Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_jc762i8ujsbhe8ma3j6v1kvla4, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
MÃ GIANG LÂN - BỀN LÒNG THƠ VÀ HIỆN ĐẠI THƠ

                  

                                                                                          Mai Bá Ấn

 

      Khởi nguồn là một người thơ, một nhà thơ thuộc thế hệ thơ kháng chiến chống Mỹ, Mã Giang Lân chính là bút danh của GS.TS Lê Văn Lân - một giảng viên, một nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín trên văn đàn, đặc biệt là những công trình nghiên cứu về thơ.

    

Mã Giang Lân (phải) và tác giả Mai Bá Ấn

 

  Từng biết ông từng là nhà thơ, nhưng tôi tiếp xúc với Mã Giang Lân là với tư cách một học trò Nghiên cứu sinh, nên cứ thầm nghĩ trong bụng: chắc năng lượng thơ trong thầy đã cạn! Cái tư duy logic khoa học đã lấn át tư duy hình tượng văn chương tự lâu rồi…

      Bất  đồ, cuối 2009 thầy gửi tặng tôi 2 tập thơ liền. Cũng không hề ngạc nhiên vì trước đó thầy đã có 3 tập thơ riêng. Nhưng thú thật, với bản năng của một người làm thơ, tôi cứ trộm nghĩ: về hưu rồi, thầy trở về nguồn, in thơ lại để giữ kỷ niệm cho vui thôi. Nghĩ thế, nhưng tôi không hề chủ quan vì trước đó, tôi đã từng đọc và thấy rõ hồn thơ của GS Hà Minh Đức, của PGS.TS Trương Đăng Dung, vì thế, tôi đã cẩn trọng đọc thật kỹ thơ thầy. Về ba nhà nghiên cứu làm thơ này, tôi nhận thấy: Thơ Hà Minh Đức truyền thống mà bứt phá trong tâm hồn (hình như do ẩn uất thơ ca bị cái nhà phê bình lấn át quá lâu). Thơ Trương Đăng Dung táo bạo, hiện đại đúng như trường phái mà nhà nghiên cứu này thường thể hiện. Thơ thầy Đức hồn hơn, hiền hơn; thơ thầy Dung sắc cạnh, táo bạo, hiện đại hơn. Còn Mã Giang Lân hình như là sự dung hòa giữa thơ của hai vị trước. Bằng lối khuyên của nhà thơ Thanh Thảo, tôi phải “hết sức kiềm chế” để đọc thơ thầy Lân. Và… nhận ra: Mã Giang Lân - bền lòng thơ và Mã Giang Lân - hiện đại thơ. 

