DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HÌNH ẢNH LẠ 'MẮT BÒ CÁI' LÀ CỦA THƠ TRẺ HAY THƠ GIÀ?

"Mắt bò cái" - so sánh thơ kiểu này là của văn hóa phương Đông hay phương Tây? Hẳn là của Tây rồi. Nhưng cái việc nhiều nhà thơ trẻ dùng hình ảnh mà nhiều người cho là "lạ và hay" này có phải là của lớp nhà thơ trẻ? Đọc bài này của Văn Giá hẳn sẽ sáng tỏ hơn (Mai Bá Ấn)

 

                                                                                                                           VĂN GIÁ

 

Về một hình ảnh “lạ” trong thơ

                          


Trong bài viết nhỏ này, từ sự quan sát riêng đối với một loại hình ảnh trong thơ của một vài cây bút trẻ, tôi muốn bàn đến hai việc trong lao động (viết, làm) thơ: Thứ nhất, tiếp nhận và sử dụng một hình ảnh thơ mà gốc rễ phát tích là từ / của văn hoá nước ngoài như thế nào. Thứ hai, sự lặp lại hình ảnh thơ của người đi trước và người đồng thời ở một số cây bút thơ trẻ ra sao.

Tôi muốn các bạn hãy bắt đầu bằng việc đọc những câu thơ dưới đây mà tôi không phải khó khăn gì lắm đã lượm lặt được:
Trong bài thơ Đồng cỏ của tác giả trẻ Dạ Thảo Phương, ngay mở đầu ta đã bắt gặp mấy câu thơ khá ấn tượng:
Nàng là một con bê con
Mang cặp mắt của bò cái
Cơn mưa tinh mơ tháng Bảy
Bủa quanh nàng
Tiếng vó nặng từ mùa đông năm ngoái
Quánh đặc mùi phân oải và bùn

(In trong tập Thơ sáng tác trẻ, Nxb HNV, 2001)
Cũng lại thấy ra đời trong quãng thời gian đó, thơ Văn Cầm Hải có câu:
“Nhầy nhụa đôi mắt  bò cái vung vẩy cầu sao  sáng” (Dẫn theo tờ Người Hà Nội, số 9 ngày 3 - 3 - 2001). Vậy là cả hai cây bút trẻ, một nam,  một nữ đã cùng đưa vào trong thơ mình hình ảnh “mắt bò cái. Khi đó, bản thân người viết bài này lúc mới đọc cũng cảm thấy là lạ, sau bình tâm một chút lại thấy có gì không ổn lắm. Dường như nó xa lạ đối với mỹ cảm người Việt chúng ta? Nhưng nỗi hồ nghi đó cũng chỉ mới thoáng qua, sau đó tôi cũng không để ý đến nữa, thậm chí đã nhãng quên.
Thế rồi, gần đây đọc báo chí thấy nói nhiều về Lãng Thanh nhân cái chết yểu mệnh của anh, tôi lại bất ngờ thêm một lần nữa khi bắt gặp trong thơ anh hình ảnh mắt bò cái” (Lãng Thanh như người từ cõi vong hiện về dương thế làm thơ, rồi thoắt cái đã lại về cõi vong, xin đại xá cho kẻ viết bài này):
Em mang nợ đôi bò tơ mắt ướt
Cho em tin rằng
Tình yêu không phải của riêng loài người có đựơc

(Dẫn theo Nguyễn Quyến, Lãng Thanh cái chết bất ngờ và những mặc cảm, ANTG cuối tháng , số 24,8 – 2003).

Vậy là, hình ảnh đôi mắt bò cái vào thơ của các cây bút trẻ trên kia sẽ chẳng có gì đáng nói lắm nếu như họ không bị lặp lại nhau (đến nỗi khiến người ta nghĩ đến dáng dấp của một tình trạng chạy theo mốt), và nếu trước đó chưa có ai từng viết như vậy.

