gậy đang thau phèn trong một cái giếng mới đào. Công việc văn chương thứ thiệt hình như vẫn cần đợi lúc những lớp nước trong lắng hẳn xuống đáy mới mong có những trang văn như ý muốn. Chưa kịp suy nghĩ, nhận dạng gì nhiều về cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp, đã xảy ra cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngay sau ngày 30-4-1975, người viết cùng toàn dân lại phải đương đầu với cái đói, cái khổ của những năm cuối thập niên 1970, 1980.  Liền ngay đó bùng nổ chiến tranh chống Tàu ở phía Bắc, chống Pôn Pốt ở phía Nam. Năm 1986, bước vào thời kỳ Đổi mới – trên thực tế, chúng ta đã xóc nhào ván cờ đang chơi khi bắt tay vào thực thi cơ chế thị trường. Vấn đề bất công xã hội, khoảng cách quá xa giữa nông thôn và thành thị, giữa kẻ giàu-người nghèo, quốc nạn tham nhũng, những thân phận bị oan nghiệt  lại choán hết tâm trí, cảm xúc của các nhà văn, nhà thơ. Chắc có những anh chị ngồi đây không đồng ý với cách so sánh, ví von “cái giếng thau” của tôi. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ đàn anh và thế hệ mặc áo lính chúng tôi ngày càng nhận ra suốt nhiều năm họ đã viết ký nhiều hơn viết văn, họ chưa đủ bình tâm và sự lắng đọng thực sự dành cho những trang văn đích thực. Nhưng các anh, các chị và chúng tôi vẫn rất vui vẻ, rất hài lòng với những trang viết của mình. Vì người lính đánh giặc ngoại xâm bằng cây súng, bà con cô bác Nam Bộ đánh giặc bằng hầm chông, mìn cài; người nông dân Bắc Bộ đánh giặc với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Người viết văn, làm thơ thuở đó góp vào cuộc chiến đấu chống xâm lược, giành Độc lập, Tự do bởi những vần thơ, bài ký, truyện ngắn cổ súy lòng yêu nước, truyền lan những gương anh hùng.

 

Không nên khe khắt, xét nét quá hoặc thậm tệ hơn, hạ thấp giá trị đi tới phủ nhận mảng văn học ra đời trong mấy chục năm cách mạng và chiến tranh. Trong số ấy đã có những tác phẩm xuất sắc. Nhiều tác phẩm khác đã góp phần khắc họa thiên biên niên sử nửa thế kỷ vừa qua. Và chúng nhất định sẽ cung cấp chất liệu tốt, đáng tin cậy cho những sáng tạo văn chương của những thế hệ con cháu sau này. Hạt vàng của mảng sáng tác ấy chính là những cảm xúc lớn, những phấn hứng lớn, ý thức sâu nặng và tình yêu nồng nàn, da diết của nhà văn, nhà thơ đối với vận mệnh của dân tộc, với nhân dân của mình, đối với những vấn đề sống còn của của một giai đoạn lịch sử bi tráng, có một không hai trên mảnh đất này. Vị tất những thế hệ người viết sau này đạt tới những cung bậc cảm xúc mãnh liệt, hào sảng ấy?  

 

Không đặt ra vấn đề về tài năng văn chương của chúng ta so với các nhà văn thế giới, thì hãy lưu tâm tới nét đặc thù khác: Xin hãy xét tới tư cách làm người, nghị lực sống ghê gớm và sự hy sinh vô bờ - kể cả trong thử thách nơi mũi tên hòn đạn lẫn trong sự chống chọi dai dẳng, quyết liệt với những điều kiện đói nghèo, bần hàn, cơ cực - để dành tình yêu, niềm tin, lòng tha thiết với nghề cho từng trang viết. Về phương diện này, tôi có cảm giác không có nhà văn, nhà thơ nào trên thế giới so sánh được với các nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Ông Hemingway sang chiến trường Tây Ban Nha vẫn có rượu witsky uống tỳ tỳ , có gái đẹp luôn túc trực bên cạnh. Cứ thử đọc hồi ký của các nhà văn chiến tranh của phương Tây như Jonh Stenbeck, Erich Remarque... cũng có thêm ví dụ về phương diện này.