      1. Sự bền lòng của một thế hệ thơ

      Cả  nước từ Nam ra Bắc, từ trẻ đến già, từ gái đến trai, từ trí thức đến bình dân cùng ra trận để lao vào một cuộc đối đầu không cân sức với siêu cường quốc Mỹ. Cái không khí hừng hực sử thi ấy đã được Mã Giảng Lân thể hiện rất thành công: “chiếc khăn đỏ vừa cởi ra, trên mâm pháo/ phút thiêng liêng thắt cái hóa nên cờ/ mới từ giã tuổi thơ/ đã lẫm liệt đương đầu cùng đạn bom khói lửa” (Hàm Rồng). Chính điều này đã đúc cả dân tộc Việt Nam thành một khối, cùng vì một lý tưởng chung. Lấy niềm tin chiến thắng quân thù làm cảm hứng của một thời lịch sử hào hùng: “Có trưa hè/ nắng lóe/ Súng dân quân nổ ròn hơn tiếng gõ thuyền đánh cá/ Xác giặc cháy bùng như ráng đổ mặt sông” (Bình minh trên sông). Chính lý tưởng chung đó khiến mỗi ngọn cỏ, cành cây cũng bền lòng vươn lên để mà tồn tại, con người tự vứt cái tư riêng để bền lòng cùng toàn dân đánh giặc. Ngay cả cách thể hiện những điều tưởng chừng như chân lý này, mỗi hồn thơ chống Mỹ đều có cách thể hiện rất riêng làm lay động lòng người, Mã Giang Lân cũng có cách thể hiện của riêng mình: “Để sống ở đây/ Cây cỏ tự gạt mảnh bom đi mà xanh tốt/ Người tự vứt cái cá nhân đi mà đánh giặc/ Nhiều lúc phải nín hơi/ Sợ trái chín rồi, rơi mất” (Tiếng nói ở Vĩ tuyến hai mươi). Cái tư thế của người - thơ - chiến - sĩ mang tầm cao chung của một dân tộc đang là niềm tin, là lương tâm của toàn nhân loại. Cảm hứng thơ ca là cảm hứng lịch sử, thơ vươn ngang theo nòng súng chống quân thù: “Mặt đất không còn chiều cao/ Ngoài dáng đứng của chúng tôi và nòng súng” (Tiếng nói ở Vĩ tuyến hai mươi) vì: “Trận địa ở đây/ Ta có cứng mới đứng ra đầu gió” (Ghi ở Hàm Rồng). Sự bền lòng ấy không chỉ thể hiện trong tư thế hiên ngang của những chiến công mà cao hơn là sự bền lòng trước cả những mất mát, đau thương trong cuộc đối đầu không cân sức: “Người bom vùi từ hố đất ngoi lên/ người từ nhà đổ của mình chạy tới/ người nằm viện nửa đêm về vội/ trong ngổn ngang đổ nát tìm nhau” (Hàm Rồng). Người hi sinh vẫn muốn hi sinh ngay trên trận địa chống quân thù, hi sinh trong tư thế sẵn sàng lao tới tiến công với độ bền bỉ diệu kỳ về một niềm tin tất thắng:“Đừng đưa tôi vào nghĩa trang/ Các đồng chí cho tôi nằm trong trận địa/ Tay để nguyên cờ, đầu quay về hướng lửa/ Tôi không thể nào xa anh em/ Bên dòng sông cá quẫy đêm đêm” (Ghi ở Hàm Rồng). Chính sự bền lòng kia đã tạo nên sự bền lòng cho sức sống của thơ - những câu thơ, đến bây giờ, đọc lên vẫn rưng rưng cảm xúc. Mất mát, đau thương quá nhiều, nhưng nhà thơ hiểu rất rõ rằng, khi ta chiến đấu vì niềm tin, vì khát vọng của nhân dân, vì cái điều mà toàn dân đang chờ đợi thì sự mất mát hi sinh kia không bao giờ chỉ ẩn chứa nghĩa đau thương:“Khi ước mơ nhân dân chờ đợi/ Không bao giờ chỉ có đau thương” (Hàm Rồng). Chính vì lẽ đó và cũng chính sự bền lòng của niềm tin mà Mã Giang Lân tuyên bố một cách chắc chắn rằng:“bọn cướp nước đến đất này bằng hai tư thế/ một là xác không còn một mảnh nhỏ/ hai là tay giơ thẳng lên trời” (Hàm Rồng)…