Thế nhưng theo chỗ tôi được biết, trong một bài thơ mà tuổi đời của nó vượt lên hẳn các bài thơ vừa dẫn ở trên kia có tên Mùa mưa hay bài thơ của M của Hoàng Hưng (được viết từ 25-6-1992 như ghi ở cuối bài) đã từng có những câu thơ ví von một cách rất táo bạo cái dục tình của người đàn bà với hình ảnh con bò cái:
Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm
Nhớ điên cuồng  mùi anh như con bò cái nhờ mùi phân rác

(Báo Văn nghệ Trẻ số 40, ngày 7.10.2001).

Vậy thì người đọc có quyền đặt ra câu hỏi: Liệu mấy tác giả kia đã có khi nào đọc bài thơ trên của Hoàng Hưng chưa ? Và có phải là họ đã bắt chước Hoàng Hưng ? Họ bắt chước của nhau ? Hay chỉ là một sự trùng lặp tình cờ?...

Đến đây, tôi sực nhớ đến một câu thoại “rất sốc” của một nhân vật nam được lặp đi lặp lại nhiều lần mỗi khi y làm tình trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Macket: “
Hỡi những con bò cái, hãy dạng háng ra kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm”. Tôi nghĩ rằng chỉ có ở trong văn hoá Mỹ la tinh (một nền văn hoá đã bị phương Tây hoá do thành phần dân cư chủ yếu là người phương Tây di cư sang) mới có những cách ví von so sánh con người trong khi đang yêu với con bò cái như vậy. ở Việt Nam ta (và một số dân tộc phương Đông) trong đời sống giao tiếp cũng như trong văn chương thích ví con người với các loài cây cỏ thảo mộc hơn là ví với các loài động vật.

Điều vừa nói ở trên có cơ sở thực tế của nó. Bởi vì, đất nước ta tự ngàn đời nay, hệ sinh thái thực vật bao giờ cũng vượt trội và áp đảo hệ sinh thái động vật. Sống trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thực vật thích hợp hơn, dễ phát triển hơn. Khi mà con người ngay từ ban đầu và mãi mãi sau này vẫn vậy, sự sống được bao bọc trong cỏ cây hoa lá, nương nhờ vào muôn loài thảo mộc, có lòng mến yêu quyến luyến muôn loài thảo mộc thì việc lấy chúng làm đối tượng để ví von so sánh với con người là một tất yếu. Từ ca dao dân ca đến văn học thành văn truyền thống và hiện đại đều thuận theo một cách tự nhiên tinh thần này. Đó là cách cảm thụ quen thuộc và rất riêng về thế giới của người Việt, cũng như một số dân tộc phương Đông (tuy mỗi nơi có những sắc thái và mức độ khác nhau). Ngược lại, trong môi trường tự nhiên ôn đới lạnh và khô của phương Tây, hệ sinh thái động vật có ưu thế hơn hẳn hệ sinh thái thực vật. Hoạt động chăn nuôi và du mục của cư dân xa xưa đã biến các con vật thành những bầu bạn gần gũi với con người. Nhờ vậy, dần dần người phương Tây đã hình thành một thói quen trong cách cảm thụ, hình dung về thế giới: Lấy con vật ra để ví với con người nhằm bày tỏ loại tình cảm mang tính tích cực. Ví dụ: Em là con nai vàng/ con thỏ/ con chim bồ câu / con gấu con … của anh . Ví người thiếu nữ, người đàn bà như con bò cái cũng nằm trong cách cảm thụ về thế giới như thế. Cách cảm thụ này của phương Tây thường tiềm tàng sẵn nguy cơ cực đoan, vì thế nhiều khi mang tính chất bạo liệt và dung tục. Trong khi đó người Việt chúng ta nghiêng về ví von con người với đời sống cỏ cây hoa lá, nên mang tính chất ôn hoà, hiền lành hơn, thanh khiết hơn. Còn gì có thể lành tính hơn, thẳm sâu hơn cây cỏ không lời.

