DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
SỨC MẠNH ÁM GỢI VÀ TƯỞNG TƯỢNG TRONG 'BÓNG ĐÈ' CỦA ĐỖ HOÀNG DIỆU

                                                                                                               Hoàng Tố Mai

Ám chỉ và Ám gợi

Nhiều người không thích "Bóng đè". Nhưng số người thích nó vẫn đông hơn. Và dù thích hay không thích thì người ta không thể phủ nhận ấn tượng "Bóng đè" để lại. Lâu lắm mới có một truyện ngắn đặc sắc như vậy.

 

Bắt đầu từ cốt truyện. Một cô gái thành phố (được viết từ ngôi thứ nhất) kết hôn với chàng trai gốc gác nông thôn. Họ sống với nhau khá hạnh phúc dù chàng trai lắm khi phát hoảng trước đòi hỏi tình dục mạnh mẽ của cô vợ trẻ. Bi kịch bắt đầu xảy ra khi cô gái theo chồng về quê ăn giỗ, cả thảy bốn lần. Đời sống tinh thần tù hãm, lưu cữu của làng quê cộng với sự đối xử sự khắc nghiệt của gia đình nhà chồng đã đem đến cho cô những cơn bóng đè nửa thực, nửa hư rất đáng sợ. Cô bị một hồn ma, có lẽ là ông bố chồng cưỡng hiếp. Có điều là ngoài những cảm giác sợ hãi, xấu hổ, cô gái còn cảm nhận được những khoái lạc thể xác mà chồng cô không thể mang lại. Chồng và mẹ chồng cô dường như biết việc này nhưng không ra tay can thiệp mà chỉ tỏ thái độ ghẻ lạnh, xa cách. Sau bốn lần về quê chồng ăn giỗ hôn nhân của cô bị đe dọa. Kết thúc truyện cô gái có thai, bằng cảm nhận của mình cô chắc chắn hồn ma kia chính là cha của đứa trẻ.

 

Một cốt truyện đặc biệt như vậy đủ để Bóng đè được dư luận chú ý. Nhưng tác giả của Bóng đè không chỉ đầu tư vào cốt truyện, dường như có vài chi tiết tác giả cố ý đưa vào cốt để độc giả sau khi đọc có những suy diễn giống nhau. Cũng có thể coi đó là những ám chỉ khiến cho Bóng đè mang dáng dấp một tác phẩm văn học minh họa.

 

Rất nhiều bạn đọc sau khi đọc Bóng đè đã liên tưởng ngay đến một đoạn viết nổi tiếng trong truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp. Đó là đoạn bút ký của nhân vật người Pháp tên Phăng, y là một trong số vài người châu Âu giúp việc cho vua Gia Long. “Đặc điểm lớn nhất của xứ này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Vua Gia Long hiểu điều ấy và đấy là nỗi cay đắng lớn nhất mà ông cùng cộng đồng phải chịu đựng”. Đây là đoạn viết ấn tượng nhất trong Vàng lửa. Nó cũng là một trong những phát ngôn nặng ký nhất xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Gần hai mươi năm sau Đỗ thị Hoàng Diệu đã công khai minh họa nó bằng một tác phẩm không kém phần ấn tượng: Bóng đè.

 

Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, nhà văn Mỹ Edgar Allen Poe đã tỏ ra dị ứng với những cây bút cứ chăm chú sử dụng văn học để chuyển tải hay minh chứng cho những quan điểm đạo đức, xã hội. Ông cho rằng để có một bài thơ với đúng nghĩa của nó “có hai điều luôn luôn được đòi hỏi - thứ nhất, một lượng phức tạp nào đó hay nói đúng hơn một lượng ráp nối nào đó; và thứ hai một lượng ám gợi nào đó - những ý nghĩa chạy ngầm ở dưới mà lại mập mờ. Đặc biệt là chính mảng này truyền cho công trình nghệ thuật không biết bao nhiêu là mầu mỡ (richness) (tôi mượn từ lời ăn tiếng nói hàng ngày cái từ sống động này) mà chúng ta thường rất thích nhầm lẫn với lý tưởng. Chính sự nống lên quá đáng ý nghĩa được ám gợi (suggestiveness) - thay cho sự chạy ngầm dưới chủ đề lại làm cho nó lộ ra ở bên trên - chính sự quá đáng này biến cái gọi là thơ của cái gọi là trường phái siêu nghiệm thành văn xuôi (mà lại là thứ văn xuôi tầm thường nhất)" .

