DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG TRƯỜNG CA VỀ THỜI CHỐNG MỸ

                                                         TS. Nguyễn Thị Liên Tâm

        Trường ca thời chống Mỹ đa phần viết về đề tài chiến tranh và người lính. Tuy nhiên, bên cạnh mảng đề tài lớn này, các nhà thơ vẫn dành “đất” cho đề tài tình yêu đôi lứa.

 

Tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thuở mà bất kỳ thời gian nào, xã hội nào; từ đông chí tây, từ kim chí cổ đều xuất hiện trong văn học; tuy nhiên,  mức độ thể hiện phải phù hợp với hoàn cảnh xã hội mà nó xuất hiện. Thời chống Pháp - nếu các nhà thơ đề cập nhiều đến vấn đề tình yêu trong tác phẩm của mình sẽ là “lạc điệu” với kháng chiến, với dân tộc; bởi trong hoàn cảnh ấy, phải đặt tình yêu tổ quốc lên trên hết. Vì thế, trường ca thời chống Pháp hiếm thấy đề cập đến đề tài tình yêu. Nhưng trường ca thời chống Mỹ thì đã cống hiến cho đời những tác phẩm mô tả hiện thực ác liệt của chiến tranh pha lẫn vị trữ tình của tình yêu đôi lứa khá sắc nét, nhất là ở trường ca ra đời sau 1975 một vài năm.

 

 

 

Mỗi một nhà thơ tài hoa có thể xem như là một khách đa tình như Maxim Goocki đã nói:“Thiên tài là ái tình”. Phạm Huy Thông nổi danh một thời với trường ca Tiếng địch sông Ô cũng đã nói: “hầu hết thơ tình yêu đều là trường ca tình yêu” [2, tr.104]. Tiếng địch sông Ô có nội dung phỏng tích Trương Lương dùng tiếng địch phản chiến mê hồn làm nát tan hàng ngũ Hạng Võ. Với Huy Thông, tiếng địch ấy lại chính là “tiếng gọi của tình yêu trong trái tim người anh hùng si tình” Hạng Võ với nàng Ngu Cơ.

 

 

 

Thời chống Mỹ, đề tài tình yêu đôi lứa được đề cập sâu sắc hơn. Đó là tình yêu thánh thiện của Lãm và Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu). Là tình yêu đầy chất triết lý trong Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm). Là tình yêu sâu sắc thủy chung suốt hai mươi năm trời của đôi vợ chồng người cán bộ địch hậu trong Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh).

 

 

 

Trước 1975 và sau 1975, thơ Việt Nam vẫn tiếp tục đề tài chiến tranh, “độ lùi không gian và thời gian đã bổ sung sắc thái bi tráng, trầm tĩnh, đẩy thể loại trường ca trữ tình đến độ viên mãn khó trở lại” [3, tr.78]. Thơ trữ tình Việt Nam sau 1975 viết về thời chống Mỹ đã trải qua sự điều chỉnh trong cách cảm thụ, nhìn nhận, lý giải thế giới, con người và ngôn ngữ thể hiện. Các nhà thơ tên tuổi sáng tác trường ca đều mô tả hình ảnh đất nước, nhân dân như thực tế đã diễn ra. Chất trữ tình sâu lắng và chất triết lý trí tuệ ngày càng được các nhà thơ chú ý khai thác, đặc biệt là những dòng thơ diễn tả tình yêu thời chiến.

 

 

 

        Những biểu hiện về đề tải tình yêu đôi lứa trong trường ca về thời chống Mỹ có thể tạm xếp vào các dạng thức như sau:

 

 

 

         2.1.4.1  Tình yêu và sự chia ly

 

 

 

Tình yêu trong thời chống Mỹ không chỉ là nỗi nhớ nhung sâu đậm, kín đáo... mà còn đầy cay đắng và có thể là cả sự chia ly. Nỗi niềm của nhân vật trữ tình như của chính nhà thơ. Ta có thể khảo sát những vần thơ da diết viết về tình yêu chia ly ở thời chống Mỹ: “Xa nhau suốt tháng năm dài/ Hãy nghe người lính nói lời tình yêu…/ Đôi ta cách một dòng sông/ Cỏ cây bên ấy ngóng trông bên này… ” (Trường ca Sư đoàn- Nguyễn Đức Mậu).

