DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VỢ PHÙNG QUÁN 'NHÂN VĂN GIAI PHẨM' ĐÃ RA ĐI

NTT: Tôi được quen biết mấy người vợ của các nhà văn trong nhóm Nhân văn Giai phẩm, đó là bà Băng vợ Văn Cao, bà Yến vợ Hoàng Cầm, bà Khuê vợ Trần Dần và bà Bội Trâm vợ Phùng Quán. Có điều thật đáng kính phục các bà là mấy chục năm chồng bị hoạn nạn, bà nào cũng yêu thương chăm sóc chồng con và bảo vệ chồng đến kỳ lạ. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tụng xưng các bà là “những hộ pháp” của văn tài. Bà Yến đã mất năm 1985, giờ bà Bội Trâm cũng đã theo chồng về cõi khác. Tôi có thăm bà Trâm trước khi mất 1 tháng, và đến viếng tiễn đưa bà. Giờ đọc bài của Ngô Minh viết về bà mà rưng rưng cảm động. Một cảnh ngộ thật đặc biệt. Một mối tình thật vĩ đại. Một bài viết thật trân trọng và đắng đót… 

NGƯỜI PHỤ NỮ BẤT CHẤP TAI ƯƠNG ĐÃ RA ĐI

NGÔ MINH

Bà Vũ Bội Trâm

Chị Vũ Bội Trâm, vợ cố nhà thơ Phùng Quán đã qua đời lúc 8 giờ 35 phút sáng ngày 15 tháng 8 năm 2010 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội. Lòng tôi trĩu nặng  tiếc thương chị và thương cháu Quyên, cháu Quân mồ côi cha mẹ. Mới hôm nào ra Đại Hội Nhà văn VIII, tôi đã cùng anh em nhà văn Huế như Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên… đến Bệnh viện thăm chị. Chị nằm bất tỉnh, nhưng khi nghe tôi  nói: “Em là Ngô Minh đây”, mặt chị sáng lên, hình như chị cười. Một giọt nước mắt chị ứa ra trên khuôn mặt hoang dại…  Tôi quen thân gia đình anh Phùng Quán-chị Bội Trâm từ đầu năm 1980, đến nay độ 30 năm rồi. Anh chị coi tôi như đứa em trong nhà, có chuyện gì cũng kể. Từ ngày anh Phùng Quán qua đời, bao nhiêu bài viết của anh Quán hay những bài các nhà văn nhà báo viết về anh Phùng Quán, chị đều gửi vào Huế cho tôi cất giữ. Nhờ khối tư liệu đó, tôi và chị đã làm được mấy cuốn sách  cơ bản về nhân cách và tài năng Phùng Quán như Nhớ Phùng Quán, Phùng Quán còn đây, Ba phút sự thật. Những cuốn  sách được độc giả ca nước rất mến mộ.