 

Ở đoạn viết này Poe đã kiên quyết trả lại cho thơ sự quyến rũ tự thân thủa ban đầu và ám gợi là điều kiện quyết định. Có thể dịch suggestiveness là ám gợi, khơi gợi hoặc khêu gợi nhưng với trường hợp sáng tác của Poe và Diệu thì dịch là ám gợi có vẻ thích hợp hơn. Đoạn viết trên cũng như thuật ngữ suggestiveness đã được Mallarmé "tái sử dụng" trong một bài tiểu luận: “Các nhà Thi sơn (Parnasse) nắm bắt sự vật trong toàn bộ và trình bày ra hết, do đó đã xoá mất đi bí ẩn; họ tước bỏ niềm vui lớn nhất của tâm hồn người đọc, tức là tin vào những gì họ sáng tạo. Gọi tên đối tượng có nghĩa là phá huỷ ba phần tư sự hưởng thụ bài thơ, nó tạo thành niềm lạc thú được đoán ra dần dần. Khêu gợi (suggérer) đó là ước mơ và mục đích. Tượng trưng cho phép sử dụng hoàn toàn cái bí ẩn đó: nó gợi ra một phần nhỏ cái vật thể tượng trưng để cho thấy một trạng thái tâm hồn hay ngược lại, chỉ ra đối tượng, rồi sau đó giải mã nó, để giải thoát ra một trạng thái tâm hồn cần phải có" .

 
 

Sự ám gợi không chỉ cần thiết cho thơ. Càng ngày, khi ranh giới giữa thơ và văn xuôi càng mờ đi thì "một lượng ám gợi nào đó" cho một tác phẩm văn xuôi cũng làm cho nó "màu mỡ" hơn rất nhiều. Khi đọc đến đoạn "Chính sự nống lên quá đáng ý nghĩa được ám gợi (suggestiveness) - thay cho sự chạy ngầm dưới chủ đề lại làm cho nó lộ ra ở bên trên "thì không ít độc giả nghĩ đến Alain Robbe Grillet, người từng đề cập đến vấn đề văn chương "dấn thân" ở phương Tây hay chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở phía đông, những cái lốt mới của tiểu thuyết luận đề đã từng bị "phỉ nhổ" trong quá khứ [4]. Khi văn học chỉ nhằm vào minh hoạ cho những mục đích chính trị, đạo đức cụ thể, thì sự khơi gợi hay vẻ đẹp mơ hồ, mập mờ của nó bị xem nhẹ thậm chí bị vứt bỏ. Đó cũng chính là lý do khiến nhiều tác phẩm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nổi đình đám một thời nay chìm hẳn vào quên lãng.

Trở lại trường hợp Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu. Khi Bóng đè được xuất bản ở Việt Nam không ít người tiếc rẻ vì nó không được nguyên vẹn. Có nghĩa là liều lượng ám chỉ đã được giảm bớt. Thế nhưng cho dù bị cắt xén nó vẫn được đón nhận hết sức nồng nhiệt. Thậm chí, nếu ở bản in sau những chi tiết về gốc gác Trung Hoa của chồng Thụ bị lược bớt thì Bóng đè vẫn còn nguyên giá trị của nó. Có thể bớt đi không ít lời xuýt xoa, tiếc rẻ nhưng cũng bớt đi những cái lắc đầu của những độc giả khó tính, những người có khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật, những người ghét sự ám chỉ lộ liễu, những người ghét “sự nống lên quá đáng ý nghĩa được ám gợi”. Như vậy, có thể thấy trong một tác phẩm văn học thì ám gợi mới là quan trọng, còn ám chỉ (ít nhiều lộ liễu) thì có hay không cũng được. Ám chỉ khiến người ta đắc ý, còn ám gợi lại khiến người ta chao đảo, rung rinh. Chúng ta hãy hình dung khi không khí văn nghệ ở ta cởi mở hơn thì ám chỉ sẽ không còn được tán thưởng vì có ai cấm đoán gì đâu mà phải ám chỉ. Có thể đọc những dòng này Diệu sẽ phản bác, chẳng hạn “Tôi chưa bao giờ đọc Vàng lửa”, minh họa và ám chỉ là do độc giả tự suy đoán, nó nằm ngoài chủ ý của tôi”. Với những luận điểm này Diệu sẽ thắng ở một phiên tòa nhưng chắc chắn sẽ có rất ít người tin vì Diệu viết Bóng đè sau Vàng lửa, một truyện ngắn cũng rất nổi tiếng của Nguyễn Huy Thiệp.