 

Đất nước bị chia cắt, tình yêu đôi lứa cũng bị cắt chia: “Vĩ tuyến Mười Bảy ở đâu mà con đò không qua được/ Trai gái yêu nhau trầu cau không qua được/ Vĩ tuyến Mười bảy/ Nơi đất trời sùi sụt chuyện mưa ngâu” (Trường ca Sư đoàn).

 

 

 

         Quả thật, nhân danh người lính ra trận, các nhà thơ hiểu từng chân tơ sơi tóc nỗi lòng của người ở lại để bày tỏ, sẻ chia “những hy sinh, mất mát, chịu đựng của cả dân tộc… trong cuộc hành trình đạt tới chiến thắng” [2, tr,109]. Những vần thơ giàu sức chinh phục người đọc vì diễn tả đúng tâm trạng của biết bao người vợ trên đất nước này khi phải chịu nỗi mất mát không gì bù đắp được trong tình cảm vợ chồng.

 

 

 

Có nhà thơ lại thổ lộ giúp người vợ hậu phương qua những câu thơ ngập tràn cảm xúc, vừa đầy ắp hiện thực, vừa mang tính trữ tình thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ: “Những đêm trở trời trái gió/ tay nọ ấp tay kia/ súng thon thót ngoài đồn dân vệ/ Một mình một mâm cơm/ ngồi bên nào cũng lệch/ chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền” (Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh).

 

 

 

Hình tượng người vợ cô đơn lặng lẽ chờ chồng dằng dặc tháng năm đã được nhà thơ xây dựng rất thành công. Ở một khổ thơ khác, nhà thơ đã chọn cặp từ “thiếu” và “thừa” hết sức trái ngược nhưng thật logic để miêu tả một hình tượng vô cùng điển hình. Người vợ không đủ đôi đủ cặp, như thuyền kia thiếu bến, như trầu nọ thiếu cau. Chị đã ôm lòng chờ đợi chồng ngày đoạn ngày, tháng đoạn tháng, năm đoạn năm để rồi cứ phải ngập chìm trong “nỗi buồn như bông điệp xé đôi”; bởi tuổi trẻ không bao giờ trở lại; bởi sự côi cút, lẻ loi. Đó là sự mất mát tình cảm quá lớn mà người vợ xa chồng phải gánh chịu một mình: “Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra/ Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại/  Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình” (Đường tới thành phố).

 

 

 

Đó là tình yêu chung thuỷ, biết hy sinh, biết đặt tình yêu tổ quốc lên trên tình yêu đôi lứa. Ngay cả những người đàn bà làng quê cũng sẵn sàng hy sinh hạnh phúc để người chồng ra đi cứu nước. Người chồng ấy có khi đi mãi không về, để lại nỗi đớn đau trong lòng người cô phụ.

 

 

 

Có thể nói, trong thời chống Mỹ, tình yêu đôi lứa được thể hiện mang đầy nỗi chia ly đau khổ, có khi là cuộc chia ly mãi mãi. Nỗi đau ấy, không phải chỉ thuộc về cá nhân mà đã trở thành nỗi đau chung của những ngưới yêu nhau trong thời ly loạn.Trường ca về thời chống Mỹ đã phản ánh một dạng thức tình yêu như thế, đồng thời cũng phản ánh cả nỗi khát khao hạnh phúc, trông đợi được yêu và được sống với tình yêu.

 

 

 

        2.1.4.2. Tình yêu và nỗi khát khao hạnh phúc

 

 

 

Trường ca về thời chống Mỹ thường diễn tả ước mơ được có tình yêu và sống một lần với tình yêu. Ước mơ ấy hoàn toàn chính đáng. Thế nhưng; vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc gắn liền với số phận của mỗi cá nhân, với hạnh phúc lứa đôi. Họ dằn vặt, xót xa, khao khát: “Mặt đất sinh ra để cho từng đôi lứa/ Mà tình yêu không tìm được chỗ ngồi (Mặt trời trong lòng đất).