      Sự bền lòng trong nội dung cảm hứng mang âm hưởng chung của thời đại đã buộc thơ phải phô  diễn nội dung bằng một nghệ thuật phù hợp. Điều dễ thấy trong thơ Mã Giang Lân chính là yếu tố điệp ngữ, điệp từ với sự lặp lại thường xuyên bao hàm ý nghĩa của sự khẳng định, của ý chí kiên cường và sự bền lòng của một niềm tin. Trong bài thơ “Trụ cầu Hàm Rồng” ta thấy điệp khúc: “Tên lửa nổ thép già thành nước/ Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng cốt sắt xi măng” lặp đi lặp lại đến bốn lần trong cả bốn khổ thơ, khẳng định cái tư thế an nhiên, vững vàng của cây cầu lịch sử này trước bom đạn hủy diệt của quân thù. Ở bài “Bình minh trên sông” điệp khúc bình minh được lặp ba lần: “Là lúc bình minh lên”/…/ “Những bình minh quê nhà”/…/ “Đó cũng là lúc bình minh trên sông”. Kẻ thù có gieo tang tóc đau thương, bóng tối đọa đày trên đất nước này thì ở chính nơi đây, bình minh vẫn sáng lên mỗi ngày - bình minh sự sống. Ở bài “Tiếng nói ở Vĩ tuyến hai mươi”, tác giả lại thể hiện sự bền lòng này qua lối thủ vĩ ngâm: “Chúng tôi vẫn như dòng sông/ Chúng tôi vẫn như dãy núi”...