 

Cho dù Diệu thật sự chưa đọc Vàng lửa thì vẫn phải chấp nhận là “kẻ đến sau” hoặc là người minh họa truyện ngắn này một cách vô tình. Rất may là Bóng đè không chỉ có ám chỉ, lượng ám gợi trong tác phẩm này cũng rất dào dạt, nó nhiều đến nỗi sắp chạm vào ranh giới của sự ứ thừa. Nó khiến ám chỉ của Diệu bớt đi nhiều sự lộ liễu, khiên cưỡng, thậm chí ở mức chấp nhận được. Một truyện ngắn dài tới 33 trang nhưng người đọc khó dứt ra được. Các câu thường ngắn gọn, thậm chí có câu chỉ hai từ. Các chi tiết thì chồng chất, ngồn ngộn khiến tốc độ câu chuyện được đẩy nhanh, rất tương thích với đời sống hiện đại. Sắc thái giọng kể trong Bóng đè khá đa dạng, ngôn từ được trau truốt công phu đủ để tạo ra những áng văn giàu nhạc tính và biểu cảm mãnh liệt. Một vài đoạn trong vắt, mơ hồ như thơ nhưng đa phần giọng kể bộc lộ nhãn quan phán xét, khi xấc xược, lúc hỗn hào, thậm chí là nghiệt. “Thụ nhìn tôi không bộc lộ cảm xúc. Da thịt tôi rần rần kiến bò. Cảm giác ơn ớn, trơn lọn, bóng nhãy” , “Mẹ chồng tôi loét quét đôi guốc vào buồng. Âm thanh roạc ngắn từng cơn”,  “Người Thụ thấm đẫm mồ hôi, giọng anh đừng đững”, “Loang loáng bãi ngô im lìm hứng sương không gió nào thãng thột”. “Tôi thức dậy bởi giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt” (Những từ in nghiêng là chủ ý của tác giả bài viết). Có rất nhiều câu như vậy được viết ra trong Bóng đè. Từ láy được sử dụng liên tục, thậm chí nhiều từ không có trong từ điển, có từ được tác giả ngẫu hứng tạo ra nhằm chuyển tải chân thực nhất cảm xúc cũng như cảm giác mạnh cực mạnh của nhân vật. Đặc biệt trong những đoạn tả cảnh bóng đè, Diệu đã làm được một việc ít nhà văn làm được. Đó là sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa bạo lực và sex trong không gian đầy ma mị. Sự chao đảo cảm giác của nhân vật giữa thực và hư, ảo rợn và nhục cảm, đau đớn và khoái lạc đã để lại những ấn tượng thật sự đặc biệt.

 

Khi trí tưởng tượng nằm trong giới hạn của hiện thực

 

Trong một bài trả lời phỏng vấn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp năm 2001, ông đã nói một câu rất hay liên qua đến trí tưởng tượng của nhà văn:

 

"Số đỏ, đấy là một tác phẩm tuyệt vời. Nó chứng minh khả năng tưởng tượng rất phong phú của nhà văn mà là nhà văn trẻ. Sở dĩ Vũ Trọng Phụng có được trí tưởng tượng ghê gớm như vậy là do ông viết Số đỏ khi còn rất trẻ. Trí tưởng tượng là ưu thế của tuổi trẻ. Khi đã sống quá dày dạn thì trí tưởng tượng sẽ mất dần đi, tôi cũng thế. Tôi chắc chắn là không viết được cái gì như Vũ Trọng Phụng. Vũ khí của ông là trí tưởng tượng và cũng là tuổi trẻ còn vũ khí của tôi có lẽ là... một phong cách đa dạng bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.” . Trong bài viết này, một lần nữa Bóng đè và tác giả của nó lại liên quan đến một phát ngôn của Nguyễn Huy Thiệp. Bóng đè không thể tạo được ấn tượng mạnh như vậy nếu thiếu vắng trí tưởng tượng đặc biệt của tác giả. Chúng ta thường nói nhiều đến thủ pháp sáng tác, đến đời tư, đến khuynh hướng xã hội của nhà văn nhưng dường như ít quan tâm đến trí tưởng tượng của họ. Thực ra nó cũng rất quan trọng, đặc biệt đối với những nhà văn đậm chất fantastic (tạm dịch là kỳ ảo). Chẳng hạn, trường hợp của Edgar Allen Poe và Nathaniel Hawthorne, hai nhà văn Mỹ lỗi lạc trong thế kỷ XIX, khi nói về tác phẩm của họ người ta không thể nhắc đến trí tưởng tượng phong phú và kỳ lạ của hai tác giả này.

 