 

 

 

Có khi, tình yêu của họ da diết ngọt ngào như lời ru bởi vận dụng chất liệu ca dao để diễn đạt  nỗi ước ao: “Lời hẹn hò con gái con trai/ Là chén canh cá lóc/ Mẹ nấu cho tôi dưới hàng cây so đũa/ Là lời ru em nhẩm đọc vô tình/ “ví dầu cầu ván đóng đinh/ cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi” (Những người đi tới biển - Thanh Thảo).

 

 

 

 Đoàn vận tải H 50 của vùng cực Nam Trung bộ với những cô con gái vận tải “qua tuổi mình ba mươi”. Mỗi mùa xuân đến lại thêm một lần báo động. Tuổi trẻ đi qua, nhan sắc phai tàn. Ước mơ của họ thật nhỏ nhoi, bình dị. Họ khao khát được yêu; được làm vợ, làm mẹ. Nhưng thời chiến tranh, sông núi còn mang nặng trên vai, điều ấy khó thành sự thật: “Đi qua tuổi ba mươi/ Nhọc nhằn và lặng lẽ/ Bao ước mơ giản dị/ Mà sâu thẳm không cùng/ Hơn mọi sự anh hùng/ Là điều này nhỏ bé/ Làm vợ và làm mẹ/ Tuổi ba mươi chối từ”.

 

 

 

Tình yêu sẽ là bài ca tháng năm hạnh phúc. Nhưng các cô gái lại “chưa một lần yêu cho lồng ngực rung lên/ Đáy thắt lưng ong em chưa một lần làm mẹ/ Ba mươi tuổi em không còn trẻ” (Sông núi trên vai). Tổ quốc đã giao cho họ nhiệm vụ thật bình thường nhưng vô cùng trọng đại: gùi hàng, gùi lịch sử trên đôi vai nhỏ bé, trách nhiệm với núi sông đã ở trên tầm cao vợi so với tiếng gọi của tình yêu đôi lứa, chuyện hạnh phúc riêng tư đành gác lại. Đó chính là hình tượng của những cô gái giao liên vận tải trên khắp mọi miền đất nước.

 

 

 

        Các cô gái thanh niên xung phong cũng đã chung một nỗi niềm cùng các cô gái của đoàn H 50: “Ôi lửa napan/ Lửa bom hóa học/ Đã ba trăm ngày/ Tóc các em chưa mọc... Tiểu đội mười hai người/ Đáy ba lô có mảng trời xanh mang màu áo cưới”. Từng là một nữ thanh niên xung phong, nên tác giả đã thể hiện dạng thức tình yêu trong trường ca của mình rất thật, chất chứa đầy nỗi khát khao về một ngày hồng lễ cưới. Họ ra đi vì tiếng gọi con đường nhưng đôi khi ngoái lại với sông làng, họ vẫn nhớ đau đáu những mùa xưa đằm thắm và những lễ vật của tình yêu: “Ôi buồng cau lổ chín ngã bên thềm/ Trầu cánh phượng thách người chưa dám cưới/ Hiên mưa dầm hoa lựu thức trắng đêm/ Cát nín lặng vùi sâu thêm nỗi đợi” (Lửa mùa hong áo - Lê Thị Mây).

 

 

 

        Ta thấy rằng nhiều trường ca về thời chống Mỹ đã biểu hiện cảm thức ước mong, khao khát tình yêu đôi lứa, khao khát hạnh phúc riêng tư, nhưng tất cả đều được nén lại, gác lại. Bởi cao hơn tình yêu đôi lứa là tinh yêu Tổ Quốc thiêng liêng. Hạnh phúc cá nhân đã nhường bước cho hạnh phúc lớn lao mà cả dân tộc đang theo đuổi: đó là độc lập, tự do.

 

        2.1.4.3 Tình yêu và sự lạc quan

 

 

 

      Thời chống Mỹ, tình yêu đôi lứa được thể hiện rất nhẹ nhàng nhưng khá sâu đậm. Chúng ta không thể tìm thấy yếu tố tính dục trong trường ca. Bởi trong một thời đại mà sự hy sinh cao cả cho tổ quốc được đặt lên hàng đầu thì những hương vị yêu đương thường tình không thể xuất hiện trong văn học cách mạng. Những điều cần thiết để tô vẽ thêm cho cuộc sống vợ chồng, cho tình cảm lứa đôi đã được nén lại để dành cho văn học thời hậu chiến.

