DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THƠ, MỘT MẶC CẢM VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT

                                                                                  NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Thơ tất nhiên là bằng chữ viết. Mà chữ viết, mới đây thôi, nghĩa là trên đỉnh chóp của tòa tháp lịch sử, một cách rất đặc thù của châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng là một mặc cảm thống soái, dầy vò khốn khổ nhất của người Việt.
  Lần lại dăm bảy thập niên, tất cả còn rất mới, như thể những trang lịch sử còn đang thở trong dòng trôi của hiện tại với những dòng chữ chưa ráo mực, chúng ta thấy rõ ràng: diệt giặc dốt cam go, liên miên hơn nhiều diệt giặc đói. Bởi lẽ quá hiển nhiên, một người đang đói, cho anh ta ăn ba lưng cơm, anh ta liền hết đói. Một dân tộc đói, nếu gặp một vụ lúa bội thu thì cũng qua cơn nguy khốn. Nhưng với một người đói chữ, chúng ta không thể nhét, nhồi cho anh ta vài chữ, vài ngày hay vài tháng; mà sự học của anh ta phải là một quá trình giúp tinh thần tiêu hóa cả một chuỗi toa tàu chở đầy lương thực tri thức của nhân loại.

      Chữ nghĩa là cả một mặc cảm lớn nhất của tinh thần, đặc biệt là ở châu Á. Người trung Quốc hiện đại nói "Không có học thì đời vứt đi". Xưa kia, người ta còn nói "Học nhi ưu tắc sĩ", học giỏi thì làm quan. Rồi có chữ thì có tất cả. Trong chữ có chức sắc to, phẩm hàm lớn, rồi bổng lộc nhiều; trong chữ có cả nhà lầu, và nhiều gái đẹp... Học trở thành một công thức đổi đời đến mức văn hào Lỗ Tấn cho rằng: nền văn học Trung Quốc muốn cho một người đàn ông cưới vợ, thì lập tức phải đẩy anh chàng đó lên kinh thi cử. Thi xong, đỗ trạng, anh ta mới vinh quy bái tổ để còn lớn giọng xướng: Song hỷ lâm môn: Thứ nhất thủ khoa, thứ nhì động phòng hoa chúc.
         Cả làng, cả huyện, cả nghìn người may ra mới có một người đèn sách học hành. Và có chữ biến thành một mặc cảm về đẳng cấp. Người có học đứng giữ chợ vén tay áo, vừa khua một nét, xung quanh đã có cả trăm kẻ tung hô. Rồi trả cả chục lượng bạc mua về, khắc gỗ nạm vàng, treo lên vách. Không chỉ thứ dân treo chữ, ngay tại cung đình phía sau ngai vua cũng ghi chi chít toàn chữ là chữ, để khoe mẽ cung đình là nơi lắm chữ. Chữ còn được vẽ tỉa tót, rao bán ngoài chợ. Mới đây, ở Trung Quốc có cả một trường phái thể dục vẽ chữ, đủ hiểu mặc cảm đói chữ, khát chữ, và yêu chữ của người ta đến mức nào.

         Xu hướng đó hoàn toàn ảnh hưởng và đè nặng lên văn hóa Việt Nam, bởi lẽ, người Việt về mặt chủng tộc, địa lý, cũng như lịch sử có rất nhiều thứ phát sinh cật ruột từ Trung Quốc. Người Việt cũng có nhiều cảnh bày bán mua chữ ngoài chợ, chẳng hạn nếu chúng ta lên thăm đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh, thì sẽ gặp rất nhiều thầy viết sớ cúng bằng chữ Hán. Người dân chẳng hiểu gì cả, nhưng vẫn cứ mua chữ để cúng như thể, cúng bằng chữ Hán thì thánh thần nhanh duyệt hồ sơ hơn. Còn ở nhiều vùng quê, người ta bỏ cả tiền triệu ra để khắc hoành phi câu đối bằng chữ Hán, dù chẳng hiểu gì, nhưng vẫn cứ treo lên như mốt của người sính chữ.

