Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_mmtguf4sg1rvv2mv22lc9d7cn3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGHI ÁN GIỚI TÍNH CỦA ÔNG HOÀNG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU

                                                                                                                      LÃ XƯA

Thi sĩ Xuân Diệu

Nghi án về giới tính của nhà thơ Xuân Diệu là một bí mật trong suốt một thập kỷ qua. Những nghi ngờ không phải không có nguyên cớ của nó. Những gì xẩy ra trong của sống của nhà thơ Xuân Diệu thủa sinh thời qua lời kể của những nhân chứng đã từng được công bố, những vần thơ “lạ” của ông đã để lại để lại cho dư luận nhiều thắc mắc.

Nhà thơ Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng với một tài sản thi ca đồ sộ tạo dựng nên danh xưng bất khả xâm phạm “ông hoàng thơ tình Việt Nam” mà cuộc sống riêng của ông cũng nổi tiếng không kém. Trong suốt một thế kỷ qua, nghi án giới tính của Xuân Diệu vẫn là một dấu hỏi lớn. Có nhiều lý do, đặc biệt là đặc điểm xã hội trước đây còn e dè với vấn đề giới tính nên nghi án của Xuân Diệu cứ lúc chìm lúc nổi đây đó qua hồi ký, bài viết của một số nhà văn. Ngày nay, khi xã hội đã có một cái nhìn cởi mở về vấn đề giới tính, Đời sống & Pháp luật quyết định đi tìm sự thật của bí mật đã tồn tại gần một thế kỷ qua. Trong quá trình tìm tư liệu cho loạt bài này, chúng tôi cũng được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đồng tình của những người bạn văn và đặc biệt là những người thân của nhà thơ Xuân Diệu như: Đạo diễn Bạch Diệp – người vợ duy nhất; Luật sư Cù Huy Hà Vũ – người thừa kế duy nhất của nhà thơ Xuân Diệu. Việc giải mã nghi án giới tính của Xuân Diệu là để hiểu hơn về cuộc đời của một nhà thơ lớn, qua đó cảm nhận sâu hơn, hiểu đầy đủ hơn giá trị tài sản thi ca khổng lồ của “ông hoàng thơ tình Việt Nam”.

Lời thơ mê đắm tặng người… đồng giới

Phó Viện trưởng Viện Văn học Nguyễn Đăng Điệp đánh giá Thơ mới Việt Nam chỉ có “tứ bất tử” gồm Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, và Nguyễn Bính. Nhưng trong suốt một thế kỷ qua, dường như ngai vàng của “Vua thơ tình” vẫn chỉ có một mình Xuân Diệu ngự trị. Những áng thơ tình bất hủ, những câu chữ mê đắm như: “Em bước điềm nhiên không vướng chân/Anh đi lững thững chẳng theo gần/Vô tâm – Nhưng giữa bài thơ dịu/ Anh với em như một cặp vần… Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy/Lòng anh thôi đã cưới lòng em”.

Không ít người mê thơ Xuân Diệu đều mơ tưởng về người phụ nữ được thi sĩ yêu tha thiết, đắm đuối đến như vậy, hẳn sẽ là người hạnh phúc nhất nhân gian này. Đó hẳn là một trang tuyệt sắc giai nhân hoặc là một người có tâm hồn lớn lao, có trái tim yêu cùng nhịp đập với thi sĩ, được thi sĩ nâng niu, mê mải vô vàn: “Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ?/Anh tham lam, anh đòi hỏi quá nhiều. Anh biết rồi, em đã nói em yêu/Sao vẫn muốn nhắc một lời đã cũ?”.

Nhưng rồi một loạt những bài thơ như “Tình trai”, “Em đi”… và cả những bài thơ tình đắm đuối khác tặng người đồng giới đã khiến văn đàn Việt Nam dấy lên dấu hỏi đầy nghi ngờ về giới tính của Xuân Diệu. Và đặc biệt là sau khi cuốn hồi ký “Cát bụi chân ai” của nhà văn Tô Hoài được xuất bản năm 1993, nghi án này lại thêm một lần nữa bùng nổ. Lúc ấy, những câu hỏi về cuộc đời riêng tư của “ông hoàng thơ tình” và khơi lại câu chuyện về người đàn bà duy nhất trong cuộc đời Xuân Diệu, đó là nữ đạo diễn nổi tiếng Bạch Diệp.

Những nghi ngờ về các mối “tình trai”, những mối quan hệ với người đồng giới của Xuân Diệu càng lớn hơn khi người ta biết rằng cuộc hôn nhân với người vợ duy nhất ấy chỉ kéo dài vẻn vẹn 6 tháng. Tuy nhiên, cho đến nay, thực sự chưa có một bằng chứng rõ rệt nào chứng minh về sự “đồng tính” của Xuân Diệu ngoài những lời đồn thổi và một số những mẩu chuyện được kể qua hồi ức của một số người. Dù vậy, chính từ nhiều bài thơ của Xuân Diệu đã khiến người ta không thôi đặt dấu hỏi nghi vấn.

Trong bài thơ “Ba lời cảm ơn” của Xuân Diệu vừa được công bố lần đầu tiên cách đây vài tuần có những lời thơ tình thật thắm thiết: “Cảm ơn trời đất thật tài hoa/Đưa hết tình anh với đậm đà/Đem cả bài thơ và khúc nhạc/Sắc trời hương đất tạo em ra. Cảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên/Sinh tạc ra em khối diệu huyền/Dáng nét làm cho anh quyến luyến/ Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên. Lắm lúc nhìn em sững mắt anh/Cảm ơn em đã đón anh nhìn/Anh nhìn như thể rơi con mắt/Và cả thời gian cũng đứng im”.

Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét, giọng điệu bài thơ như là tặng cho một người phụ nữ mà Xuân Diệu yêu say đắm. Nhưng thực chất, bài thơ đó lại được Xuân Diệu chép tặng cho một người đàn ông, sau một thời gian hai người ở cùng nhau trong đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô (cũ). Người đàn ông đó chính là một tiến sĩ trong ngành Dầu Khí – ông Đặng Của. Theo phân tích của nhà thơ Vũ Quần Phương thì: “Thơ Xuân Diệu tặng cho đàn ông mà như viết cho phụ nữ. Cũng có thể hiểu người làm thơ phải thế, không phải cứ bê y nguyên như sự thực ngoài đời. Nhưng gần đây người ta lại bảo Xuân Diệu là người đồng tính, điều đó thì cũng chưa khẳng định được”. Những ngôn từ mạnh mẽ: “Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.. Anh nhìn như thể rơi con mắt/Và cả thời gian cũng đứng im”, tưởng như là tình yêu say đắm với một người phụ nữ, mà cuối cùng hoá ra lại chép tặng một người… đàn ông.

Niềm cảm mến vô ngần với Hoàng Cát!

Những vần thơ đầy cô đơn sau sự chia lìa: “Từ nay anh lại trên đời/Bữa cơm lại với một đôi đũa cầm/Giường kia một chiếu anh nằm/Phòng văn một bóng đăm đăm sớm chiều/Muôn ngàn cảm tạ em yêu/Chất cho anh được bao nhiêu ân tình/Cho hay anh đã để dành/Nén hương một thuở thơm thanh suốt đời/Sống bằng nhớ lại nguồn vui/Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em”. Những tưởng đó là lời thơ tạ từ, thể hiện nỗi buồn chỉ còn lại một mình thi sĩ đơn côi sau khi chia tay với người vợ duy nhất là Bạch Diệp. Nhưng sau đó, người ta lại cho rằng khúc thương tâm đó không phải dành cho Bạch Diệp, mà dành cho một người đàn ông tên Hoàng Cát. Đó là một nhà báo trẻ, điển trai rất yêu thơ Xuân Diệu và còn là người em nuôi của Xuân Diệu.

Khi Hoàng Cát đi vào chiến trường miền nam, Xuân Diệu có nhiều bài thơ tiễn Hoàng Cát, trong đó có những câu như: “Bốn năm, nhưng cũng qua mau/Cõi trần ai được ở lâu thiên đường/Giã từ, từ biệt, đôi phương/Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường, khổ anh/Bốn năm lại khép trời xanh/Nhớ em như một mộng lành mà thôi..”. Đúng là kể từ ngày họ quen nhau cho đến lúc Hoàng Cát đi chiến trường là đúng bốn năm.

Nhưng có lẽ điển hình nhất thể hiện niềm yêu mến, cảm nhớ của Xuân Diệu với Hoàng Cát là bài “Em đi” viết vào đêm ngày 11/7/1965 với đề tặng cho Hoàng Cát ở phía dưới: “Em đi, để tấm lòng son mãi/Như ánh đèn chong, như ngôi sao/Em đi, một tấm lòng lưu lại/Anh nhớ thương em, lệ muốn trào. Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga/Chưa chi ta đã phải chia xa!/Nụ cười em nở, tay em vẫy/Ôi mặt em thương như đóa hoa. Em hỡi! Đường kia vướng những gì/Mà anh mang nặng bước em đi!/Em ơi, anh thấy như anh đứng/Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa. Nhưng bóng em đi đã khuất rồi/Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!/Tình ta như mối dây muôn dặm/Buộc mãi đôi chân, dẫu cách vời/Em hẹn sau đây sẽ trở về/Sống cùng anh lại những say mê…/Áo chăn em gửi cho anh giữ/Xin gửi cùng em cả hẹn thề!. Một tấm lòng em sâu biết bao/Để anh thương mãi, biết làm sao!/Em đi xa cách, em ơi Cát/Em chớ buồn, nghe!Anh nhớ yêu…”.

Lần đầu tiên Xuân Diệu và Hoàng Cát gặp nhau là năm 1958, khi ấy Hoàng Cát mới 17 tuổi, trâu bị lạc, anh đang chạy đi tìm thì gặp Xuân Diệu ngồi nghỉ dưới tán cây giữa cánh đồng làng anh. Lúc ấy Xuân Diệu đang trong chuyến đi thực tế về Nghệ An, tay cầm cặp bánh chưng, anh cho Hoàng Cát một cái bánh. Nhà văn Nguyễn Quang Lập trong bài viết về “Hoàng Cát- chuyện văn, chuyện đời” có ghi: “Có một người nữa khi đang vui hễ ai nhắc đến là mặt Hoàng Cát cũng đờ ra, đó là Xuân Diệu. Ai cũng biết Hoàng Cát và Xuân Diệu là anh em kết nghĩa nhưng quan hệ của họ đã vượt quá tình anh em, đạt đến cái gọi là tình yêu, có lẽ điều này thì nhiều người không biết”. Sau buổi gặp gỡ trên cánh đồng làng ở khúc ruột miền trung, Hoàng Cát và Xuân Diệu trở nên thân thiết nhau. Nhà văn Nguyễn Quang Lập viết: “Từ đó anh em thân nhau, rồi yêu nhau, chính xác chỉ có Xuân Diệu yêu Hoàng Cát, còn Hoàng Cát suốt cả đời mình chỉ biết thương Xuân Diệu, thương đến vô cùng. Thương quá hóa chiều, Hoàng Cát chỉ chiều yêu Xuân Diệu mà thôi… Và Hoàng Cát khóc, nước mắt chan chứa, vừa khóc vừa đọc bài thơ Xuân Diệu viết tặng anh 45 năm về trước, ngày anh lên đường nhập ngũ. Anh nói: ầy, tau không yêu Xuân Diệu theo kiểu trai gái yêu nhau, ầy, nhưng mà tau thương, thương lắm bay nờ…”. Rồi Nguyễn Quang Lập hỏi Xuân Diệu có yêu anh không thì Hoàng Cát nói yêu chớ, Xuân Diệu yêu tau thiệt mà, yêu lắm mi nờ!”.