Bóng đè cũng vậy, một cốt truyện phức tạp tràn ngập những chi tiết rờn rợn, ám ảnh trong những không gian ma mị như thế , hẳn là trí tưởng tượng đóng vai trò quyết định. Thế nhưng nếu xem xét kỹ thì từng tình tiết fantastic của Diệu lại thấy chúng đều không vượt qua giới hạn của hiện thực. Có nghĩa là, từ đầu đến cuối, mọi tình tiết đều nằm trong những giới hạn có thể lý giải được. Bóng đè là hiện tượng tâm lý phổ biến, có rất nhiều người thường xuyên bị bóng đè, có thể tác giả của Bóng đè cũng nằm trong số đó. Trong truyện có cả thẩy bốn lần nhân vật chính kể chi tiết sự kiện bị bóng ma hãm hiếp. Nhưng rất có thể đó chỉ là ác mộng. Không có chi tiết xác thực nào khẳng định hồn ma đó không chỉ xuất hiện trong tâm tưởng cô gái. Việc cô gái trẻ có cảm giác là chồng cô, mẹ chồng cô cũng chứng kiến cô bị bóng đè rất có thể chỉ là suy diễn chủ quan của riêng cô. Thậm chí, nếu nhìn nhận theo phân tâm học thì những cuộc hãm hiếp nửa thực nửa hư kia có thể cho thấy phần nào đời sống tình dục không viên mãn của cô. Thỉnh thoảng nhân vật nữ có kể về “chất nhày ngà” ở mông và đùi sau những cuộc “hãm hiếp ảo” đó nhưng rất có thể đó là dịch âm đạo của chính cô gái khi đạt được cực khoái trong những giấc mơ đầy nhục cảm của mình. Trong chuyện, chi tiết có vẻ xác thực hơn cả đó là khi cô gái bị chảy máu ở lần bị cưỡng bức ảo thứ ba. Lúc đó chồng cô mắng “Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh”, nhưng cô cho rằng chồng cô thừa biết cô bị hãm hiếp mà vẫn cứ mắng át đi vì sợ bà mẹ nhìn thấy. Tóm lại, vẫn là cảm giác chủ quan của cô cái. Rất có thể phần phụ của cô trục trặc, vì có nhiều phụ nữ vẫn bị xuất huyết không rõ nguyên. Như vậy, nếu truy xét tỉ mỉ từng chi tiết trong Bóng đè ta vẫn thấy chúng không vượt quá giới hạn của hiện thực, có điều khá nhiều chi tiết nằm trong trường hợp ngoại lệ.

 

Có thể tạm gọi việc nhà văn cố ý ghìm nén các chi tiết sao cho không vượt qua giới hạn của hiện thực là thủ pháp “trong giới hạn của hiện thực”. Một câu chuyện hoang đường luôn thu hút sự chú ý của độc giả vì những chi tiết hoang đường của nó. Chính thế kể một câu chuyện mà mọi tình tiết đều nằm trong giới hạn của hiện thực mà vẫn đạt được hiệu quả như một câu chuyện hoang đường thì nhà văn phải nỗ lực hơn. Quá trình kể chuyện phải gia công nhiều hơn, trí tưởng tượng không thể mặc sức tung hoành vì trong thâm tâm nhà văn luôn phải ghìm nét, điều chỉnh các tình tiết sao không vượt quá giới hạn của hiện thực. Diễn biến cốt truyện sẽ phải được tính toán kỹ lưỡng hơn để sao cho hiệu quả nhất.

 

Đầu thế kỷ XX, có thể coi Franz Kafka đã sử dụng thủ pháp này ở mức độ "siêu" trong Vụ án. Thế giới được tạo dựng trong vụ án Vụ án của Kafka đầy phi lý, xa lạ. Nhưng nếu khảo sát kỹ lưỡng thì không một tình tiết nào vượt qua giới hạn của hiện thực. Và ở đây ta cũng thấy tràn ngập những "ngoại lệ". Sau khi K. bị kết án ở một căn hộ nào đó, anh tìm trở lại "phòng lục sự" gạ chuyện người phụ nữ trong phòng để được xem "giấy tờ của ngài dự thẩm". Cái anh được xem là những "hình vẽ tục tĩu mà vụng về". Một hoạ sĩ vẽ tranh ở toà sau khi tư vấn luật pháp cho K. thì bán cho anh lần lượt 5 bức tranh giống hệt nhau mà không hề thấy ngượng ngùng. Cái chết của K. quái lạ nhưng vẫn có thể lý giải trong phạm vi hiện thực. Về tổng thể, cái ảo tưởng về một câu chuyện có thực ở đây mong manh hơn những gì Diệu đã cố gắng gieo vào lòng độc giả. Chính thế tác phẩm của Kafka trở thành "phi lý". Nhưng trạng thái tâm lý của nhân vật K. lại mang dấu ấn hiện thực rõ rệt. Chắc chắn Vụ án phải bắt đầu từ những khoảnh khắc tâm lý đặc biệt của con người hiện đại, hoang mang, lo hãi vô cớ, sự vô cảm, xa lạ, cảm giác bùng nhùng, bế tắc của giấc mơ... Có điều là Kafka đã nỗ lực duy trì trạng thái này suốt cuốn sách khiến nó có sức nặng ghê gớm, tạo nên cảm giác như khi có ai đó tìm cách "cố định những cơn chóng mặt" (Rimbaud, Một mùa địa ngục).