 

 

 

       Trong trường ca thời chống Mỹ, tình yêu đôi lứa còn thể hiện cảm thức ước vọng, lạc quan. Tình yêu có khi được gắn liền với một không gian thật riêng tư, bé nhỏ nhưng đậm đà hình ảnh đất nước quê hương; không gian nhỏ bé ấy rồi sẽ mở ra bao ước vọng tương lai về tình yêu: “Đất nước là nơi ta hò hẹn/ Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm).

 

 

 

         Riêng Hữu Thỉnh đã chọn một tứ thơ rất gần gũi với nông dân để viết về tình yêu đôi lứa đầy sự lạc quan: “Con gà trống cù kỳ quanh vại nước. Hạt thóc ngậm vào thành hạt ngọc của tình yêu”. Trong hoàn cảnh chiến tranh, dù chia ly, dù đau khổ khôn cùng, dù đợi chờ dằng dặc, nhưng những người vợ hậu phương vẫn tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng. Trường ca đã có những câu thơ ca ngợi lòng tin tất thắng của con người: “Chị vẫn tin chữ hợp cuối câu Kiều/ Hoa mai nở hai lần hoa có hậu” (Đưòng tới thành phố).

 

        Trong trường ca Nguyễn Văn Trỗi, tình yêu của anh Trỗi và chị Quyên dù bị cắt chia, cái chết đã cận kề, nhưng vẫn thể hiện sự lạc quan tin tưởng vào tương lai: “Tình yêu thơm ngát ca dao/ Tình yêu trong vắt ngọt ngào dòng sôngBốn bên cái chết bủa vây/ Chằng cây, chẳng lá, chẳng mây, chẳng trời/ Mà thơm  hơn cả hoa tươi/ Mà xanh hơn cả da trời mùa thu”.

 

 

 

         Trường ca thời chống Mỹ đã phản ánh đúng thực tế: tình yêu thời chiến có sức mạnh vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian và sự khốc liệt của chiến tranh để lạc quan sống và chiến đấu: “Một ngày xưa yêu cho đến bây giờ/ Con còng gió nghiêng mặt trời xe cát/ Yêu đến sâu nước khôn cùng dào dạt/ Yêu đến bờ yêu đến bến chao chân” (Lửa mùa hong áo).

 

 

 

        Xét trong hệ thống các trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ, đề tài tình yêu đôi lứa như những sợi chỉ mành nhưng lại dệt nên tấm khăn choàng đẹp đẽ về tình yêu thời chiến. Các nhà thơ viết về tình yêu thời chiến tranh đã thấu hiểu một cách sâu sắc những hy sinh âm thầm của thế hệ cha anh. Có những trái ngọt tình yêu được hưởng quá muộn màng nhưng vô cùng đáng quý: “Người yêu anh dành phần cuối cuộc đời/ Đến tuổi làm bà mới được lần làm mẹ/ Người lính ấy tóc bạc rồi mới trẻ/ Dắt con mình lại ngỡ cháu theo ông” (Đất nước hình tia chớp).

 

 

 

        Sự lạc quan tin tưởng vào tình yêu chín chắn, tin tưởng vào ngày mai tất thắng đã được gửi vào trong những vần thơ da diết: “Phải đâu xa cách riêng ta/ Triệu người đi nỗi cách xa vơi đầy/ Mưa ngâu không chỉ nơi này/ Bạn bè anh có bao ngày mưa ngâu/ Một cơn mưa ướt mái đầu/ Mười cơn mưa chẳng ướt câu đợi chờ” (Trường ca sư đoàn).

 

       Như vậy, qua nghiên cứu một vài trường ca có giá trị, ta có thể cho rằng: mặc dù đề tài tình yêu đôi lứa chỉ được thể hiện thoáng qua trong trường ca thời chống Mỹ nhưng đa phần tập trung ca ngợi tình yêu đôi lứa mang cảm thức lạc quan, tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng để những người yêu nhau đặt niềm hy vọng đợi chờ, dù có khi là chờ đợi cả cuộc đời.