Nhưng câu chuyện nhiều bí ẩn và gây nhiều câu hỏi nhất là cuộc hôn nhân ngắn ngủi giữa nhà thơ Xuân Diệu và nữ đạo diễn Bạch Diệp. Họ đã rất hạnh phúc nhưng bất ngờ chia tay chỉ sau 6 tháng mà không rõ nguyên nhân…

Người gắn bó cả đời như hình với bóng cùng Xuân Diệu chính là nhà thơ Huy Cận. Không chỉ là bạn thơ, bạn từ thuở học sinh mà Huy Cận còn từng là em rể của Xuân Diệu. Một loạt bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến, nồng thắm giữa hai người khiến dư luận không thôi bàn tán về quan hệ giữa họ…

‘Chàng thơ’ Huy Cận hay lời ‘tự thú’ của thi nhân?!

Nhà thơ Huy Cận sinh ngày 31/5/1919 trong một gia đình nhà nho ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh).

Tháng 8 năm 1945, Cù Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ Lâm thời (cùng Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu) đi vào Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của Vua Bảo Đại.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, khi mới 26 tuổi, ông đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ.

Sau này ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phụ trách các công tác văn hóa và văn nghệ.

Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I – năm 1996).

Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Huy Cận mất ngày 19/1/2005 tại Hà Nội.

Em rể thành “chàng thơ”?!

Gần như suốt cả cuộc đời, Xuân Diệu và Huy Cận luôn song hành bên nhau như hình với bóng. Huy Cận từng có thời kỳ trở thành em rể của Xuân Diệu khi lấy Ngô Xuân Như, em gái Xuân Diệu làm vợ. Nhưng từ trước đó, vào những năm 30 của thế kỷ trước, họ đã quen nhau khi cả hai còn là học sinh trung học ở Huế. Trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến năm 1940, Xuân Diệu và Huy Cận sống cùng nhau tại ngôi nhà ở số 40 Hàng Than, Hà Nội. Ngày ấy, họ sống trong căn phòng trên gác, phía dưới là gia đình nhà thơ Lưu Trọng Lư. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Xuân Diệu và Huy Cận lại có thời gian gắn bó cùng nhau trên chiến khu Việt Bắc. Sau năm 1954, đôi bạn thơ lại sống cùng nhau trong căn nhà ở 24 Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ, Hà Nội). Gia đình Huy Cận ở trên gác còn Xuân Diệu sống phía dưới. Huy Cận đã tả sự sóng đôi này trong thơ: “Đêm đêm trên gác đèn chong /Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ hay/ Dưới nhà bút chẳng rời tay /Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ/ Bạn từ lúc tuổi còn tơ /Hai ta hạt chín trong mùa nắng trong/ Ánh đèn trên gác dưới phòng/ Cũng là đôi kén nằm trong kén trời”.

Cách xưng hô “hai ta” này được dư luận trên văn đàn Việt Nam cho là “lạ” bởi người Việt thường hay dùng từ đó để chỉ cặp đôi trong tình yêu đôi lứa. Sau này, trong bài “Nửa thế kỷ tình bạn” in trong tập Xuân Diệu – con người và tác phẩm, Huy Cận kể: “Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường tú tài Khải Định, Huế. Anh Diệu học năm thứ 3, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và đồng thanh tương ứng, kết bạn với nhau gần như tức khắc. Năm 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo, tôi học năm thứ hai ban tú tài. Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hàng tuần. Năm 1938 tôi ra sống với anh Diệu ở chân đê Yên Phụ… Rồi tựu trường năm 1939, Huy Cận và Xuân Diệu sống ở tầng gác nhà số 40 Hàng Than. Đến cuối năm 1940, Xuân Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho, chúng tôi tạm xa nhau, buồn đứt ruột, hàng tuần viết thư cho nhau, có tuần, hai ba lá thư”. Bài thơ Vạn lý tình (Huy Cận) thể hiện sâu sắc tình cảm, nỗi nhớ của họ: “Người ở bên này, ta ở đây/ Chờ mong phương nọ, ngóng phương này/ Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm/ Vạn lý sầu lên núi tiếp mây… Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày/ Chiếu chăn không ấm người nằm một/Thương bạn chiều ôm, gối sầu tay”. Cũng trong năm 1940, bài thơ “Ngủ chung” của Huy Cận được xuất bản trong tập Lửa thiêng với những ngôn từ như “ân ái, đôi lứa, chuyện canh sương…”, càng khiến dư luận thêm đặt dấu hỏi về quan hệ của ông với Xuân Diệu: “Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường/ Đâu nữa tay choàng làm gối ấm/ Còn đâu đôi lứa chuyện canh sương… Nệm là hơi thở, da: chăn ấm/ Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn?”. 