      2. Sự bền lòng của một hồn thơ

      Ở đây, tôi muốn nói đến hồn thơ, phong cách thơ của Mã Giang Lân trong những nét chung của thời đại thơ “trữ tình cách mạng”. Cùng phản ánh cuộc sống, chiến đấu của người Việt Nam trong cùng một giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, nhưng so với văn xuôi, thơ ca kháng chiến chống Mỹ đã thực sự gặt hái được nhiều thành quả hơn. Đó là sự tồn tại của nhiều phong cách thơ trong cái nguồn cảm hứng sử thi của cả một thế hệ thơ. Sự mất còn, tồn tại hay không tồn tại của một dân tộc, một đất nước là cả một đề tài lớn lao và cao cả, nhưng cách thể hiện của từng nhà thơ luôn là cái làm cho thơ tồn tại, bền lòng trước giông bão của thời gian. Mã Giang Lân ngẫm nghĩ về Tổ quốc mình không chỉ ngay trong những trận giao tranh ác liệt, những chiến thắng hào hùng mà ngay cả những phút giây tĩnh lặng nhất của chiến tranh. Lúc đó, Tổ quốc được nhà thơ cảm nhận một cách cụ thể hơn, sâu sắc hơn và có sức lay động hơn nhiều:“tôi đã ngả lưng trên bãi cỏ giữa trưa/ và nhấm một ngọn sim cằn biên giới/ đã bao năm rồi vẫn còn ran đầu lưỡi/ để khi nói đến đất đai Tổ quốc/ tôi nghĩ đến bụi sim cằn và bãi cỏ trưa” (Một miền Tổ quốc). Quê hương, nguồn cội đi vào thơ cũng da diết bằng những cảm nhận rất tư riêng trong vốn liếng tâm hồn của đặc trưng, bản sắc một vùng quê với những con người gụi gần và cụ thể:“Giờ đây trong đời sống nhân dân, còn giữ được tiếng nói, nụ cười của ông già tóc bạc, tha phương cầu thực từ thuở tóc xanh. Ông vẫn ước mong có ngày trở lại quê hương, những đêm trăng nghe câu hò đò dọc” (Hàm Rồng). Trong thơ chống Mỹ không hiếm những bài thơ hay, câu thơ hay về tình cảm tiền tuyến, hậu phương, nhưng bằng cách gợi lại cái dấu khắc kỷ niệm bên gốc dừa cuối hạ đã khiến những câu thơ này cũng mang dấu ấn riêng của chàng Lân sông Mã:“Lớp lớp ra đi ghi lại hẹn hò bên gốc dừa cuối hạ/ để sang thu người hái quả bồi hồi/ nâng bát nước dừa nhớ người ra trận/ ngóng một phong thư ấm áp tự xa xôi” (Hàm Rồng). Sự bền lòng của hồn thơ Mã Giang Lân còn thể hiện trong những câu thơ chợt đến rất vô tình, như thể vô tình, nhưng chính là sự òa vỡ chảy ra từ tiềm thức, sự hiện hiện bất ngờ từ trong vô thức nằm ẩn sâu trong tâm thức nhà thơ. Sự bền lòng trong cái tư thế “nằm ghì súng” ở ven rừng hoặc trong “tiếng pháo tầm xa” của giặc và cả ở “miếng lương khô chia cùng đồng đội” ta đã quen, đã nghe nhiều, nhưng chính cái “mùi lá mục bay hơi” đã làm cho đoạn thơ mới mẻ và bay bổng hẳn lên:“Nơi đất rừng anh đã nằm ghì súng/ Pháo tầm xa giặc bắn lấp trời/ Một miếng lương khô chia cùng đồng đội/ Nắng đang chiều lá mục bay hơi” (Lời chia tay). Là những trí thức rời mái trường đi vào cuộc chiến, đâu đó trong thơ Mã Giang Lân, ta bắt gặp được rất nhiều những suy tưởng đẹp, những triết lý sống ẩn hiện trong những câu thơ bình thường, và chính điều này đã khiến “ngọn lửa thơ” mang ánh sáng về phía âm u, vượt qua được sự sàng lọc của thời gian lạnh lùng, gợi cho người đọc nhớ hơn vì độ bền lắng của những câu thơ:“chúng ta cứ trơ ra với niềm tin cũ kỹ/ không có ngọn lửa trong lòng thì niềm tin cũng bùn đất mà thôi” (Một ngày). Chính sự bền lòng đi qua chiến tranh, vượt qua thời gian đã khiến chất lãng mạn, bay bổng của hồn thơ Mã Giang Lân có cơ hội bộc lộ rõ hơn ở những bài thơ viết trong thời bình, cho dù, đến thời bình Mã Giang Lân chuyên tâm hơn ở lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. Không bỏ quên truyền thống, mà hình như chính ở những thể thơ truyền thống này, hồn thơ Mã Giang Lân thể hiện thành công hơn những rung động tinh tế của mình. Bài tứ tuyệt ngũ ngôn 20 chữ rất gọn gàng này là cả một sự bùng nổ, có sức lan tỏa mạnh của một hồn thơ: “Em đi, gió biển xa/ Ngày qua rồi đêm tới/ Một đại dương mong đợi/ Về vỗ sóng quanh nhà” (Em đi…). Còn với lục bát, thể thơ “dễ làm mà khó hay” (Thanh Thảo) này, Mã Giang Lân cũng để lại được những dòng “sáu tám” vừa nhuần nhuyễn, ân tình (ở hai câu đầu) vừa hiện đại trong những quãng ngắt hơi đúng theo nhịp rung của một tâm hồn đa cảm:“Ở đây chưa thấy mưa nguồn/ Mà sông lại đỏ, nỗi buồn lại xanh/ Một trời, một nước, một anh/ Một xa em, cả Kinh thành cô đơn” (Ngẫu hứng, chiều). Cái cách nói “màu em”, cái cách buông vô tư 5 chữ vần bằng “rồi mưa bay qua thềm” và cách chia cắt vần bằng nhịp thơ ở trong từ láy hai “nền nã” đã khiến lục bát Mã Giang Lân rất gần với lục bát của các nhà thơ trẻ:“Thế rồi mây trở về non/ Nắng tươi màu nắng, em còn màu em/ Thế rồi mưa bay qua thềm/ Dấu chân ngày ấy vẫn nền nã xưa” (Vô đề 4)…

      3. Và một hồn thơ không chịu  đứng yên

     Đứng yên là chết! Là tự sát! Với nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, chân lý này lại càng là chân lý. Chính sức bền của hồn thơ đa cảm cộng hưởng cùng quá trình nghiền ngẫm về “tiến trình phát triển của thơ ca” của một nhà nghiên cứu, Mã Giang Lân rất có ý thức làm mới thơ mình từ những dạo khúc thơ đầu tay cho đến cả về sau khi đã nổi tiếng bởi một nhà nghiên cứu.