 

 Những người hâm mộ Kafka thường tranh luận xem Hoá thânVụ án cuốn nào thực sự hay hơn. Trong văn học, so sánh hai tuyệt tác là một việc khó khăn nhưng nếu xét theo tiêu chí hiện thực thì sẽ thấy có sự khác biệt lớn. Hoá thân ngay từ đầu đã là một sự kiện hoang đường: người hoá thành sâu bọ. Không chỉ một mình nhân vật chính thấy mình biến thành bọ mà cả các thành viên trong gia đình cũng thấy. Ranh giới của hiện thực đã bị xoá bỏ ngay từ trang đầu tiên. Chỉ một sự kiện người hoá thành sâu bọ đã khiến độc giả bị cuốn hút. Còn Vụ án thì không như vậy. Thủ pháp "trong giới hạn của hiện thực" được duy trì liên tục, không có một sự kiện hoang đường nào xảy ra vậy mà nó vẫn tạo ra một sức lôi cuốn đặc biệt. Vậy phải chăng thủ pháp "trong giới hạn của hiện thực" chính là một trong những yếu tố quyết định tầm vóc của Vụ án, thậm chí có phần còn vượt lên cả Hoá thân?

Dostoievski đã từng nhận định về truyện ngắn Poe: “Ông gần như luôn chọn hiện thực hiếm hoi nhất và đặt nhân vật của mình vào trong tình huống khách quan tâm lý khách quan nhất” . Bóng đè cũng vậy, hiện thực trong Bóng đè là một thách thức đối với độc giả. Việc không đẩy những tình tiết fantastic trong Bóng đè vượt quá giới hạn của hiện thực khiến độc giả cảm thấy câu chuyện kỳ quái này có thể xảy ra ở đâu đó, thậm chí với những người quen biết, và rùng rợn hơn cả là có thể xảy ra với chính bản thân họ. Chính thế truyện ngắn này đọng lại rất lâu trong trí nhớ.

 

Thách thức "di sản tăm tối”

Thụ xuất thân nông thôn. Có lẽ anh cũng ra thành phố đủ lâu để thay đổi. Thụ đeo kính trắng, “đôi má phụng phịu ninh nính”. Khi Thụ sống ở thành phố Thụ giống như bất cứ người đàn ông nào ở đó, thậm chí còn dễ dàng cưới được một cô vợ thành thị.

 

Thời gian đầu vợ Thụ khá hài lòng với chồng mình. Rạn nứt chỉ bắt đầu khi hai vợ chồng kéo nhau về quê ăn giỗ cha, một làng quê “vẫn giữ được nét cổ xưa hiếm hoi”. Thụ gần như biến thành kẻ khác. Anh ta sì sụp khấn vái trước cái bàn thờ khổng lồ với những âm thanh “ập è”, “xin xít” đầu lưỡi, người anh luôn ướt đẫm mồ hôi, luôn nhìn vợ “không biểu lộ cảm xúc”, giọng “cục cằn”, “bực bõ”, mắt thì “vô hồn, tròng mắt quạnh quẽ, rờn rợn”. Người vợ trẻ luôn “thắc mắc vì sao Thụ phải đổi giọng mỗi khi có bàn thờ”.  Về quê, anh ta trở nên gắt gỏng, luôn thấy vợ mình hành xử vô ý, thiếu lễ nghĩa. Anh ta đắm chìm vào bầu không khí lưu cữu, u ám của những bát hương, những ngôi mộ cha ông. Thái độ ghẻ lạnh của nhà chồng cùng với sự biến đổi tâm tính của Thụ đã làm tổn thương cô gái trẻ, nó khiến cô ta từ ngờ vực đến tin chắc rằng Thụ và mẹ biết chuyện cô bị bóng đè nhưng vẫn bỏ mặc cô cho bóng ma hãm hiếp. “Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả. Nhưng sao anh không cứu tôi, anh không thiêu cháy bóng đen man rợ bảo vệ vợ mình. Hay Thụ đồng lõa, bán tôi cho những bài vị khát đói? Tôi hận anh vô cùng”.

 