Đối với tôi, chị Bội Trâm là một người  phụ nữ vĩ đại, người phụ nữ đã bất chấp tai ương để tạo dựng hạnh phúc của riêng mình. 79 tuổi đời chị đầy đắng cay đau khổ, tất cả chỉ vì  chị đã gắn đời mình  với nhà thơ Phùng Quán, một văn nhân nổi tiếng truân chuyên. Chị kể: “Anh chị bằng tuổi nhau, cùng sinh năm 1932. Năm 23 tuổi, chị gặp anh Quán. Anh ấy quen với em trai chị – nhạc sĩ Vũ Hướng, hồi đó anh đóng quân ở Cửa Đông  rồi sau chuyển về 4-Lý Nam Đế , hay qua lại nhà chị 3-Hàng Cân và được cha mẹ chị thương như con trong nhà. Các con chị  sau này thường hỏi: “Mẹ yêu cha vì cha đẹp trai hay vì cha làm thơ hay?”. Có lẽ chị yêu anh ấy vì yêu thơ. Thơ anh Quán hợp với cái tạng của chị: Yêu ai cứ bảo ràng yêu/ Ghét ai cứ bảo rằng ghét/ Dù ai cầm dao doạ giết/ Cũng không nói ghét thành yêu…. Chị yêu anh lúc mà cuộc đời anh cơ cực đau khổ nhất. Anh là “phần tử Nhân văn Giai phẩm”, dù có tác phẩm Vượt Côn Đảo được giải thưởng, tiếng tăm lững lẫy, vẫn vị đuổi khỏi quân đội, khai trừ khỏi Hội Nhà văn, không người thân, bạn bè xa lánh vì sợ liên luỵ, không  nhà  cửa, không có nghề để sinh sống, không lương (chỉ được Hội Nhà Văn trợ cấp mỗi tháng 25 đồng chỉ đủ để ăn cơm “đầu ghế”, bây giờ  gọi là cơm bụi, anh muốn về Quảng Bình quê bạn sống để được câu cá trên sông Nhật Lệ. Chị Bội Trâm lúc đó là cô gái Hà Thành sinh ra trong một gia đình gia giáo, lại là giáo viên dạy văn của một trường danh giá- Trường Chu văn An. Chị yêu Phùng Quán, gia đình không đồng ý. Mẹ bảo: “Lấy chồng như thế thì thà ôm nhảy nhảy xuống giếng cho xong”. Chị kể: “Chị đã nói với bố mẹ rằng: Con đã yêu anh Quán nên con không thể yêu người khác nữa. Nếu bố mẹ không cho con lấy, con xin vâng lời, nhưng con sẽ không lấy người đàn ông nào khác nữa”. Nhà trường thì kiểm điểm lên kiểm điểm xuống vì kết hôn với “bọn Nhân văn Gia phẩm”… Nhưng chị đã quyết đến với anh, chị muốn lấy tình yêu của mình để che chở cho trái tim đau khổ cô đơn  “tứ cô vô thân”của anh. Cả đời chị chỉ có một người yêu duy nhất : Đó là Phùng Quán ! Chị kể với tôi :”Nhiều lúc chị sợ anh tự vẫn. Chị nghĩ mình cần phải gắn bó với anh để ràng buộc anh với cuộc đời!” Nên chị đã khảng khái trước mọi người :”  Người mà tôi lấy làm chồng chỉ có thể là người tốt. Thời gian sẽ chứng minh điều đó!”. Và chị đã đúng. 30 năm sau, Phùng Quán đã được phục hồi Hội Nhà văn, được in sách, được viết và được Giải thưởng Nhà nước về  văn học nghệ thuật. Đó là hạnh phúc mà chị phải đổi bằng nước mắt và khổ đau.

Lấy một “phần tử’ Nhân văn Giai phẩm nên không thể tổ chức  đám cưới đàng hoàng như mọi cô gái khác, vì không thể đứng tên chú rể Phùng Quán trên thiếp mời. Chị Vũ Bội Trâm có lẽ là người  con gái Việt Nam duy nhất lấy chồng không có lễ tơ hồng, không đám cưới, không được mặc áo cưới, không lên xe hoa, không có  đưa dâu, không có  phòng tân hôn sang trọng, không chụp ảnh, quay phim… Để thông báo với bà con lối phố, chị bàn với  gia đình chỉ làm ít đĩa trầu cau mang đến từng nhà bảo là “trầu cau chạm ngõ” của  cô Trâm , thế là xong. Đối với những người thân thiết, anh Phùng Quán làm một tấm thiếp báo tin, mặt trước là hai bông hoa do bạn thân, họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, mặt sau có đôi chim bồ câu và mấy chữ của Phùng Quán viết tay . Đây là thiếp báo tin gửi cho cô giáo Mai Thị Từ của chị Trâm: “Chúng em đã ra ở riêng ngày 12-1-1962. Chúng em nhờ  những bông hoa này mang tin vui đến với cô. Mong cô chia  vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em“. Tiệc cưới của Phùng Quán – Bội Trâm cũng lạ lùng như tình yêu của hai người. Gọi là “tiệc cưới” cho oai, thực chất là một  bữa cơm tươi tại nhà bà mẹ nuôi Tưởng Dơi bên Hồ Tây. Bữa cơm chỉ có bốn người khách là vợ chồng nhà thơ Tạ Vũ- Nguyễn Thị Điều, hai người bạn thân anh Quán là nhà văn Xuân Đài và nhà báo Xuân Trung. Phùng Quán ra chợ mua  hai con gà về để làm  tiệc thì một con chết. Câu trộm được ít cá Hồ Tây, ký nợ lít rượu bà Hai Hạnh đầu  phố nữa là có tiệc. Bữa tiệc xong, Tạ Vũ say rượu nên vợ chồng phải ngủ lại. Nhà bà Tưởng Giơi có một cái giường đơn, nhà thơ Phan Vũ ở xưởng phim cho mượn thêm cái giường  của anh nữa là hai. Hai cái giường kê sát nhau. “Đêm tân hôn” ấy vợ chồng Phùng Quán – Bội Trâm ngủ trên cái gường đơn ấy cạnh vợ chồng Tạ Vũ. Thật là một tiệc cưới và đêm tân hôn chưa từng có trên đời !