          Chữ nâng đẳng cấp con người lên cao, đặc biệt chỉ có nó mới nâng con người lên vị trí quan lại ở dưới một người ở trên vạn người, vì thế cho nên, người ta chẳng mấy khi uổng phí cơ hội để khoe mẽ ta là người biết chữ. Biết chữ ư, đó còn là cơ hội để cải thiện cuộc đời. Thậm chí dó là cơ hội thần tiên như trường hợp của Vương Bột, dong buồm qua khe núi được gió thần đẩy cánh buồm đi, kịp đến "Đằng Vân Các" đọc bài thơ nhớ đời. Và văn học Trung Quốc đã lan truyền cơ may đó là:
        
          Ở theo thời làm theo thế
          Qua khỏi tuần sấm đất tan bia
          Bay kịp chúng phải kịp người
          Mới đặng hưởng gió thần đưa gác

Đâu đâu người ta cũng khoe chữ. Làm sao phải khoe cách nào nhanh nhất, gọn nhất, và hiệu quả cao nhất. Viết một chữ cũng là khoe chữ. Bẻm mép hơn thì đọc đôi câu đối. Hơn nữa thì vận tinh thần để nặn ra một bài tứ tuyệt. Than ôi, một bài thơ bốn câu thì làm sao có khả năng bộc lộ những cái hay, cái giỏi, cái tài. Nhân gian chẳng có câu này sao:
      
        Ngựa hay phải chạy đường dài
        Nước kiệu mới thấy tài trai anh hùng

Ngay vấn đề này, đã có rất nhiều người nói rằng " Hay không cần dài"- (Quý hồ tinh bất quý hồ đa). Nhưng quý vị thử nhìn xem, ở Việt Nam có cả triệu- triệu ca khúc, nhưng có mấy người viết được giao hưởng. Giờ hãy nhìn thẳng vào thời vàng son của thơ Đường. Nhiều học giải chỉ coi đó là những mảnh vụn lấp lánh. Không là mảnh vụn thì là cái gì đây? Có bốn câu chẳng lẽ là "Sử thi hoành tráng"? Cụ thể hơn nếu đem lọc ra cả vạn bài thơ ngắn cũn cỡn đó, liệu có nổi một trăm câu thơ hay không? Thậm chí còn có cả những câu rất "xú học"- kém cỏi, chẳng hạn như câu "Thôi ta đi ngủ để còn mơ", nghe rất ấu trĩ, rất thụ động, vậy mà nó được bắt chước nhau, nhắc lại rất nhiều. Người ta tỉnh thức còn chẳng ăn ai, lại còn đòi ngủ để muốn ăn may nhặt lấy trong giấc mơ một hình ảnh đẹp, một câu thơ hay ư?

           Trình độ thơ của Việt nam ở đâu? Đã thành cái gì chưa? Triết gia Hegel nói: “Dân tộc nào chưa có sử thi thì dân tộc đó chưa có trình độ phát triển cao về tâm hồn”. Chính vì câu nói đó mà trong dăm năm gần đây, giới văn hóa Trung Quốc đã mở cuộc tìm kiếm với một mặc cảm thắc mắc rằng: chẳng lẽ dân tộc ta lớn như vậy mà không mảy may có sử thi sao? Cho đến nay dường như người ta vẫn chưa tìm thấy sử thi nào.

        Thơ là gì? Theo định nghĩa kinh điển nhất, đó là: “Cặp nhảy hoàn mỹ của ngôn từ và vần điệu”. Đây cũng là nguyên lý chí tử đầu tiên mà triết gia Aristote định đặt cho toàn thể nghệ thuật. Nghệ thuật là gì? Khi người ta đi bộ, nghệ thuật chưa bao giờ xuất hiện. Nhưng khi người ta nhảy múa thì nghệ thuật xuất hiện. Đó cũng chính là sự ra đời của âm nhạc- môn nghệ thuật mỹ cảm đầu tiên của con người. Khi ta nói bình thường, thì đó chỉ là cách biểu hiện thông tin, nhưng khi ta để cho ngôn ngữ nhún nhảy theo vần điệu, thì thơ bắt đầu xuất hiện. Nhảy- chính là điều kiện tiên quyết của nghệ thuật vì nó phóng đời sống ra khỏi dòng chảy trần tục thường ngày. Nghệ thuật chỉ là nghệ thuật khi nó trở thành đôi cánh ước mơ cất lên khỏi cuộc đời thô ráp. Họa sĩ thiên tài Michenlangelo nói, nghệ thuật là "Hòn đá nâng cấp nơi bức tượng và xuống cấp nơi cầu thang". Vậy là đã quá rõ ràng: nếu không có đôi cánh của nghệ thuật tạc mình thành bức tượng thì hòn đá chỉ nằm bẹp dí nơi cầu thang mà thôi.