Các cô gái thành thị lấy chồng ngoại tỉnh ít khi chịu lý giải thấu đáo căn nguyên sự thay đổi của “phu quân” khi cha mẹ anh ta từ quê ra chơi hay khi theo anh ta về quê với tư cách nàng dâu. Họ chỉ biết miệt thị lén lút hoặc công khai “đồ nhà quê”. Làm như vậy họ thực sự xúc phạm chồng và gia đình nhà chồng. Gốc gác nhà quê vừa là niềm tự hào mà cũng vừa là mặc cảm của những chàng “trai quê ra tỉnh”. Một người đàn ông sống ở nông thôn lên thành phố định cư họ có thể thay đổi, thậm chí lột xác. Thế nhưng không có nghĩa là họ sẽ tẩy xóa hết thẩy những hành vi ứng xử hình thành trong môi trường sống cũ. Thứ nhất là không thể xóa được, thứ hai là họ cũng chẳng muốn thế. Ở thành phố họ có một đời sống đúp. Họ cố gắng bắt nhịp với thành phố nhưng đồng thời họ vẫn cố không để mất đi bản sắc quê hương. Thậm chí họ còn cho đó là thế mạnh của mình. Rất nhiều vị thích họp đồng hương, thích về quê xây mộ, tham gia lễ hội, thích nhận được sự ngưỡng mộ từ quê nhà, và rất chú trọng tới lời khen tiếng chê của bà con xóm giềng. Họ tỏ ra bực bội nếu vợ con không tha thiết gì những chuyện này. Điều này khá bất công vì họ đã có một quãng thời gian dài để thích nghi với thành phố trong khi vợ con họ thì chưa bao giờ sinh sống ở nông thôn. Thực ra đây là một trong những vấn đề hậu nhập cư nói chung, chứ không riêng gì chuyện “trai quê ra tỉnh”. Những cuộc trở về của Thụ cũng vậy, cái không khí lưu cữu đầy dấu tích của thời gian và lịch sử đã làm sống lại con người trước đây của Thụ. Nó đánh thức những dấu tích của “di sản tăm tối” tưởng như đã khuất lấp, chìm sâu. Lúc này cô vợ thành phố bỗng biến thành một dị vật, rất có thể vì cô ta mà Thụ đánh mất vị thế của người đàn ông mà gia đình và họ hàng kỳ vọng. Và đương nhiên chẳng người vợ nào lại muốn chồng coi mình như dị vật. Bi kịch đã xảy ra.

 

Gái quê ra thành phố cũng gặp vấn đề tương tự nhưng ít nghiêm trọng hơn. Khi họ kết hôn với một chàng trai thành phố, họ có lợi thế của một nhân vật phụ. Xuất giá tòng phu, đàn bà lấy chồng thì theo chồng. Họ không phải gồng mình thể hiện bản lĩnh cũng như bản sắc. Và hình như sức chịu đựng của đàn bà Việt Nam rất tốt, họ thích nghi hoàn cảnh rất nhanh.

 

Vấn đề chính của Bóng đè không chỉ dừng ở “trai quê ra tỉnh”. Giọng kể thản nhiên không một chút mặc cảm phận nữ của nhân vật đã tạo nên sắc thái feminism rõ rệt. Chẳng hạn, “Tôi không thể ngoan hiền. Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập. Tôi ưa kéo Thụ lên chà xát. Tôi bắt đôi tay Thụ bóp nắn liên tục”  hay “Thụ cứ van xin tôi đừng hực lên như hổ cái. Tôi chẳng thể đặng đừng. Anh bị tôi co rút lôi đi. Đôi lúc thấy anh kinh khiếp tôi đành phải dè dặt. Nhưng rồi đến cơn khát tôi vung vấp hết. Mỗi sáng thức giấc trông Thụ thật tội nghiệp” . Tác giả sử dụng toàn động từ mạnh, người nữ không hiến dâng, phục tùng như thói thường mà còn coi chồng mình như một phương tiện để thỏa mãn nhục dục ở mức tối đa, gần như cưỡng bức anh ta vậy.

 

Việc cô bị bóng ma ông bố chồng cưỡng hiếp (hoặc cô tự kỷ ám thị về điều này) có nhiều cách lý giải. Nhiều bạn đọc sẵn lòng giải mã giống như phát ngôn của Nguyễn Huy Thiệp. Việt Nam giống như một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Cứ cho là đây là dụng ý của Hoàng Diệu nhưng có lẽ vẫn còn những ẩn ý khác. Sự cưỡng hiếp không chỉ là hành vi thỏa mãn nhu cầu tình dục. Đôi khi nó còn là hành vi ra oai, dằn mặt, thậm chí trả thù. Có lẽ việc bóng ma cưỡng hiếp con dâu trong Bóng đè chứa đựng tất cả những động cơ trên. Tuy nhiên, vì ông ta là bố chồng nên tính chất vô đạo, phi nhân nhiều lên bội phần. Trong tiếng Việt từ cưỡng hiếp nhiều khi được thay thế bằng từ làm nhục. Cưỡng hiếp con dâu cũng là làm nhục con dâu, vừa bỉ ổi vừa dã tâm, vì người phụ nữ bị làm nhục sẽ không bao giờ được sống thanh thản với ký ức ê chề đó, nhất là người đó lại là bố chồng mình.