Đến mùa hè năm 1942, Huy Cận đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm. Xuân Diệu liền điện hỏi Huy Cận: Diệu từ chức được chưa?, Huy Cận liền trả lời: Từ chức ngay, về ngay Hà Nội. Thế là họ trở về sống cùng nhau trên gác ngôi nhà số 61 phố Hàng Bông, Hà Nội và tiếp tục làm thơ. Bài thơ “Mai sau” của Huy Cận càng thể hiện tình thân thiết, thương yêu của hai người: “Chiều nay đây nửa thế kỷ hai mươi/ Viết dăm câu tôi gửi lại vài người/ Những thế hệ mai sau, làm bè bạn/ Hỡi ai đó, có nhớ lòng Huy Cận/ Gọi gió trăng mà thỏ thẻ lời trên/ Rất thương yêu, xin nhớ gọi giùm tên/ Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu”. Vậy là, hai thi sĩ tri ân, gắn bó, chung sống bên nhau suốt gần nửa thế kỷ mãi cho đến năm 1985 khi Xuân Diệu mất. Viết về tình yêu, tình cảm gắn bó ấy, chính Huy Cận nhiều khi cũng thấy làm lạ: “Hai đứa rồi ra nghĩ cũng kỳ/ Thương nhau hơn ruột thịt dường ni/ Mà đàn mỗi đứa riêng âm sắc/ Cuộc sống muôn màu lặp lại chi!”. Vào lúc 7 giờ 40 phút ngày 18/12/1985, Xuân Diệu mất, đúng lúc ấy, Huy Cận đang ở Dakar (Senegal) đột ngột bị xuất huyết nặng.

Người vợ duy nhất trong 6 tháng của Xuân Diệu, nữ đạo diễn Bạch Diệp cũng khẳng định về tình cảm sâu sắc, mối quan hệ gắn bó, khăng khít vô cùng giữa Xuân Diệu và Huy Cận.

Lời “tự thú” của thi nhân?

Huy Cận có “Ngủ chung”, “Vạn lý tình”, “Mai sau” thì Xuân Diệu cũng có một loạt những thi phẩm khiến người ta liên tưởng đến tình cảm giữa những người đàn ông với nhau. Không chỉ là tình cảm nồng thắm với Hoàng Cát (ĐS&PL cuối tuần ra ngày 11/4/2010) thể hiện qua một loạt bài thơ tình bất hủ, mà câu thơ tha thiết này Xuân Diệu viết tặng Huy Cận: “Với bàn tay ấy ở trong tay/ Tôi đã nguôi quên hận tháng ngày”. Cùng thời điểm trước năm 1945, bài thơ “Tặng bạn bây giờ” của Xuân Diệu với giọng điệu buồn thương, hờn dỗi khi có người đi lấy vợ càng làm tăng thêm nghi vấn về những mối quan hệ tình cảm thân thiết của Xuân Diệu với người đồng giới: “Ta biết ngày mai em có vợ/ Đi làm hai bữa, tối về thăm/ Cơm xong, chén nước chờ bên cạnh/ Em bế thằng con được mấy năm… Em ngồi trông vợ thấy nàng tiên/ Là một người thôi, mộng hão huyền/ Ta bước bên đường kêu gọi mãi/ Nhớ người bạn cũ thuở anh niên/ Em nghe tái tê dưới hàng mi/ Tiếc thuở say nồng, nhớ bạn si/ Khép mắt buồn xa, em sẽ bảo/ Có chàng Xuân Diệu thuở xưa kia”.

Nhưng có lẽ, cách nhìn nhận, quan điểm về tình cảm giữa hai người đàn ông được Xuân Diệu thể hiện nổi bật nhất trong bài thơ “Tình trai”; “Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine/ Hai chàng thi sĩ choáng hơi men/ Say thơ xa lạ, mê tình bạn/ Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen/ Những bước song song xéo dặm trường/ Đôi hồn tươi đậm, ngát hoa hương/ Họ đi tay yếu trong tay mạnh/ Nghe hát ân tình giữa gió sương/ Kể chi chuyện trước với ngày sau/ Quên ngó môi son với áo màu/ Thây kệ thiên đường và địa ngục/Không hề mặc cả, họ yêu nhau”.

Không ít dư luận cho rằng, đó là lời “tự thú” của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu trước những lời đồn thổi về giới tính của ông xuất hiện suốt từ thập niên 30 thế kỷ trước. Người ta cho rằng, thi nhân tài hoa Xuân Diệu đã mượn chuyện tình giữa hai nhà thơ đồng tính Rimbaud và Verlaine để thể hiện sự đồng điệu, quan điểm về những tình yêu không giới hạn, vượt ra khỏi khuôn khổ hà khắc của xã hội. Paul-Marie Verlaine là một trong những nhà thơ lớn của Pháp thế kỷ XIX. Ông từng có những năm tháng tình ái với nhà thơ trẻ Arthur Rimbaud. Đây là quãng thời gian Verlaine viết những bài thơ hay nhất của mình. Mối tình trai giữa hai thi nhân nổi tiếng rốt cuộc không thoát khỏi ánh mắt hiếu kỳ của dư luận. Không dễ dàng được chấp nhận vào thời bấy giờ, họ đã quyết định rời Paris, đến London tận hưởng cuộc sống như những người bạn đi du lịch cùng nhau. Trong một lần giận dỗi giữa hai người, Rimbaud đã viết hàng chục bức thư cầu xin Verlaine trở lại. Trong đó, có những câu ông viết: “Anh nghĩ là đi với người khác đời anh sẽ hạnh phúc hơn ư?” hay “Chỉ có sống cùng tôi, anh mới có được tự do thôi”.

Bất chấp bao lời đồn thổi về những quan hệ tình cảm với người đồng giới xuất hiện từ thập niên 30 của thế kỷ XX, đến năm 1958 thi nhân Xuân Diệu đột ngột lên xe hoa cùng nhà báo Bạch Diệp. Những nghi vấn về giới tính một thời tưởng như mãi chìm vào dĩ vãng, nhưng cuối cùng lại bùng lên khi cuộc hôn nhân ấy kết thúc một cách chóng vánh sau 6 tháng. Ít ai biết rằng, mối tơ duyên giữa hai con người tài hoa ấy đã kỳ lạ ngay từ đêm đầu tiên – đêm tân hôn.

Người vợ duy nhất và đêm tân hôn kỳ lạ! 