Nói như trên không có nghĩa là người Việt không ví von so sánh con người với loài vật. Nhưng có điều rất khác là loại ví von này thường rơi vào hai trường hợp. Một, với  những con vật bé nhỏ, hiền lành, tội nghiệp (như con cò, cái kiến, con tôm, con tép, con hạc, con rùa, con trâu, con ngựa… để chỉ những thân phận cần cù, chịu thương, chịu khó, lam lũ, khổ cực, yếu đuối. Hai, với một số vật nuôi trong nhà hoặc một số thú dữ (như chó, mèo, bò, lợn; hoặc khỉ, hùm – beo, sư tử, cú, cáo…) để chỉ những người có đức tính, phẩm hạnh không ra gì. Đối với con chó chẳng hạn, người phương Tây hay cưng nựng chó, dắt chó đi chơi, thậm chí cho chó ăn cùng, ngủ cùng, và ví người yêu với cả … cún. Nhưng ngược  hẳn với cách nhìn đó, người Việt chúng ta hay ví, so sánh người với chó theo chiều hướng tiêu cực: “Ngu như chó!” “Đồ chó”, “Ăn bẩn như chó!” v.v… Cũng theo chiều hướng tiêu cực như vậy, người Việt thường dùng hình ảnh con bò để chỉ cái sự ngu dốt ở người: “Ngu như bò”, để chế diễu người nào đó: “Thở như bò”, “Ăn như bò”; hoặc quá lắm để đùa vui theo kiểu: “Đôi ta bắt gặp nhau đây / Như con bò gầy gặp bãi cỏ non”, vậy thôi.

Sau này chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, ở ta cũng dần dần có lối ví von so sánh kiểu Tây:
Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm – Như con mèo ngái ngủ trên tay anh (Nga - Nguyên Sa). Rất có thể cách ví von kiểu phương Tây ở ta ngày một tăng lên khi mà giao lưu và tác động văn hoá của phương Tây đối với Việt Nam ngày càng mạnh. Một số cách ví lúc đầu nghe lạ, thậm chí chối, lâu dần thành quen. Có những cách ví mới quá, bạo quá hiện thời rất khó quen. Ví con người với con bò cái ở ta đang còn là mới mẻ. Cho nên khi bắt gặp những câu thơ trên, ta không khỏi bỡ ngỡ, cảm thấy có phần xa lạ.
Học cách nói của các nền văn hoá khác để làm giàu có cho cách biểu đạt của ta, nhất là trong thơ là điều nên làm. Song có hai vấn đề cần đặt ra: Thứ nhất, có những hình ảnh hoặc cách nói quá xa lạ đối với  nếp cảm nếp nghĩ của người Việt chúng ta thì rất nên thận trọng, ước định xem thử liệu người mình có chấp nhận nổi hay không rồi mới tính đến chuyện có đưa hay không đưa vào. Thứ hai, nếu người đầu tiên sử dụng hình ảnh ấy có hiệu quả, được người đọc chấp nhận thì nó mặc nhiên đã là đặc sản của anh ta rồi, nó đã được xác định chủ quyền rồi. Thế thì những người đi sau không nên lặp lại những cái người ta đã dùng đó. Trong đời sống có thể sử dụng lại đồ dùng của nhau không sao, nhưng trong văn chương, tối kỵ cái việc lấy lại nguyên đai nguyên kiện của nhau làm thành của mình, hoặc thậm chí chỉ cần dính dớp của nhau ít nhiều cũng đã thấy chướng, khó chấp nhận được.