 

Gần đây, khi làm phỏng vấn truyền hình nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tôi có xin anh cuốn tiếu thuyết Đất lửa mà hồi còn là sinh viên khoa ngữ văn  ĐHSP Hà Nội chúng tôi rất sủng mộ. Nhắc lại câu hỏi, sao anh không viết tiếp, anh Sáng cười hiền lành: Xong tập 1, đang hào hứng định viết tập 2 thì nhận lệnh đi vào Nam. Không đi thi “teo” luôn. Vào chiến trường rồi, cảm hứng bắt sang chuyện khác! Nhà văn Nguyên Ngọc trở lại chiến trường Khu 5 viết được tập 1 tiểu thuyết Đất Quảng, sau đó bận làm bí thư huyện ủy, chỉ đạo chống càn tại một huyện “điểm” ở Quảng Nam, bận làm công tác tổ chức văn nghệ khu V, rồi sốt rét, đói ăn và thế là ngưng mãi mãi không thể nào có Đất Quảng tập 2, tập 3. Nhà thơ Ca Lê Hiến giã biệt người tình đẹp như mộng, từ chối cả một chuyến sang Liên Xô dài ngày làm Tiến sỹ để lên đường vào chiến trường. Nhà văn, nhà báo nữ Dương Thị Xuân Quý gửi đứa con gái 3 tháng tuổi cho mẹ nuôi để vượt Trường Sơn. Các anh, các chị thuộc thế hệ anh Lê Văn Thảo rời bỏ việc học hành và cuộc sống cầm chắc có ly cà phê, chiếc bánh mì ăn với cá sandwich vào mỗi sớm mai để lên R làm quen với cơm vắt, ngủ võng, với pháo bày và bom B.52. Tiếp tới các anh chị thuộc thế hệ các nhà thơ Lê Minh Quốc, Phạm Sỹ Sáu…, các nhà văn Nguyễn Đông Thức, Nguyễn Nhật ánh… cũng phải rời bỏ những mối tình đầu, việc đèn sách, những tiện nghi của đô thị… để làm quen với cuộc sống trận mạc trên đất Campuchia hoặc với những kham khổ, thử thách ở các vùng khai hoang, lập nông trường trong những năm các anh các chị là những đội viên thanh niên xung phong.

 

Những người viết trưởng thành từ người lính hoặc cán bộ chính trị như các anh Võ Trần Nhã, Thanh Giang, Đinh Quang Nhã, Văn Lê, Trần Văn Tuấn, Vũ Ân Thy, Hoàng Đình Quang… đều hiểu rõ điều này: Họ phải là những cán bộ, những người lính can trường, xông pha nơi hòn tên mũi đạn, không hèn hạ lui bước trước cái khổ, cái đói , trước sự hành hạ của các thứ bệnh tật, trước thử thách sống chết... họ mới được cấp giấy thông hành để làm nhà văn ngày hôm nay. Những bậc đàn anh của chúng ta như Nguyễn Thi, Anh Đức, Viễn Phương, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Văn Bổn… tức những ai đã trải qua cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ - các anh ấy đã phải vượt qua tới 2 lần sát hạch, có được hai  tờ giấy thông hành làm nhà văn. Các nhà phê bình khi đánh giá, bình xét một nhà văn chỉ căn cứ trên những gì nhà văn đó viết ra trong tác phẩm của mình. Điều này rất đúng. Nhưng công bằng hơn, chí tình hơn hãy để mắt cả tới những hy sinh, chịu đựng, cái khí phách làm người của những người viết kinh qua chiến tranh. Mấy tháng trước đây, nhà báo, nhà văn - liệt sỹ Chu Cẩm Phong vừa được phong danh hiệu Anh hùng, nhưng cuốn Nhật ký Chiến tranh dày gần 500 trang của anh mới chỉ được tặng Giải B của Hội Nhà văn Việt nam quả là điều cần được nắn chỉnh. Bạn hãy đọc và nếu đọc rồi xin đọc lại một lần nữa. Hiếm tìm ra một cuốn sách thứ hai mô tả công việc nhà văn ở xứ mình nhiều gian nan, thử thách khủng khiếp, dữ dội như thế và người cầm bút cũng chân thành gắng gỏi để đứng ngang tầm với người chiến sỹ và bà con cô bác mình ở một xứ sở “ra ngõ gặp anh hùng” đến như vậy. Mạng sống ai chẳng quý. Cha mẹ, anh chị em, vợ con ai chẳng nhớ nhung, tiếc nuối. Những trong lịch sử 30 năm của  mấy cuộc chiến tranh giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc, hình như mới chỉ xảy ra một trường hợp có một nhà văn bạc nhược quy hàng, chạy sang hàng ngũ địch. Dương thị Xuân Quý, Chu Cầm Phong chỉ chịu bật hầm lên khi tung một lọat lựu đạn hay sả một tràng tiểu liên K.47 về phía địch. Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân hy sinh trong tư thế hiên ngang mang “Dáng đứng Việt Nam”. Nhân dân anh hùng, tinh thần “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” của cha ông đã dạy nhà văn chúng ta chọn cách sống, cách chết sao cho để lại tiếng thơm cho người thân, cho những trang lịch sử của nền văn học Việt Nam, cho cả những trang viết của bản thân họ.