      Cái cách “vào thơ” của Mã Giang Lân ngay ở Trường ca “Hàm Rồng” thời chiến đã cho ta thấy rõ một lối tư duy thơ hiện đại đầy âm hưởng lan tỏa: “Mặt sông rung như mặt trống đồng/ với họa tiết hoa văn/ những chiếc thuyền xoay quanh mặt trời chiến đấu” (Hàm Rồng). Khổ thơ chỉ 3 câu với độ dài ngắn khác nhau không cần câu nệ về sự đăng đối trong một trường liên tưởng dài và rộng (Mặt sông - mặt trống đồng; hoa văn trên trống đồng - những vòng sóng chao trong bom đạn của sông Hàm Rồng; những chiến thuyền trên hoa văn trống đồng - những chiến thuyền hiện đại; mặt trời hoa văn - mặt trời hiện đại) thể hiện rõ nét mới mẻ của nhà thơ này. Ngay trong cách sử dụng các thể thơ của Trường ca, để thể hiện rõ tính đa dạng trong phản ánh “hiện thực lớn” của thể loại này, Mã Giang Lân cũng ý thức rất rõ trong cách diễn đạt ở trường đoạn người lính đọc thư nhà. Trước đó, tác giả sử dụng thể Thơ Tự do: “khẩu đội trưởng ngồi bên bờ công sự/ đọc thư chị gái:/” rồi chuyển hẳn sang Thơ Văn xuôi để đúng là một bức thư của chị: “Đống lửa giữa nhà, gió lạnh lùa qua liếp nứa, khoai lùi mẹ chia hai nửa, nửa còn bịn rịn nhớ em xa. Những ngày cuối năm giá rét, mẹ đốt lửa giữa nhà, gốc tre vườn, củi gộc đem ra, chất cao ngọn lửa” (Hàm Rồng). Những năm hòa bình đầu tiên, lang thang ở phố xá Sài Gòn đêm Thiên Chúa giáng sinh, cách “vào thơ” của Mã Giang Lân cho ta một cảm giác lạ, vừa phù hợp với không khí phố xá rộn ràng phương Nam vừa mang hơi thơ của phương Tây Thiên Chúa lại vừa “sang” như nội dung cứu rỗi vừa “êm” như âm hưởng những bản Thánh ca: “- A men!/ Anh nghe giọng em rõ hơn tiếng mọi người/ Êm và sáng/ Đêm Nô en 1978/ đêm Sài Gòn dịu mát như mùa thu” (Đêm Nô en). Đoạn thơ sau đây trong bài “Ký ức” lại cho ta cảm giác vừa hiện thực vừa siêu thực, vừa tỉnh lại vừa mê. Đó là cái tỉnh của người đã từng đi qua chiến tranh và cái cơn mơ vã mồ hôi về chiến tranh ngay thời bình hiện thực:“Chiến tranh lùi xa mười năm, hai mươi năm rồi/ vẫn giật thót mình/ khi nghe tiếng nổ/ từ đầu về/ Ta chạy cuống cuồng ngã dập/ Mồ hôi đêm dầm dề”. Không rành về âm nhạc, nhưng với nhà nghiên cứu Mã Giang Lân thì các chủ nghĩa, trào lưu sáng tác phương Tây, ông nắm khá rõ. Vì thế, cái cảm xúc khi nhìn những chiến sĩ giải phóng quân (có khi là chính tác giả cũng nên) cùng nghe một bản nhạc không lời khiến trong bài thơ này, nhạc và thơ cơ hồ đã trộn lẫn, vừa là tính nhạc trong Thơ Tượng trưng nhưng đồng thời cũng siêu thực hơn cả những tiết tấu thuộc về âm nhạc, thơ chắp cho âm nhạc một đôi cánh bay xa, lan tỏa, vương vít khắp núi đồi, lúc nhặt, lúc khoan, lúc trào sôi, lúc lo toan, hỗn hễn:“sỏi đá cằn/ đất âm thầm sắc đỏ/ Ngoại ô núi, ngoại ô rừng, ngoại ô gió/ thị xã nằm trong lo toan” (Ba chiến sĩ và bản nhạc không lời). Tôi cũng từng vào tham quan Đại nội Huế, cũng đã từng chụp ảnh giả vua, từng làm thơ về Huế, và vân vân những thứ… Huế khác, nhưng khi đọc bài thơ “Vào Đại nội”, thú thật, đã từng gần gũi thầy Lân, tôi vẫn mãi ngạc nhiên không hiểu sao thầy lại làm được những bài thơ lạ và mới đến lạ lùng so với cái dáng người hơi cổ sơ, thô mộc của thầy:“Rồng rắn lượn lờ/ một tốp vua vào chụp ảnh/ Hoàng bào thuê/ Hoàng hậu cũng thuê/ hai mươi ngàn đồng/ cả thuế giá trị gia tăng/…/ Đất nước lắm vua/ Thần dân chết mất/ đến áo đến quần không còn mà mặc/ Mạng người như cỏ rác/ Thế thôi”. Hiện đại đến cả tư duy, ngôn ngữ, hình ảnh nhưng cũng đầy tính nhân văn cao cả vốn có của thơ ca. Mã Giang Lân sống ân tình và gần gũi, không quan cách cầu kỳ, thơ Mã Giang Lân dù không chịu đứng yên trong nghệ thuật thể hiện nhưng cái hồn ân tình thì vẫn đậm chất Mã Giang Lân. Với đoạn thơ sau đây thì tôi muốn ghi lại nguyên bản theo lối xuống dòng để bạn đọc nhìn được cái lạnh lẽo, não nề, cô độc của người về huyệt mộ cùng cái lẽo đẽo, nối hàng, lặng lẽ, chống chếnh của đoàn người đưa tang trôi giữ lòng phố xá:

  “anh nằm giữa mùa đông

                         một mình

                                lạnh

                               những vòng hoa trắng

Bạn bè,  đồng nghiệp sinh viên

                                chống chếnh bên nhau

                                          lặng lẽ

                                             tựa vào xe tang

Chiếc xe tang trôi trong thành phố” (Về một chuyến ra đi)

      Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nông thôn… là những cụm từ, những khái niệm hiện đại ai ai cũng thuộc, cũng biết. Và ai là người đã từng gắn bó với đất quê cũng đều mang nỗi ngậm ngùi hối tiếc về vẻ đẹp một thời của làng mạc, quê hương. Mã Giang Lân cũng thế, nhưng cảm nhận của nhà thơ sâu, nỗi đau của nhà thơ thật nên viết về vấn đề hiện đại bằng một hơi thơ hiện đại mà đọc lên nghe cứ ngùi ngùi khi thấy cái xác của “hồn làng nằm trên cột ăng-ten”:“Đồng làng còn bằng bàn tay/ cây đa ngã xuống/ hồn làng nằm trên cột ăng-ten/ nghe đô thị hóa” (Cánh đồng làng). Và đến những câu thơ sau đây thì tôi tin rằng, các bạn có thể đồng cảm cùng tôi để khẳng định rằng: thơ Mã Giang Lân quả là hiện đại. Hiện đại cả về nội dung thể hiện, lối tư duy thơ, ngôn ngữ thơ… Ai đã gặp thầy Lân rồi mà đọc những câu thơ này mới phát hiện ra rằng: khám phá hồn thơ Mã Giang Lân còn thú vị hơn nhiều, dẫn ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:“Trải nghiệm cùng ba “Et”/ Sun/ Sea/ Sex//…/ Tàu cao tốc lao vào Sea/ ô tô lao vào Sun/ mắt lao vào Sex/ Đêm về ngất lịm/ hết hơi” (Du lịch). Cuối cùng, xin mời các bạn nghe nhà thơ hưu trí Mã Giang Lân “Nói theo @”. Nghĩa là nói theo ngôn ngữ hiện đại, theo thế hệ hiện đại của thời đại vi tính, và theo cách ngắt dòng bất chợt của lối thơ Tân hình thức mang âm hưởng Hậu hiện đại của thơ ca đương đại:“Bây giờ nói theo a còng/ cái lưỡi phải dẻo/ kẹo nhảy nhót phím đàn vi tính/ trên mạng cần chua/ chat rõ nghĩa hình/ và cứ thế bay ngoài ý thức/ Đôi lúc/ anh và em bên bờ/ sông rộng thênh/ thang làm sao bắc/ nhìn nhau qua nước/ mắt xa xăm” (Nói theo @)). Tân hình thức nhưng không phải theo kiểu a dua cho ra vẻ bằng cách ngắt dòng cơ học theo lối “Enter”, mà mỗi ngắt dòng của đoạn thơ này đều là một thử nghiệm bắc cầu mở nghĩa. Đặt từ “kẹo”, từ “chat”, từ “sông”, từ “thang”, từ “mắt” đi với từ  liền chúng ở câu trước thì mang một trường nghĩa riêng, nhưng đặt những từ này làm từ mở đầu cho câu thơ sau thì lại chứa thêm một trường nghĩa nữa. Quả là một hồn thơ nhạy cảm, sáng tạo và không chịu đứng yên.