        Vậy thì nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng của Trung Quốc và Việt nam không có điệu nhảy ở chân, chính thế mà nó chưa có được bước đầu tiên để đi vào nghệ thuật, nó chủ yếu dùng tay múa, mà điệu múa thì vờn vờn khoe thân thể, khoe vuốt ve, khoe những động tác massage giành cho những quan lại vua chúa đang xem là những người có quyền lực. Chính vì  không có sự vận động ở chân, mà thơ của Á Đông còi cọc. Đồng thời thiếu tính sáng tạo bởi vì nó mang chất nô tài cao thiếu đi sự thể hiện của nghệ sĩ tự do. Trong các điệu múa của Việt Nam chẳng hạn, nào múa giã gạo, múa kéo lưới, múa sàng sảy... tất cả là hình thức mô phỏng đời sống và cũng là mối lo toan thực phẩm nuôi sống, nó không phải thứ nghệ thuật tự do giải trí như phương Tây, ban ngày họ làm việc mệt nhọc, ban đêm thì hò hét, nhảy múa, tán tỉnh. Có rất nhiều cây bút Việt Nam vẫn còn chất chứa trong tâm hồn những điệu múa lới lơ, những cơ thể vận động bằng tay chứ không phải hành hương bằng chân, dù họ có đi Tây đi Mỹ, thì tiết điệu trong máu vẫn chỉ là những câu hò điệu múa âm lịch, vì thế thơ không cách gì được sống dồn dập trong nhịp điệu, xa xôi trong hành trình. Và bằng một quán tính múa may nó lại chỉ loay hoay diễn trò tinh xảo, mài rũa, bé bỏng.

          Thơ muốn đi xa phải có tư tưởng. Nước trên đỉnh núi cao chảy xuống mới tạo thành dòng sông ra biển. Nước đổ xuống mặt bàn, dù có lấy ngón tay vẽ khéo thế nào cũng chỉ là những vệt chưa ướt đã khô. Tuần vừa qua, nhiều chuyên gia khi đánh giá sự nổi lên của châu Á về kinh tế , nhưng họ cũng kết luận rằng: Người châu Á không thể trở thành nhà lãnh đạo thế giới vì họ thiếu một tư tưởng hệ thống. Triết gia John Dewey khi đến thăm Trung Quốc đã nói: Người Trung Quốc không có óc độc lập. Óc độc lập còn chưa có thì bàn gì đến tư tưởng. Tại sao vậy? Vì người Trung Quốc chìm trong thời phong kiến tàn khốc qúa lâu, có thể chu di cả chín họ, nên họ mắc chứng nô tài nặng, không bao giờ dám thể hiện mình, mà chỉ luôn luôn phô ra sự vâng phục khiếp nhược của mình.

        Ở Việt Nam tình hình nói chung giống thế. Mới đây rộ lên hàng loạt các cây bút viết Hậu hiện đại. Cái gì họ cũng nhét vào văn thơ, kể cả vô số rác rưởi, họ gọi đó là hậu hiện đại. Trời ơi, người Việt ta đã trải qua hiện đại đâu mà muốn hậu hiện đại. Ngày xưa, mấy cô nhà quê đội nón rộng vành, nhẹ bỗng, vì các cô quảy gánh đi bộ, nhưng giờ đây vì các cô đi xe máy đội mũ bảo hiểm. Thế là chính các cô trải nghiệm hiện đại. Đa số chúng ta ngại tư duy, trốn tránh tranh luận, luôn đưa ra những ý kiến nước đôi, óc độc lập chưa có, xây dựng tư tưởng lại càng chưa bao giờ, trải nghiệm cũng không. Vậy thì bàn đến hậu hiện đại làm gì. Cái hậu hiện đại của chúng ta chỉ giả cầy thôi. Một số tác giả Việt ở nước ngoài cũng rất chăm viết về hậu hiện đại, nhưng phần đông chỉ là tra cứu chứ không phải trải nghiệm. Chúng ta biết, học điệu van-xơ: bùm-chát-chát, không quá một phút, nhưng để thành thạo nó tới mức ngấm trong máu phải mất hàng năm. Rất nhiều cây bút ở nước ngoài về mà tôi vẫn thấy sền sệt trong tư duy họ tiết điệu máu chảy của lới lơ, cóc cáy, quê mùa. Than ôi, làm nghệ thuật thì phải có tâm hồn văn hóa tinh tế, đằng này còn quê kệch thì làm sao tới nghệ thuật, càng chẳng tới được hậu hiện đại.