 

Đương nhiên, chúng tôi hiểu thế hệ trẻ cầm bút hôm nay cũng phải vượt qua những thử thách, những cám dỗ và muôn vàn khó khăn, trở ngại trong hoàn cảnh mới không kém phần cam go, quyết liệt để có được cái nhìn tỉnh táo, tinh tường, khách quan và những trang viết thẫm đẫm chất nhân văn, đầy sức thuyết phục người đọc. Hãy bình tĩnh, khách quan, không định kiến để đọc từng trang, từng trang văn chương của Nguyễn Ngọc Tư, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Thu Phương, Phan Hồn Nhiên, Trang Hạ… và rất nhiều tên tuổi khác để hiểu rằng các em cũng phải trải qua mọi vật vã, mọi bươn chải để giữ được lòng tin yêu đối với đồng bào mình, niềm hy vọng vào ngày mai tốt đẹp của quê hương, xứ sở. 

 

Một số người đang khai mào cho việc chê bai, nói xấu, hạ giá tác phẩm của nhà văn này, nhà văn kia thường ngụy biện họ đang góp sức để hạ bệ các thần tượng. Họ muốn các nhà văn, nhà thơ đầu đàn phải được lột bỏ, tẩy rửa hết những lớp son phấn sơn trát bên ngoài để hiển hiện trước thiên hạ là những con người bình thường. Ô hay, họ có luẩn quẩn hay lầm lẫn không đây? Có gì là ngạc nhiên khi làm như khám phá ra thông tin nhà thơ Tố Hữu không có mặt ở mặt trận Điện Biên mà đã làm ra bài thơ Hoan hô chiến sỹ Điện Biên nổi tiếng? Với cách suy luận này làm sao dám hy vọng có một thiên tài nào đó giờ này còn đang nằm trong bụng mẹ, khoảng năm 2035, 2040 sẽ viết ra kiệt tác kiểu Chiến tranh và Hòa bình của Lev Tolstoi về Mùa Xuân Đại thắng 1975? Nếu ta coi nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Diệu cũng là một con người thì đâu có bất ngờ khi ta được biết trước đây, đến bất cứ cuộc nói chuyện thơ nào thi sỹ cũng ra giá cho ông ăn đủ hai chiếc bánh bao? Tôi còn nhớ rõ, vào giữa năm 1986, một lần đến thăm nhà văn Nguyễn Minh Châu sau chuyến anh đi thực tế công trường Thủy điện sông Đà về. Lúc này anh đã viết nên những truyện ngắn rất sắc sảo, tinh tế, có sức phát hiện về những tiêu cực xã hội đang lộ diện. Kể về chuyến đi sông Đà, gương mặt anh bỗng xám xanh, đôi môi run run khi anh thốt ra: “ở công trường Thế kỷ ấy mà cũng có điếm, ông ạ”. Nhà văn hay tán tỉnh chị em, vợ chằng con chuộc đâu có gì là lạ ? Nhà văn bước chân vào vòng quyền lực, thấy ở đấy có nhiều bổng lộc, tìm cách bớt xén của anh em, vơ về mình phần nhiều hơn – đâu có gì là lạ ? Trong bất cứ lĩnh vực đời sống nào cũng có kẻ trượng phu, đứa tiểu nhân; người trung trực, kẻ cơ hội hèn hạ - thì giới nhà văn đâu có là một ngoại biệt?