 

Xuân Diệu - Bạch Diệp

 

 
 ”Xuân Diệu là một người chồng rất chiều vợ!”

Nữ đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam, Bạch Diệp, hồi tưởng: “Sau mỗi ngày đi làm, tôi thường chuẩn bị thức ăn mang về để nấu bữa tối cùng mẹ chồng. Bà ở nhà nên cũng đỡ đần giúp chúng tôi việc nhà cửa, cơm nước. Bữa tối gia đình ngày ấy rất ấm cúng, cả nhà bao giờ cũng có mặt đầy đủ trong bữa ăn sum họp”. Bạch Diệp bảo, Xuân Diệu là một người chồng rất chiều vợ, chỉ với chiếc xe đạp cũ ông đã chở bà đi khắp nơi. Dù có phải đạp xe hàng chục cây số, người đàn ông đã ngoài 40 tuổi ấy vẫn tỏ ra vui thích và thường lẩm nhẩm đọc thơ khi đang đạp xe. “Tôi còn rất thích đi xem phim, xem kịch, Xuân Diệu cũng chiều theo, luôn chở tôi đi xem chứ không như nhiều người đàn ông thời bấy giờ không muốn cho vợ đi đến rạp”, người vợ duy nhất của Xuân Diệu nhớ lại.
 
Đám cưới của “ông hoàng thơ tình”

Người đàn bà duy nhất trong cuộc đời “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu chính là nữ đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam – Bạch Diệp. Họ trở thành cặp uyên ương trai tài gái sắc vào năm 1958 qua mai mối của ông Hoàng Tùng, Nguyên Tổng biên tập báo Nhân dân, nơi Bạch Diệp công tác khi ấy. Bạch Diệp trở thành vợ của “ông hoàng thơ tình” Việt Nam Xuân Diệu năm 29 tuổi, còn Xuân Diệu đã ngoài 40.

Bà Bạch Diệp nhớ lại: Trước đó, vào một ngày cuối mùa đông năm 1957, trong cái rét như cắt da cắt thịt của Hà Nội, ông Hoàng Tùng chợt gọi Bạch Diệp lại và bảo sẽ giới thiệu chồng cho cô. Bạch Diệp nghe thấy vậy liền giãy nảy phản đối. Hoàng Tùng liền nhẹ nhàng bảo: người này anh ngắm kỹ cho em rồi, không ai xứng đáng hơn đâu. Chính là ông hoàng thi ca – Xuân Diệu đấy. Bạch Diệp khi ấy vốn là một người yêu thơ ca và cô rất phục tài năng của thi sĩ Xuân Diệu. Cô thường chép những bài thơ tình của Xuân Diệu vào cuốn sổ tay.

Lần gặp đầu tiên, Bạch Diệp dường như đã bị chìm trong đôi mắt to, sáng và thăm thẳm của “ông hoàng thơ tình”. Xuân Diệu lúc ấy tuy đã ngoài 40 tuổi, nhưng trông vẫn rất bảnh bao, cuốn hút với vầng trán cao và những sợi tóc loăn xoăn bồng bềnh, lãng mạn. Những buổi hẹn hò sau đó, Xuân Diệu thường chở Bạch Diệp trên xe đạp lang thang ra ngoại ô chơi. Một lần, đang rong ruổi trên đường, một cơn mưa lớn bất chợt ập đến, Xuân Diệu liền kéo Bạch Diệp vào trú dưới một mái hiên. Thi sĩ rút khăn mùi xoa, lau từng giọt mưa lấm tấm trên mặt người bạn gái khiến nàng cảm động trong lòng. Những bông hoa hồng tươi thắm được Xuân Diệu cầu kỳ lựa chọn từ tiệm rồi mới mang tặng khiến nàng thêm đắm đuối trong bầu không khí lãng mạn của thơ và hoa. Ngày ấy, Xuân Diệu thường từ ngôi nhà ở 24 Cột Cờ đi xuống nhà nàng ở cuối phố Bà Triệu, nơi có hàng hoa dạ lan thơm nức. Nàng trở thành nguồn cảm hứng để Xuân Diệu viết nên bài thơ tình tứ tuyệt bất hủ: “Tôi cầm mùi dạ lan hương/ Trong tay đi đến người thương cách trùng/ Dạ lan thơm nức lạ lùng/ Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương”.

Gần đến ngày cưới, một cô bạn đồng nghiệp kéo Bạch Diệp lại bảo: Nghe người ta nói anh Xuân Diệu có vấn đề đấy, phải xem lại đi, không lại lỡ dở đời con gái. Bạch Diệp gạt đi: Người ta ghen ghét, nói xấu anh Diệu thôi. Trước đám cưới vài ngày, Bạch Diệp giục Xuân Diệu đăng ký kết hôn nhưng anh lại ậm ừ cho qua, kêu để từ từ. Giục mấy lần không thấy Xuân Diệu động tĩnh gì nên Bạch Diệp thôi không nhắc nữa. Đám cưới diễn ra vào cuối tháng 4 năm 1958, do cơ quan Bạch Diệp tổ chức. Bạch Diệp trong bộ áo dài đội voan trắng muốt, hạnh phúc trở thành nữ hoàng thi ca của Xuân Diệu.

Đêm tân hôn… kỳ lạ!