       Theo nhân chủng học, người xứ nóng mũi tẹt, vai xuôi, ngực lép, vóc nhỏ để tránh nóng. Người xứ nóng thường lười nhác ngại làm việc lớn vì khi làm cơ thể ra nhiều mồ hôi. Người xứ nóng cũng rất tùy tiện trong cách sống, bởi vì có thể vận quần xà-lỏn đi tung tăng mà không sao. ( Còn người xứ lạnh nếu không nắm vững các quy tắc về giữ ấm khi ra khỏi nhà liền nguy đến tính mạng). Xã hội ta lại là xã hội tam nông, nông thôn, nông nghiệp, nông dân, mắc các thói xấu, tiểu nông, tiểu trí, tiểu xảo, và thế là có vô số người mang theo bản tính đó cầm lấy bút, tùy tiện làm thơ, mong làm sao chớp được cơi hội đổi đời, không làm quan thì cũng cải thiện giá trị văn hóa của mình.

         Quan sát nhiều người sau vài chục năm vẫn muốn đọc thơ, tôi thấy sao anh ta, chị ta không nâng cấp thơ mình lên, trước kia thì mới vào nghề, nay thì phải đọc theo tư cách đề cử thi hào. Để mạnh dạn tạo ra một đời sống thi ca mới, có cạnh tranh, ganh đua tài năng, giờ tôi xin được đọ thi thơ với mọi cây bút cho dù đã đi xứ hoặc được giải gì. Hiện tôi có bốn trường ca và một tập thơ ngắn. Việc tôi đề cử và thi đọ, tôi nghĩ là quyền chính đáng, như thể một chị nhà quê muốn để cử kỷ lục guinesse về việc mình ăn nhiều ớt nhất. Việc tôi xin đọ thơ cũng là lời công khai đàng hoàng, chứ không phải là thứ dấm dúi trong bếp. Nó cũng là tấm giấy quỳ không chỉ phát hiện ra bản thân tôi mà còn thấy được người chiến thắng tôi. Tôi nghĩ đó cũng là một sáng kiến nhằm thanh toán đời sống thơ quá lầy nhầy, buồn ngủ, lười nhác và nhiều hoang tưởng của chúng ta.
Xin cảm ơn và xin đợi lời thách đấu.

Nguồn: Lethieunhon.com

 

Các bài khác:
· THIÊN CHỨC NHÀ VĂN
· NGƯỜI ĐÀN BÀ “DẠI YÊU”TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN
· PHẠM THIÊN THƯ - VỊ TU SĨ LÃNG MẠN
· THƠ CHÍNH LÀ SỐ PHẬN
· VĂN CHƯƠNG DỊ MỌ, MA MỊ KHÔNG PHẢI LÀ VĂN CHƯƠNG ĐÍCH THỰC
· VIẾT TIỂU THUYẾT CHÍNH TRỊ PHẢI CÓ 'MÁU CHÍNH TRỊ'
· MỘT NÉT HÌNH DUNG TRƯƠNG NAM HƯƠNG QUA CHIẾC CẦU THI CA HÌNH CHỮ H
· TÔI ĐÓNG KHỐ QUA MÙA THUẬN NGHĨA
· NGUYỄN THỊ TUẤN VÀ NHỮNG DÒNG THƠ MUỘN
· NHỮNG CUỐN SÁCH THAY ĐỔI ĐỜI TÔI
· HOÀNG NGỌC HIẾN VÀ MAIAKOVSKI
· NHỮNG BÀI THƠ CUỐI CÙNG CỦA NGUYÊN SA
· CÓ MỘT BÀ TÊN HUYEN (HUYỆN) HỌ QUAN LÓT CHỮ THANH
· ÁM ẢNH HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
· GẶP NGƯỜI EM NUÔI CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
· ROLAND BARTHES ĐÃ “GIẢI CẤU TRÚC” NHƯ THẾ ĐẤY!
· NGUYỄN NGỌC KÝ - 'NGƯỜI VIẾT BẰNG CHÂN VÀ LÀM CHỒNG 2 CHỊ EM RUỘT'
· LỄ HỘI LỤC BÁT “NGÀN NĂM HỒN VIỆT” – ĐỘC ĐÁO VÀ ẤN TƯỢNG
· QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHỮNG TỨ THƠ
· VĂN CHƯƠNG TRẺ - NHỮNG BƯỚC ĐI LẠ

 

  
Gia đình Bích Khê