 

 

 

        2.1.4.4  Tình yêu và sự thủy chung

 

 

 

        Tình yêu trong thời chống Mỹ thường được mô tả đằm thắm. biểu lộ sự thuỷ chung sâu nặng. Thường, các nhà thơ sáng tác trường ca đa phần đều là người lính, nên hơn ai hết, họ đã thấu hiểu sự nhớ nhung da diết của những người yêu nhau.

 

 

 

        Hữu Thỉnh, thay lời người chồng xa quê trong trường ca thủ thỉ với dòng sông, với mùa đông lạnh giá, với người vợ thuỷ chung. Tứ thơ tạo sự xúc động cho người đọc và được diễn tả một cách rất riêng không lẫn vào ai: “Sông ơi sông nếu ta phải ra đi/ Bậc thấp xuống cho em ra gánh nước/ Xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng/ Xin mùa đông đừng dài” (Đường tới thành phố).

 

 

 

Bằng những dòng thơ rất chân thực; nhà thơ đã khắc đậm hình ảnh của người chị, người vợ “từng góa bụi trong hồ sơ tự khai”, sống trong vùng địch tạm chiếm, hàng đêm đằng đẵng lén nuôi chồng dưới hầm sâu mà không hề thấy mặt. Thật khó có thể hình dung được bao nhiêu nỗi niềm chất chứa trong sự chờ đợi ròng rã, dằng dặc, mỏi mòn suốt hai mươi năm trời như thế. Đó là đức thuỷ chung của đa số những người phụ nữ Việt Nam thời chiến. Tứ thơ: “Chị đợi chờ quay mặt vào đêm” nghe thật ray rứt, xót xa: “Chị đợi chờ quay mặt vào đêm/ Hai mươi năm cơm phần để nguội/ Hai mươi năm mong trời chóng tối/ Thôi tết đừng về nữa chị tôi buồn”. Những câu thơ giản dị nhưng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc của nhân dân trước nỗi khắc khoải chờ chồng, từ khi họ còn là cô gái xuân sắc: “Chị tôi không còn trẻ nữa/ Xóm làng thương ý tứ vẫn kêu cô/ Xóm làng thương không khoe con trước mặt/  Hai mươi năm chị tôi đi đò dầy/ Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc” (Đường tới thành phố).

 

 

 

        Những người phụ nữ Việt Nam mềm mại, ẻo lả như cây lau nhưng lại chính là những cây lau bằng thép, giàu tình yêu thương. Họ đã góp phần khẳng định đức tính thuỷ chung truyền thống và đã được khắc họa trong những bản trường ca về thời chống Mỹ.

 

 

 

        Trường ca về thời chống Mỹ được sáng tác từ sau 1990 cũng chú ý đến đề tài tình yêu đôi lứa nhưng thường kết hợp với sự hồi tưởng về chiến tranh. Trường ca Những cánh đồng dưới lửa đã ghi lại nỗi niềm của những chàng trai ra trận rất đa tình bằng những dòng thơ hết sức hiện thực nhưng thật tình tứ: “Chào những em gái họ Bùi, họ Quách/ Từ hôm nay, chúng tôi sẽ xa em/ Em sẽ chẳng được gặp chúng tôi - những thằng lính đa tình trốn trại/ Mò ra Mường hát ghẹo suốt đêm” (Văn Lê).

 

 

 

        Hình ảnh các cô gái đứng sừng sững giữa trời, trong vùng trọng điểm cận kề với cái chết cũng đã trở thành tượng đài bất tử trong lòng các anh chiến sĩ và trong lòng mọi người: “Ôi trái tim của lính âm thầm/ Qua trọng điểm có đôi khi chết lặng/ Phất cờ hiệu em đứng làm cọc đường cháy nắng/ Tim dập dồn thương người quá người ơi” (Lửa mùa hong áo - Lê Thị Mây).