      Tôi gọi “Thơ Mã Giang Lân - bền lòng và hiện  đại” bởi vì chính những lẽ trên…

                                                                                    Quảng Ngãi, mưa giông, Hè  2010 

---------

Tài liệu trích:

1. Bình minh và tiếng súng (tập thơ), Mã Giang Lân, 1975

2. Hoa và dòng sông (tập thơ), Mã Giang Lân, 1979

3. Một tình yêu như thế (tập thơ), Mã Giang Lân, 1990

4. Những mảnh vỡ tiềm thức (tập thơ), Mã Giang Lân, 2009

5. Về một cây cầu, (thơ và trường ca), Mã Giang Lân, Nxb Hội Nhà văn, 2010

 

 

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN SƠN TÙNG NHỮNG NGÀY Ở TRUNG TÂM CẤP CỨU BẠCH MAI
· ĐIỀN NGỌC PHÁCH-NGƯỜI THỢ GIEO HẠT NHÂN TÌNH VÀO THƠ
· SỰ BAO CẤP TRONG THƠ
· VĂN NGHỆ TRẺ, NGÀY ẤY...
· NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG
· VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM - TỪ GÓC NHÌN... (1)
· TẠI SAO VĂN HỌC VIỆT NAM CHƯA CÓ TÁC PHẨM ĐỈNH CAO?
· MỘT CÁCH TỒN TẠI NGƯỢC CHIỀU GIÓ THỔI
· ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC
· VĂN CHƯƠNG VÀ BỆNH 'TỰ YÊU MÌNH'
· CHÚNG TA HAY LONG TRỌNG HÓA CẢ NHỮNG TRÒ CHỈ ĐỂ MUA VUI
· CHÁT VỚI TRẦN ĐĂNG KHOA
· 'ÔNG HOÀNG THƠ TÌNH' CỦA TÔI
· MẤY CÂU VÈ CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI NHÀ VĂN
· TRƯỜNG PHÁI THƠ VIỆT TỪ CẢM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI VIỆT
· KHI NHÀ VĂN ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC
· TẠ VŨ - NGƯỜI GỌI HOA XOAN NỞ
· TRẦN QUỐC THỰC - NHỮNG LỜI NGẬP NGỪNG CHÂN CẢM
· PHẠM TIẾN DUẬT-NGƯỜI ĐI LẠC TRONG HÒA BÌNH
· VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VÀ BÁO CHÍ TRONG CUỘC SỐNG

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_jc762i8ujsbhe8ma3j6v1kvla4, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0