Cưới xong, đôi vợ chồng trẻ được thu xếp ở trong một căn phòng nhỏ nhắn nhưng ấm cúng. Phía đầu giường còn gắn chữ “Hỉ” màu đỏ. Người chồng Xuân Diệu khi ấy tỏ ra rất chu đáo, ông lọ mọ đun ấm nước sôi, pha vào chậu men cho vợ. “Ông hoàng thơ tình” còn chu đáo đến độ tự nhúng tay thử độ ấm chậu nước xem đã vừa chưa rồi mới bảo nàng đi tắm. Chậu nước ấm thơm nức mùi hương hoa do chính tay chú rể chuẩn bị khiến Bạch Diệp thêm phần cảm động. Ngồi trong căn phòng tân hôn nhỏ, cô nữ sinh trường dòng Saint Dominique ngày nào đầy ắp tâm trạng e ấp, ngại ngùng của một cô gái lớn lên trong môi trường của các bà Xơ. Rồi bàn tay mềm mại của Xuân Diệu đặt lên vai. Bạch Diệp tim đập thình thịch, má đỏ bừng ngượng ngùng… Chợt Xuân Diệu cất tiếng hỏi: em có thấy cái bút ở đâu không?. Ngạc nhiên, nàng hỏi lại: để làm gì hả anh?. Xuân Diệu không trả lời, ông lục tung bàn, giấy tờ và cúi cả xuống gầm giường tìm bút. Rồi ông thắp thêm cây nến, Xuân Diệu ngồi vào bàn, loay hoay viết một lúc rồi cầm tờ giấy quay sang đọc thơ cho vợ nghe và hỏi ý kiến nàng. Xong chú rể mới lại hì hụi, cắm cúi viết như quên mất cô dâu và đêm tân hôn phải diễn ra như lẽ thường của các đôi vợ chồng mới cưới.

Sáng bảnh mắt sau đêm tân hôn của… thơ, Bạch Diệp đi làm. Và hàng đêm, thi nhân vẫn miệt mài với bàn, với mực và miên man trong những vần thơ lai láng. Bạch Diệp cũng không tỏ thái độ gì, nàng như một con chiên ngoan ngoãn lạ lẫm với sự đời. Nhớ lại những ngày ấy, nữ đạo diễn Bạch Diệp bảo: “Tôi lớn lên trong môi trường giáo dục khắt khe của cha mẹ. Ngày nhỏ cha tôi cấm không được đọc tiểu thuyết như mốt thời bấy giờ nên suốt cả thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành, tôi không hề được tiếp cận với những thứ người ta viết về tình yêu, về đôi lứa trai gái hay về nhục dục. Hồi đó, cha tôi chỉ cho đọc sách hồng là loại sách, truyện của trẻ con mà thôi. Rồi tôi lại được gửi về Hải Phòng học trong trường tu viện Saint Dominique nên càng bị bó buộc trong lễ giáo, không biết gì về tình yêu đôi lứa bên ngoài cuộc sống cả”.

Rồi bà thở dài bảo, người cha của bà vốn giỏi tử vi, sau khi lập lá số cho con gái yêu liền nói, số của bà là số đi tu nhưng vì có một ngôi sao phá nên không đi tu được. Ngẫm lại những năm tháng thăng trầm của cuộc đời, bà khẽ nói, có lẽ vì số đi tu mà không đi tu nổi nên tình duyên mới lận đận như vậy. Ngay từ khi còn là một bào thai bé xíu trong bụng mẹ, dường như cái số đi tu đã ấn định vào mệnh của bà. “Tôi có một ông anh trai rất thông minh, khi chưa đến 4 tuổi, chỉ nghe thôi mà đã đọc thuộc làu bộ kinh bằng tiếng Phạn mà ông nội tôi thường tụng. Ông nội tôi thấy vậy liền bảo thằng bé này sẽ yểu mệnh. Được 4 tuổi thì anh tôi mất thật. Mẹ tôi suy sụp đến nỗi ông nội tôi phải cho bà đến nhà thờ nghe giảng kinh. Mẹ tôi chỉ làm mỗi một việc là nghe giảng kinh suốt từ lúc anh tôi mất cho đến khi sinh ra tôi”, bà Bạch Diệp nhớ lại. Thời kỳ hôn nhân với Bạch Diệp, những bài thơ tình của Xuân Diệu vẫn đắm đuối, khát khao: “Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt/ Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng/ Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng/ Gần hơn nữa thế vẫn còn xa lắm” (Xa Cách).

Rồi một đêm nọ, Xuân Diệu không ngồi bên bàn giấy nữa. Thi sĩ đến bên vợ và ôm chặt nàng trong vòng tay, âu yếm hôn nàng, nồng nàn, cuống quýt… Những tưởng đêm ấy là đêm tân hôn thực sự của đôi vợ chồng mới cưới. Nhưng thi nhân đột ngột dừng lại, bỏ ra ngoài phòng. Còn lại người vợ lặng lẽ bên chiếc giường cưới còn vẹn nguyên nếp chăn.
Những đêm “tình trai” ở U tỳ quốc!

Đối với nhiều người, cuốn Hồi ký cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài xuất bản năm 1993 như là “đáp án” cho câu hỏi bấy lâu về giới tính của “ông hoàng thơ tình” Việt Nam. Nhưng ở một nguồn dư luận khác thì lại cho rằng, đó chỉ là những hồi ức của một người, không đủ để chứng minh rằng Xuân Diệu chỉ hoàn toàn mê đắm các mối “tình trai”. Đặc biệt là đoạn tả những đêm “ma quái”: “Bàn tay ma ở đâu sờ vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt lên cổ rồi xuống dần, xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ… Chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, ta là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quít cánh tay, cặp đùi thừng chão trói nhau lại, thít lại, giằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, lên cơn dữ dội, dằn ngửa cái xác thịt kia. Rồi như chiêm bao, tôi rời rã, thống khoái, im lặng… Trời rạng sáng. Xuân Diệu trở về màn mình lúc nào không biết. Tôi hé mắt nhớ lại những hứng thú khủng khiếp. Những cảm giác nồng nàn kích thích trong bóng tối đã trơ ra khi sáng bạch. Tôi chạy xuống cánh đồng giữa mưa… Nhưng đêm mai lại vào cuộc kịch liệt hơn. Trong đêm quái quỷ lại thấy mình không phải mình mọi khi, cũng không biết rồi trời lại sáng. Cho đến khi thật thấy rạng sáng mới rờn rợn tởm”.

