DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
BÀN THÊM VỀ HÌNH THỨC GẮN BÓ VỚI NỘI DUNG TRONG THƠ NGUYÊN SA

                                                                                                                                      Trần Văn Nam

 

Cách đây khoảng mười năm, năm 1988 (Bài này viết năm 1998), nhà thơ Nguyên Sa đã cho ra đời tập thơ thứ hai của ông, tại California. Trong đó có một số bài thơ lục bát bí ẩn, thấp thoáng mờ ảo về tình dục và thân thể mỹ nhân. Gần hai trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du, mặc dù đang sống trong xã hội dưới ảnh hưởng khe khắt của Nho Giáo, vậy mà đã có các câu thơ "Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên" hay "Con ong đã tỏ đường đi lối về". Thơ Hồ Xuân Hương cũng vậy. Vài người làm thơ có hình ảnh tình dục vì ẩn ức, vì thách đố chống lại phong tục tập quán xã hội, hoặc vì một tư tưởng triết lý nào đó, hoặc vì để nhạo báng kẻ quyền trên chức trọng (như trong bài thơ phổ biến tưởng chừng đã thuộc văn chương truyền khẩu: Vũng Lội Làng Ngang). Những câu thơ trên của Nguyễn Du, trước hết cho ta một ấn tượng về mỹ cảm. Bài thơ "Tháng Tám Riêng" của Nguyên Sa cũng cho ta một ấn tượng mỹ cảm. Trong khoảng thời gian đã kể trên, ông còn có một số bài thơ cùng loại nhưng không được ông cho in vào tập thơ thứ hai ấy (đăng trong tuần báo Dân Chúng dưới bút hiệu Trần Khiết). Đọc kỹ, ta cũng thấy một chút bí ẩn lồng trong cuộc gặp gỡ đẹp giữa con trăng và dòng sông, đàm thoại những điều gì đó thật mơ hồ:

 

Ta vừa bán được con sông

Ở trên lầu cũ chỉ còn con trăng

Nửa đêm uống được ba phần

Con trăng xuống hỏi chỗ nằm ở đâu

Này em dòng nước trắng phau

Cho ta bờ cỏ gối đầu nghe em.

(Bờ Cỏ)

 

Đến tập thơ thứ ba xuất bản năm 1995, cũng ở California, chỉ còn một vài câu có lẽ vẫn nằm trong chiều hướng về hình tượng bí ẩn thuộc về tập thơ thứ hai, như trong bài "Tiếng Biển", "Âm Nhạc" và bài "Tôn Nữ Thanh Hằng" trích ở dưới đây:

 

Gặp em Tôn Nữ Thanh Hằng

Anh mơ triều đại Công Tằng Nữ Tôn

Lúc vô thấy núi, thấy non

Khi về nhớ nốt ruồi son tuyệt vời...

 

Nhưng đa số các bài thơ lục bát khác trong tập thơ thứ ba hình như đều chuyển hướng về sự nhẹ nhàng, hình ảnh thanh thoát, tưởng như cổ điển.  Một số bài có vẻ thời sự, thực tế.  Một ít bài thực sự gần với cổ điển, và một số bài nằm trong ý hướng sáng tạo nhạc tính, sáng tạo hình ảnh. Đây là hai bài thơ điển hình về sự nhẹ nhàng thanh thoát:

 

Em cười tà áo bay trên

Đám mây ở dưới nỗi phiền muộn xa,

Anh ngồi chỗ hẹn hôm qua

Đám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,

Giấc mơ mặc áo lụa vàng

Nơi anh nằm ngủ có hàng thùy dương

(Nhẹ Nhàng)

 

Mùa xuân em mặc áo vàng

Ở trong thơ cổ chim hoàng hạc bay

Em vừa xoay nhẹ vai gầy

Nhìn coi vũ điệu vào đầy giấc mơ

Nh&igra