Lấy nhau đã có  hai đứa con là Phùng Đỗ Quyên (1963) và Phùng Quân (1965), mà 20 năm liền, mẹ con chị Bội Trâm vẫn  ở nhà mẹ ở Hàng Cân, còn Phùng Quán  thì trú ở nhà bà Tưởng Giơi. Một tuần chị Trâm mới đến thăm chồng một lần. Những năm tháng ấy, Phùng Quán  thường xuyên đi cải  tạo lao động ở Thái Bình, Thanh Hoá, Việt Trì, rồi đi tăng gia một mình ở rừng núi Thái Nguyên suốt  ba năm liến… Vì phải “phấn đấu cải tạo tốt”, nên có khi nửa năm không  về gặp vợ cơn. Gay go nhất là  tiền mua sữa, mua sắm tã lót cho con. Tất cả trông nhờ vào  đồng lương giáo viên ít ỏi của chị Trâm và mấy đồng tiền câu trộm cá của Phùng Quán. Những ngày ấy, bạn bè như  nhà văn Tuân Nguyễn, Xuân Đài… san sẻ chút tiền lương ít ởi để cho chị Trâm nuôi con. Bao nhiêu cơ cực dồn lên đôi vai của người phụ nữ gầy nhỏ này. Thương chồng, chị Bội Trâm chỉ biết nuốt đau thương để nuôi con.  Năm 1981, Trường Chu Văn An thương tình mới  cho  vợ chồng Quán -Trâm một góc nhỏ phía sau trường vốn là nơi chứa đồ mộc thí nghiệm của trường. Dù khổ, vợ chồng  cũng đã được  sống bên nhau để cùng nuôi con. Phùng Quán đêm ngày “cá trộm, vui chui, rượu chịu”. Rồi nhờ anh bạn Phùng Xuân Bính ở Nhà văn hóa TW giúp ít gỗ thải loại, Phùng Quán cặm cụi đục đẽo làm được cái “chòi ngắm sóng” lợp lá gồi. Tôi đã nhiều lần từ Huế ra  ngụ trên cái chòi ấy. Rồi  gian nhà sau trường Chu văn An ấy bị giải toả, Chòi ngắm sóng không còn, chị Bội Trâm đã tậu được ngôi nhà đàng hoàng ở tầng hai phố Vĩnh Phúc, thì anh Quán không còn nữa.

Khi Phùng Quán vừa được niềm vui  được phục hồi Hội nhà văn, được in sách với cái tên của mình, thì chị Bội Trâm bị  căn bệnh hiểm nghèo: Ung thư vú. Đó là năm 1987. Chị Trâm lúc đó vừa được mổ, được điều trị bằng  tia phóng xạ, nhưng cái tay  phải vẫn to phình lên. Đêm ngủ phải buộc cái dây để treo tay lên không lủng lẳng. Bệnh tật như thế nhưng chị vẫn hàng ngày cơm nước  chăm chồng con. Những ngày đó, buổi sáng nào  thức dậy trên Chòi ngắm sóng,  sau khi làm chén rươụ diệt sâu bọ, Phùng Quán  đều đọc bài thơ “Kinh cầu nguyên buối sáng” tặng vợ : Tôi sẽ đi với em/ Cho đến tận mút chót con đường / Cho đến lúc tôi nằm dài dưới đáy huyệt ! / Có thể em chết trước tôi / Cũng có thể tôi chết trước em / Nhưng không sao cả em ơi/ Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền / Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường / Tôi sẽ bị trời chu đất diệt !…”. Nhưng  nhà thơ Phùng Quán đã ra đi trước vợ đến 15 năm. Anh mất năm 1995 vì bệnh xơ gan cổ trướng…