 

Trong quá khứ thì việc bố chồng cưỡng bức và thông dâm với con dâu không phải chuyện hiếm vì quyền lực của người đàn ông trong gia đình là tuyệt đối. Họ là vua, là bạo chúa trong vương quốc gia đình của họ. Mọi bí mật khủng khiếp đều bị chôn vùi, bưng bít với sự câm lặng của mọi thành viên trong gia đình cốt để gìn giữ “lễ nghĩa, phép tắc”. Đỗ Hoàng Diệu đã tái hiện lại một trong những bí mật khủng khiếp đó trong Bóng đè . Việc bóng ma cưỡng bức cô gái trẻ ở đây có vẻ giống một hành vi “dằn mặt” cô con dâu đa dâm, dường như ông ta cũng muốn trả hận cho cuộc sống chăn gối lép vế của con trai mình nơi thành phố. Mẹ chồng và chồng thì im lặng, ghẻ lạnh thậm chí không một chút xót thương, coi như sự ô uế này do chính cô gái tự chuốc lấy. Thực ra trong chuyện không có bằng chứng cụ thể nào cho thấy Thụ thực sự biết vợ mình bị cưỡng bức. Và nếu có biết thực sự, chắc anh ta sẽ vằn mắt lên chối cãi, dọa nạt để để bưng bít, để bảo vệ đến cùng cái “di sản tăm tối” mà anh ta thờ phụng. Thái độ bưng bít, câm lặng của hai mẹ con Thụ mới thực sự làm bạn đọc giận giữ. Đó mới là đỉnh cao của suy đồi đạo đức. Họ giữ lễ với cha ông bằng cách chà đạp lên nhân phẩm, tình cảm một cô gái vô tội, người cũng là một thành viên chính thức của gia đình.

 

Nếu mọi chuyện dừng lại ở đây thì Bóng đè sẽ trở thành bản cáo trạng vạch tội những tàn dư của “di sản tăm tối”. Nhưng những phản ứng của nhân vật nữ lại đưa câu chuyện sang một hướng khác. Đó là cảm giác khoái lạc thể xác cô có được trong những lần bị “cưỡng bức ảo”, điều mà anh chồng người trần mắt thịt chẳng làm được. “Tôi đồng lõa, đã kiễng chân lên rên rỉ rồi sau đấy lại nghĩ mình bị hãm hiếp, lại căm oán bóng đen tổ tiên nhà Thụ. Rồi lại mong chờ, lại háo hức thèm thuồng. Bóng đen ấy hiểu tôi thích gì, nó tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách” . Không những thế cô gái ngày càng dạn dĩ, cô thách thức những những âm hồn nhà chồng bằng cách giật tung khuy áo nhẩy múa trước những ngôi mộ nhà chồng, cô “múa điệu múa da thịt tươi tốt, thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung hoa nhà Thụ”. Từ nạn nhân cô ta trở thành đồng lõa và đẩy vị trí thảm hại nhất sang anh chồng tội nghiệp. Càng ngày anh ta càng sa sút, má hõm sâu, gần như câm lặng. Anh ta bị kẹt giữa hai nỗi khổ. Anh ta mặc cảm vì đã không bảo vệ được vợ mình. Thụ bế tắc vì không biết phải ứng xử thế nào với cô vợ thành phố đáng yêu, vô tội và mớ “di sản tăm tối” mà anh vẫn hằng tôn thờ. Anh ta thực sự mất phương hướng. Bản thân vợ Thụ cũng gần như bất lực. Cô ta đã đủ bản lĩnh để coi nhục dục là một hành vi bình thường giống như việc ăn uống và hít thở khí trời. Cô đủ tự tin để ý thức được thỏa mãn nhục dục là nhân quyền. Nhưng cô bế tắc vì chỉ một mình cô chưa đủ. Xã hội cô đang sống ít người đạt đến “bình quyền” như cô. Cô đã va phải một rào cản lớn, đó là những quy ước về đạo đức không thành văn tồn tại cả ngàn năm. Khi đói ăn người ta rất dễ dàng kiếm một thứ gì đó đáp ứng cái dạ dày sôi sục nhưng chặng đường để con người ta thỏa mãn cơn khát thèm tình dục gian nan hơn nhiều, đặc biệt là đối với phụ nữ. Kết thúc truyện, nhân vật chính dường như chấp nhận số phận, chấp nhận “bóng đè” hay nói đúng hơn là bóng đen của di sản tăm tối. “Con tôi sẽ tiếp nối truyền thống, sẽ tiếp tục thờ cúng bóng tối, sẽ tiếp tục banh dạng cho các binh thần thỏa mãn. Nếu là bé trai, con trai tôi sẽ bảo vệ cái bàn thờ, nếu là bé gái, con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng”. Hoặc rõ hơn nữa: “Chúng tôi không biết chọn lựa vì cơ thể chúng tôi đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối ban phát. Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt.”

 

Vào thời điểm Bóng đè ra đời, Y Ban cũng “trình làng” truyện ngắn Tự, trong đó vấn đề nhạy cảm trên cũng được đặt ra. Một nữ tiến sĩ xã hội học sống độc thân cùng con gái. Người chồng tâm đầu ý hợp của chị đã bỏ đi sau một thời gian dài mắc chứng liệt dương. Hai người đàn ông tiếp theo có chức tước, học hàm học vị cao nhưng lại xử xự như những con đực thô bỉ. Lẽ ra trong cuộc hẹn đầu tiên họ phải trao hoa tươi hoặc một nụ hôn thì họ lại tìm cách đẩy chị ta ta lên giường “hành sự” cho xong. Quá thất vọng bởi đàn ông, chị ta quyết định mua sextoy để khỏi phải lụy bất cứ người đàn ông nào. “Từ lâu thế giới người ta đã phát minh ra một thứ dụng cụ, chỉ để thỏa mãn mà không cần đến tình yêu. Đó là cái chim giả. Và tôi đã nghĩ ra liệu pháp chim giả.