Những dòng hồi ức của Tô Hoài về năm tháng ở “U tỳ quốc” Yên Dã, huyện Đại Từ, Thái Nguyên (U tỳ quốc là cách gọi của Xuân Diệu) còn có hình ảnh các chàng trai trẻ cứ tối đến là chạy trốn dạt vào ngủ lang trong xóm. Rồi một ngày, Xuân Diệu bị lôi ra kiểm điểm. “Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Không biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyến rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt nghiêm trang phê phán tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi. Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…! rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả” (Cát bụi chân ai, chương III). Rồi một lần đi công tác, Tô Hoài kể rằng, con gái đi ngang mặt Xuân Diệu cứ dửng dưng như không, nhưng con trai thì xoắn xuýt vòng trong vòng ngoài. Xuân Diệu còn nhìn dõi vào mắt, nắm cổ tay từng đứa, mân mê như chọn đẵn mía!

Bí mật làm tan vỡ cuộc hôn nhân 6 tháng

Sau nhiều năm chôn giấu bí mật về cuộc hôn nhân ngắn ngủi với “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu, cuối cùng, nữ đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Việt Nam – Bạch Diệp – cũng tiết lộ với ĐS&PL về những nguyên nhân khiến cuộc hôn nhân của họ tan vỡ.

Trong căn nhà nhỏ trên phố Đội Cấn, bà Bạch Diệp nhớ lại: “Từ nhỏ tôi đã bị cấm đọc tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết tình yêu, lại học ở trường dòng nên gần như tôi không biết gì nhiều về tình yêu nhục dục, quan hệ vợ chồng. Lấy nhau nhưng đêm tân hôn và cả những ngày sau nữa không có chuyện quan hệ chăn gối nhưng tôi cũng không thắc mắc nhiều đến chuyện đó. Đến khi lấy nhau được 3 tháng thì bố tôi phát hiện chúng tôi chưa ăn ở với nhau. Đó là do một lần chúng tôi đi Quảng Ninh chơi về thì mẹ lôi tôi vào phòng hỏi: thế nào? Thì tôi ngạc nhiên hỏi thế nào là thế nào ạ. Thế là mẹ tôi hỏi thẳng chuyện chăn gối của hai vợ chồng. Tôi liền bảo: con tưởng phải 1 năm sau mới ngủ với nhau chứ, mới mấy tháng đã ngủ gì”.

Sau buổi nói chuyện đó, cha của Bạch Diệp liền gọi Xuân Diệu lên gác nói chuyện. Bố vợ và con rể nói chuyện kín trong phòng một lúc thật lâu thì Xuân Diệu ra về. “Bố tôi bảo Xuân Diệu bị bệnh tiên thiên, không thể quan hệ vợ chồng được. Nhưng Xuân Diệu mắc chứng bệnh đó là do bẩm sinh chứ không phải do chơi bời mà ra. Bố tôi bảo sẽ chữa cho Xuân Diệu. Ông cũng “giao chỉ tiêu” cho chàng rể trong 3 tháng nếu không khỏi bệnh, không làm tròn vai trò của người chồng “thì phải bỏ con Diệp”. Từ đó, ngày nào Xuân Diệu cũng mải miết sắc thuốc uống mong chữa trị được chứng bệnh yếu sinh lý bẩm sinh. Bạch Diệp biết bệnh của chồng thì thêm phần thương xót, không kêu ca, than phiền một lời. Mẹ của Bạch Diệp còn sốt sắng đi tận Hải Dương, Hà Tây, Hải Phòng xem bói. Mỗi lần nghe thầy phán: “thằng chồng nó bị ma ám, phải đem lá bùa này về đốt, lấy tro phá với nước lã, bắt nó uống”; hay “phải xoay giường ra hướng khác, hướng này khí độc”… thì đều về bắt con gái, con rể làm theo. Nhưng cuối cùng chứng bệnh “tiên thiên” của chàng rể cũng chẳng suy suyển chút nào.

PGS. TS Lê Lương Đống, Quyền vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền, Bộ Y tế cho biết: “Bệnh tiên thiên là bệnh mang tính bẩm sinh. Bệnh tiên thiên có rất nhiều dạng chẳng hạn như tim tiên thiên, thận tiên thiên, cơ địa tiên thiên… Những người bẩm sinh yếu tiên thiên có chung đặc điểm là từ bé đã ốm yếu quặt quẹo, bệnh tật liên miên, bị hết bệnh này đến bệnh khác, sức đề kháng kém khỏi được bệnh này lại sinh ra bệnh khác. Kể cả khi người đó tập thể hình, có sức cơ bắp thì sức đề kháng vẫn kém.

PGS.TS Lê Lương Đống cũng cho rằng: Với Xuân Diêu có thể do bị bệnh tiên thiên ở thận hoặc rối loạn vận mạch não, gây co thắt mạch máu não nên một nửa não thường bị co thắt gây đau đớn. Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến cảm xúc phòng the. Hoặc có thể ông bị bệnh thận tiên thiên nên dẫn đến suy thận, yếu sinh lý, xương cốt rệu rã, hay bị sụn lưng ngay từ khi còn trẻ hay ốm vặt. Người mắc chứng bệnh này thường nhút nhát, cảm xúc cũng thất thường.

Xuân Diệu mặc cảm về bệnh của mình

Rồi một hôm, Xuân Diệu nói với vợ: Diệp ơi, 3 tháng rồi mà anh không biến chuyển gì. Chúng ta phải chia tay thôi, anh phải thực hiện lời hứa với bố. Nói đến đó, cả hai vợ chồng cùng khóc.