 

 

 

Thời chống Mỹ, đề tài tình yêu được bộc lộ trong trường ca khá rõ nét. Nhiều bài thơ ngắn trữ tình cũng đã đề cập đến tâm tình của người phụ nữ trong và sau chiến tranh. Vương Trọng, một nhà thơ quân đội, người lính thời chống Mỹ cũng đã có những vần thơ ám ảnh: “Sao chị chẳng được làm người đón đợi/ Cổng mở hoài chỉ có gió vào sân” (Chị).

 

Một vài dẫn chứng trên cho thấy: hình tượng người chiến sĩ từ cuộc đời thực đi vào trường ca được dựng lên từ ngòi bút của những nhà thơ đã từng ra trận nên vừa thực lại vừa giàu cảm xúc. Tình yêu đôi lứa của các anh đầy chất thơ và tiếng đạn bom. Những người phụ nữ của các anh đã vượt qua gian khó để sống xứng đáng với tình yêu chung thuỷ. Có thể khẳng định, bên cạnh các đề tài sống động giàu tính hiện thực thì đề tài tình yêu đôi lứa với nhiều dạng thức như: bài ca khát khao hạnh phúc, bài ca chia ly, bài ca chung thuỷ, bài ca lạc quan... vẫn luôn được các nhà thơ viết về thời chống Mỹ phản ánh vào những bản trường ca sử thi hiện đại.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1].             Hoàng Như Mai (2001), Chân dung và tác phẩm, NXB Giáo dục

 

[2].             Nguyễn Thị Liên Tâm (2002), Luận văn Cao học “Đặc điểm trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ”, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh.

 

[3].             Roman Jakobson (1945 - 1975), Ngôn ngữ và thi ca, (Cao Xuân Hạo dịch).

 

[4].             Vũ Văn Sỹ (1999), Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam (1945 - 1995), Nxb Khoa học Xã hội.

 

 

 

 

 

Nguồn: Phongdiep.net

 

Các bài khác:
· TÌM ĐƯỢC GÌ Ở MÙA MÀNG VĂN HỌC MẤY NĂM QUA?
· NHẬN DIỆN PHÊ BÌNH, LÝ LUẬN VĂN HỌC THẾ KỶ XX
· TỐ HỮU VÀ NGỌN ĐÈN CÔ ĐƠN ĐÃ TẮT
· NGUYỄN NHƯỢC PHÁP - CÔ GÁI CHÙA HƯƠNG SỐNG MÃI TUỔI 15
· NHÀ VĂN BĂNG SƠN QUA ĐỜI
· CHỮ 'DÂN' TRONG DI CẢO VĂN CHƯƠNG NGUYỄN TRÃI
· HUỲNH THÚY KIỀU - THƠ MANG MÙI BÙN ĐẤT
· L.N.TONXTOI VỚI CÂU HỎI: “ĐỜI TÔI LÀ GÌ?”
· SỰ KẾT HỢP CỦA CHỮ TRONG 'TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI'
· HOÀNG QUỐC HẢI - HÀNH TRÌNH QUA TÁM TRIỀU VUA LÝ
· KHÔNG CÓ LẼ SÓI LẠI ĂN THỊT KẺ CÔ ĐƠN
· BÙI GIÁNG - CÒN 2 CON MẮT KHÓC NGƯỜI 1 CON
· VĂN CHƯƠNG VIỆT CÓ THỂ ĐỘT PHÁ?
· VỢ PHÙNG QUÁN 'NHÂN VĂN GIAI PHẨM' ĐÃ RA ĐI
· NHÀ VĂN BẢN NINH SAU 20 NĂM THẦM LẶNG
· TRẢ LẠI TÊN 1 NHÀ THƠ TIỀN CHIẾN ĐẤT THĂNG LONG
· ĐỪNG NHƯ NHỮNG CHÚ KIẾN CHẠY QUÁNG QUÀNG TRONG CHẢO NÓNG
· DẤU ẤN THƠ TRÚC THÔNG
· HỖN NHẬP NGÔN NGỮ - MỘT GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HÓA TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM PHẠM QUỲNH
· TÔI CHẲNG NGẦN NGẠI ĐÁNH CƯỢC CUỘC ĐỜI MÌNH

 

  
Gia đình Bích Khê