 

Trong mỗi gia đình Việt Nam đều lập một bàn thờ ở nơi trang trọng nhất để tưởng nhớ tổ tiên, thờ phụng cụ nội, cụ ngoại, ông bà hai bên nội ngoại, rồi đến lượt cha mẹ mình. Hương khói, thành kính cả trong ngày giỗ chạp lẫn ngày thường. Nhưng giả thử có lần nào đó, tôi hay bạn hạ từng bức ảnh xuống để hỏi xem các vị nội ngoại kia có thật gương mẫu, thật trong sạch, thật “mười phân vẹn mười”, chắc hẳn ít trường hợp cuộc khảo nghiệm này được như ý muốn. Ông nội tôi có thể là một gã buôn bè nổi tiếng mưu chước. Bà ngọai bạn đã từng thu tô bằng cái thùng gạt hai đáy. Bố bạn một thời nổi tiếng là tay “tom, chát” ở xóm cô đầu Khâm Thiên. Mẹ tôi ác độc, hành hạ, xỉ vả con dâu còn hơn người ăn người ở… 

Ấy vậy, nhưng để duy trì gia phong, răn dạy con cháu, giữ vững kỷ cương, nề nếp của gia đình mình các cụ đều đã trở thành Tiên Phật, thần thánh trên bàn thờ. Càng mở cửa, càng hội nhập, càng phong lưu, giàu có lên hình như chúng ta càng thấy khiếp hãi, kính nể các cụ; càng kỹ lưỡng hơn, chăm chỉ hơn việc hương hoa, cúng giỗ. Trong khói nhang nghi ngút, chúng ta ngước nhìn lên bàn thờ, thành kính cầu mong và hy vọng tổ tiên, ông bà nội ngoại mang lại phúc lành, tránh cho cháu con mọi thói nhăng nhố, mọi tai ương, bệnh hoạn…   

 

Nguồn: Văn nghệ

 

Các bài khác:
· SUY NGHĨ VỀ NGUYỄN MINH CHÂU, HOÀNG NGỌC HIẾN VÀ...
· THIẾU PHẢN BIỆN SẼ DẪN ĐẾN SUY ĐỒI
· JIJI - DẤU ẤN CỦA VĂN CHƯƠNG PHÍ LÝ
· VĂN CHƯƠNG TRẺ CẦN ĐƯỢC GHI NHẬN
· GIANG HỒ HOÀN LƯƠNG BẰNG THƠ CA
· THÔNG ĐIỆP VỀ CÁI ĐẸP VÀ TỰ DO
· VÕ VĂN TRỰC VỚI NHỮNG CÂU THƠ CHÁY ĐẾN TẬN CÙNG BUỒN VUI
· MÃ GIANG LÂN - BỀN LÒNG THƠ VÀ HIỆN ĐẠI THƠ
· NHỮNG DẤU HỎI BÍ MẬT VỀ NHÀ VĂN THỤY AN
· MỘT VÍ DỤ TIÊU CỰC VỀ TIỂU THUYẾT TRẺ
· THƠ NHÃ CA-KHẢ NĂNG BẬT SÁNG NHỮNG NGỌN ĐÈN TÂM THỨC
· MẤY SUY NGHĨ VỀ THƠ VÀ THƠ TRẺ
· MAI BÁ ẤN - XA THƠ MÀ VẪN GẦN THƠ
· HOÀNG CẦM-LÁ DIÊU BÔNG HAY LÁ BÙA ĐỊNH MỆNH?
· NHÃ CA-SỰ XUẤT HIỆN RỰC RỠ TRÊN VĂN ĐÀN MIỀN NAM
· NHÃ CA-NHÀ VĂN NỮ NÓI 'KHÔNG' VỚI DỤC TÍNH
· HOÀNG CẦM-TỪ TÌNH CHỊ EM ĐẾN ẢO VỌNG LÁ DIÊU BÔNG
· VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU TRONG THƠ HOÀNG CẦM
· HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XX
· BÓNG ĐÁ

 

  
Gia đình Bích Khê