Nhớ lại những ngày ấy, bà Bạch Diệp bảo, suốt 6 tháng làm vợ chồng, không những không có chuyện quan hệ chăn gối mà ngay cả ôm thôi, giữa chúng tôi cũng không có. Mỗi đêm, Bạch diệp thường nằm sát về một mé, quay mặt vào trong, còn Xuân Diệu sau một hồi loay hoay với giấy bút và thơ thì cũng nằm cách xa vợ ở phía mé giường còn lại. Có lẽ, ngay chính cả “ông mai” Hoàng Tùng khi cố làm sợi dây gắn kết hai con người này lại cũng không thể ngờ cuộc hôn nhân của họ lại ngắn ngủi đến nhường ấy. Dù Hoàng Tùng là người rất cẩn thận, trước khi làm mai ông đã cử người đến tận nơi hỏi Huy Cận về Xuân Diệu thì Huy Cận bảo, Xuân Diệu là người bình thường. “Xuân Diệu không hiểu hết mình, ông ấy nghĩ là vì không quan hệ nên không quen, lấy vợ vào sẽ hết nên mới quyết định lấy tôi. Nhưng nào ngờ, sự tình cũng chẳng chuyển biến được. Có lần tôi hỏi một người em dâu của Xuân Diệu thì được biết một người em của Xuân Diệu cũng mắc chứng bệnh đó”, người vợ cũ của “ông hoàng thơ tình” nói.

Nhưng có lẽ, cuộc sống vợ chồng của họ đã không đổ vỡ chóng vánh như vậy, cuộc đời con gái của nhà báo Bạch Diệp cũng không lỡ dở nếu Xuân Diệu là người ham mê vun xới cuộc sống gia đình. Bởi với Bạch Diệp, chuyên ân ái gối chăn không phải là tất cả trong cuộc hôn nhân ấy: “Nếu Xuân Diệu mà sống tình cảm như những người chồng bình thường khác thì tôi có thể vẫn sống được trong mái ấm gia đình đó. Chuyện chăn gối không phải là cái gì ghê gớm lắm, bởi từ bé tôi đã lớn lên trong môi trường của kinh thánh và dòng tu. Nhưng Xuân Diệu hình như mặc cảm, cứ nghĩ rằng cư xử tình cảm là sẽ phải dẫn đến chuyện ấy nên ông ấy không gần gũi, vuốt ve vợ, nên phải bỏ chứ nếu không thì cũng không đến nỗi phải bỏ nhau. Xuân Diệu lại chỉ thích vuốt ve con trai mà thôi. Ông ấy sống như một người đàn ông không bình thường, lại xa lánh, không gần gũi vợ nên khi Xuân Diệu bảo thôi thì tôi đồng ý thôi luôn”.

Và rồi cuộc hôn nhân duy nhất trong cuộc đời “ông hoàng thơ tình” đã kết thúc buồn thảm như vậy. Trong tiểu sử của ông, người ta vẫn điểm đến tên người đàn bà duy nhất trong cuộc đời của ông, nhưng có lẽ đó chỉ là người vợ trên danh nghĩa mà thôi. Dù vậy, cho đến bây giờ, người vợ duy nhất vẫn nhớ về ông với niềm cảm mến sâu sắc: “Cuộc hôn nhân ngắn ngủi với Xuân Diệu như một luồng gió mát đi qua cuộc đời tôi. Luồng gió đó dù ngắn nhưng đã để lại mãi ấn tượng trong tâm hồn. Chỉ là một luồng gió thoáng qua nhưng lại làm tôi giữ mãi niềm thương mến, bởi tôi thực lòng rất thương Xuân Diệu”.


Nguồn: Đời sống và Pháp luật

 

Các bài khác:
· NHÂN VĂN GIAI PHẨM: LÊ NGUYÊN CHÍ LÀ AI?
· PHÊ BÌNH TRẺ: CHẤP NHẬN KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH VÀ CẢ THẤT BẠI
· NHÂN LOẠI 'SỢ' CHỮ VÀ 'CƯU MANG' CHỮ
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [kỳ cuối]
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [4]
· CÁI THỜI HÔM QUA VÀ CUỘC ĐỒNG HÀNH CỦA HƠN 4 THẾ HỆ VIẾT
· HIỂU THÊM VỀ QUAN NIỆM THƠ CỦA NHÓM XUÂN THU NHÃ TẬP
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [3]
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH (2)
· GẶP LẠI 'NGƯỜI BẠN NÚI RỪNG' CỦA NGUYỄN TUÂN
· THỤY ƠI VÀ TÌNH ƠI-THỬ ÁP DỤNG LĂNG KÍNH Y KHOA VÀO 1 BÀI THƠ
· VÀI NỖI BUỒN SAU ĐH NHÀ VĂN LẦN 8
· ĐẢNG VÀ SỰ NHÂN DANH ĐẢNG
· PHẠM THỊ NGỌC LIÊN-NGỌN PHÁO BÔNG THI CA NGÀY ĐANG TỚI
· MỘT NGƯỜI CỔ XƯA CÒN SÓT LẠI
· BÀN THÊM VỀ HÌNH THỨC GẮN BÓ VỚI NỘI DUNG TRONG THƠ NGUYÊN SA
· NHỮNG KHÍA CẠNH TRIẾT LÝ TRONG THƠ DU TỬ LÊ
· ĐẠI HỘI NHÀ VĂN - CẢM NHẬN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC
· TRANG THƠ ĐÔNG HÒA NGUYỄN CHÍ HIỆP
· NGUYỄN MỸ KHÔNG CHỈ CÓ 'CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ'

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_mmtguf4sg1rvv2mv22lc9d7cn3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0