Với những câu thơ dẫn ra trên kia tôi cho rằng chúng thuộc dạng thứ hai. Bài thơ của Hoàng Hưng được viết từ 25 - 6- 1992, nghĩa là còn ra sau khá lâu so với
Trăm năm cô đơn kể cả nguyên tác (1967) lẫn bản dịch (1983). Dĩ nhiên, không ai lại ngây thơ đến nỗi cho rằng ông ảnh hưởng trực tiếp từ Trăm năm cô đơn, nhưng bảo là ông đã chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây thì cầm chắc. Và công bằng mà nói thì Hoàng Hưng là người đầu tiên sử dụng hình ảnh con bò cái nên nó phải thuộc về Hoàng Hưng. Vì vậy, những người đi sau cũng chẳng nên lặp lại làm gì, mang tiếng là bắt chước. Mà để tránh cho sự mang tiếng đó thì chỉ có một cách duy nhất là phải chịu khó đọc của người khác, đọc nhiều đọc rộng mới biết được người ta đã viết những gì và viết như thế nào. Đó cũng chính là một trong những nội dung của cái gọi là văn hoá thơ mà hễ là người làm thơ thì nhất thiết phải được trang bị thường xuyên, không bao giờ tự cho là đủ. Có lẽ không đến nỗi oan uổng lắm khi ai đó lên tiếng cảnh báo về tình trạng khá nhiều các cây bút trẻ ngày hôm nay ít đọc quá. Do sống trong nhịp điệu của xã hội thông tin nghe nhìn, người ta rất dễ bằng lòng với dạng thông tin tức thì, thiếu tính chiều sâu, đơn giản, dễ nhớ. Xã hội thông tin đưa lại cho con người một ảo tưởng rằng cái gì cũng biết, nhưng kì thực ra là không biết một cái gì đến nơi đến chốn. Chính vì thế việc đọc vốn đã là một hoạt động thường hằng của loài người, thì ngày hôm nay nó lại càng trở nên thiết yếu, và cần được xem như là một bổ khuyết lớn đối với con người hiện đại. Đọc nhiều để hiểu sâu, biết rộng. Đọc nhiều để nỗ lực tạo cho mình một cách viết riêng, cách biểu đạt riêng, giọng riêng. Và nhất là để tự tin hơn. Cũng là để biết khiêm tốn hơn.


Nguồn: Bài đã in trong Phụ bản Thơ số 5 tháng 11 – 2003, và in lại trong cuốn “Đời sống và đời viết” -2005
_____________

Cũng có khi người phương Tây ví von theo hướng tiêu cực. Ví dụ: “Đồ con lừa!”. Nhưng trường hợp này không nhiều.

 

Các bài khác:
· QUAN NIỆM NGHỀ ĐỘC ĐÁO CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN
· LINH HỒN SƠN NAM - NỬA LƯU BẾN CÁT NỬA VỀ MỸ THO
· CHÙM THƠ BÁO HIẾU LỄ VU LAN CỦA MAI BÁ ẤN
· PHÊ BÌNH PHẢI TRI ÂM VỚI SÁNG TÁC
· NGUYỄN VỸ - 100 NĂM... NHÌN LẠI
· THANH TÂM TUYỀN - NGƯỜI ĐI TÌM TIẾNG NÓI
· NGHI ÁN GIỚI TÍNH CỦA ÔNG HOÀNG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU
· NHÂN VĂN GIAI PHẨM: LÊ NGUYÊN CHÍ LÀ AI?
· PHÊ BÌNH TRẺ: CHẤP NHẬN KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH VÀ CẢ THẤT BẠI
· NHÂN LOẠI 'SỢ' CHỮ VÀ 'CƯU MANG' CHỮ
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [kỳ cuối]
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [4]
· CÁI THỜI HÔM QUA VÀ CUỘC ĐỒNG HÀNH CỦA HƠN 4 THẾ HỆ VIẾT
· HIỂU THÊM VỀ QUAN NIỆM THƠ CỦA NHÓM XUÂN THU NHÃ TẬP
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH [3]
· VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH (2)
· GẶP LẠI 'NGƯỜI BẠN NÚI RỪNG' CỦA NGUYỄN TUÂN
· THỤY ƠI VÀ TÌNH ƠI-THỬ ÁP DỤNG LĂNG KÍNH Y KHOA VÀO 1 BÀI THƠ
· VÀI NỖI BUỒN SAU ĐH NHÀ VĂN LẦN 8
· ĐẢNG VÀ SỰ NHÂN DANH ĐẢNG

 

  
Gia đình Bích Khê