 

Có cái chim giả tôi sẽ ngẩng cao đầu và nói: Không, không bao giờ em gặp lại anh nữa đâu. Nhưng cái chính là tôi sẽ bảo toàn được những sự tốt đẹp cho những người đàn ông của dân tộc tôi...". Có lẽ, đứng về phương diện “bình quyền” thì nhân vật nữ của Y Ban “tiến bộ” hơn nhân vật của Hoàng Diệu. Chị ta đã không chấp nhận thực tế, chị ta đã tìm ra cách để giải quyết khá ổn thỏa cái được gọi là “nhục cảm mà bóng tối ban phát”. Có một cách thức cực đoan hơn nữa để phụ nữ giải quyết vấn đề nhạy cảm này, đó là “tự thiến mình”, như một nữ nhà văn nổi tiếng đã từng tiết lộ trên mạng. Bà ta đã quyết định uống một loại thuốc bắc để giảm thiểu nhu cầu tình dục, để không vướng vào những câu chuyện đàn ông, đàn bà đầy rẫy thị phi, hay nói đúng hơn là để bảo vệ toàn vẹn lòng kiêu hãnh của chính mình.

 

Kết thúc Bóng đè tác giả viết: “Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt. Tôi đưa tay mình ra ánh sáng. Nắng lung linh trên năm ngón tay dài ngắn thanh tao lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hạn hán, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh kỳ diệu”.

 

So với kết của Tự và và giải pháp diệt dục cực đoan của nhà văn nữ nổi tiếng kia thì kết của Bóng đè có vẻ hơi cải lương. Nó chưa tương xứng với những trang viết bạo liệt và xuất thần khi tác giả dốc sức lột tả cho ra cảm giác bị “bóng đè”. Đành rằng bàn tay đẹp đẽ, thánh thiện kia cũng có thể ít nhiều cứu rỗi được linh hồn “nặng nghiệp” của cô gái nhưng cái cách mà tác giả mô tả nó ở phần đầu và cuối truyện lại có chút gì đó say sưa mang hơi hướng narcissism (ái kỷ). Nhưng nếu quy sến vào một trong những tâm trạng phổ biến, bình đẳng với những tâm trạng khác, đặc biệt đối với nữ giới, thì kết như vậy có khi là hay.

Nguồn: Phongdiep.net

 

Các bài khác:
· 'CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN' - TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
· THƠ, MỘT MẶC CẢM VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT
· THIÊN CHỨC NHÀ VĂN
· NGƯỜI ĐÀN BÀ “DẠI YÊU”TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN
· PHẠM THIÊN THƯ - VỊ TU SĨ LÃNG MẠN
· THƠ CHÍNH LÀ SỐ PHẬN
· VĂN CHƯƠNG DỊ MỌ, MA MỊ KHÔNG PHẢI LÀ VĂN CHƯƠNG ĐÍCH THỰC
· VIẾT TIỂU THUYẾT CHÍNH TRỊ PHẢI CÓ 'MÁU CHÍNH TRỊ'
· MỘT NÉT HÌNH DUNG TRƯƠNG NAM HƯƠNG QUA CHIẾC CẦU THI CA HÌNH CHỮ H
· TÔI ĐÓNG KHỐ QUA MÙA THUẬN NGHĨA
· NGUYỄN THỊ TUẤN VÀ NHỮNG DÒNG THƠ MUỘN
· NHỮNG CUỐN SÁCH THAY ĐỔI ĐỜI TÔI
· HOÀNG NGỌC HIẾN VÀ MAIAKOVSKI
· NHỮNG BÀI THƠ CUỐI CÙNG CỦA NGUYÊN SA
· CÓ MỘT BÀ TÊN HUYEN (HUYỆN) HỌ QUAN LÓT CHỮ THANH
· ÁM ẢNH HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
· GẶP NGƯỜI EM NUÔI CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
· ROLAND BARTHES ĐÃ “GIẢI CẤU TRÚC” NHƯ THẾ ĐẤY!
· NGUYỄN NGỌC KÝ - 'NGƯỜI VIẾT BẰNG CHÂN VÀ LÀM CHỒNG 2 CHỊ EM RUỘT'
· LỄ HỘI LỤC BÁT “NGÀN NĂM HỒN VIỆT” – ĐỘC ĐÁO VÀ ẤN TƯỢNG

 

  
Gia đình Bích Khê