15 năm anh Phùng Quán xa cõi tạm, chị Vũ Bội Trâm đã lao động hết sức mình để tiếp tục giới thiệu với bạn đọc những tác phẩm của chồng. Chị dành những năm tháng còn lại của cuộc đời mình để sắp xếp, chăm chút những trang bản thảo của chồng. Đằng sau những trang di cảo là tấm lòng của người vợ muốn tìm và chia sẻ, cảm thông với tâm sự của chồng.  Chị  đọc và chọn tuyển tập Thơ Phùng Quán  cho nhà Văn học 2003, chị cùng với tôi làm  nhiều tập sách về Phùng Quán đã nói ở trên, chị  còn cắm cúi đọc lại  từng chồng di cảo của  anh để lại và đã phát hiện ra tập bản thảo “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào”, đưa đến bạn đọc một tập hồi ký chân thực và hấp dẫn. Hôm ra mắt  cuốn sách “Phùng Quán còn đây ” “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” ở Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Hoa Lư,  tháng 10/2007, chị nói  với mọi người: “Hơn 30 năm sống với chồng nhưng giờ đây, qua những tác phẩm tôi mới hiểu hết anh ấy!”.

Chị Bội Trâm ơi, chị là người biết tin ở con người, tin ở lẽ công bằng, tin ở thời gian, nên chị đã thắng tai ương cuộc đời. Mối lần ra Hà Nội đến thăm chị ở  khu chung cư Vĩnh Phúc, em thực sự cảm phục sức làm việc của chị. Bị nhiều thứ bệnh nan y thế mà chị vẫn đọc những trang  di cảo đã nhoè mực của anh, để chia sẻ với anh những câu thơ, những ghi chép về cuộc đời. Và sự dấn thân đó đã làm cho sức khoẻ chị  yếu dần và  cơn bạo bệnh 30 năm trước đã tái phát…

Khi ở Hà Nội, tôi thấy ngày nào chị cũng thắp nhang, rót rượu  lên bàn thờ anh Quán  rồi khấn: Anh Quán ơi, anh đã cho em được sống  như em muốn!

Vâng, chị đã  được sống như mình  mong muốn, chị Bội Trâm ơi !

Nguồn: nguyentrongtao.org

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN BẢN NINH SAU 20 NĂM THẦM LẶNG
· TRẢ LẠI TÊN 1 NHÀ THƠ TIỀN CHIẾN ĐẤT THĂNG LONG
· ĐỪNG NHƯ NHỮNG CHÚ KIẾN CHẠY QUÁNG QUÀNG TRONG CHẢO NÓNG
· DẤU ẤN THƠ TRÚC THÔNG
· HỖN NHẬP NGÔN NGỮ - MỘT GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HÓA TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM PHẠM QUỲNH
· TÔI CHẲNG NGẦN NGẠI ĐÁNH CƯỢC CUỘC ĐỜI MÌNH
· YẾU TỐ VIỆT CỔ TRONG NGÔN NGỮ THÁI
· HOÀNG TRẦN CƯƠNG-NGƯỜI HÓA GIẢI NHỮNG NỖI NIỀM, KHÁT VỌNG
· PHONG CÁCH THƠ NGẢI THANH VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ PHÁI TƯỢNG TRƯNG
· NHÀ VĂN NÀO ĐẠI HỘI ẤY
· SỨC SỐNG DAI DẲNG CỦA KỸ THUẬT 'DÒNG CHẢY Ý THỨC'
· TẢN ĐÀ - THI SĨ CỦA HAI THẾ KỶ
· HÌNH ẢNH LẠ 'MẮT BÒ CÁI' LÀ CỦA THƠ TRẺ HAY THƠ GIÀ?
· QUAN NIỆM NGHỀ ĐỘC ĐÁO CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN
· LINH HỒN SƠN NAM - NỬA LƯU BẾN CÁT NỬA VỀ MỸ THO
· CHÙM THƠ BÁO HIẾU LỄ VU LAN CỦA MAI BÁ ẤN
· PHÊ BÌNH PHẢI TRI ÂM VỚI SÁNG TÁC
· NGUYỄN VỸ - 100 NĂM... NHÌN LẠI
· THANH TÂM TUYỀN - NGƯỜI ĐI TÌM TIẾNG NÓI
· NGHI ÁN GIỚI TÍNH CỦA ÔNG HOÀNG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU

 

  
Gia đình Bích Khê