DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGUYỄN ĐỨC TRUNG-NGƯỜI 'NHÓM LÁ SẦU ĐÔNG'

                                                                                                MAI BÁ ẤN

Cách đây mấy tháng, khi ngồi ở Hội đồng xét tài trợ tác phẩm của Hội VHNT Quảng Ngãi, tôi cũng chỉ nghe giới thiệu là một người phiêu bạt nơi xa, quê Mộ Đức, mới xin chuyển về sinh hoạt ở Hội ta, đang làm “thuê” và làm “thơ” nuôi con học đại học, nên tôi đã trân trọng bỏ Nguyễn Đức Trung  một phiếu “tài trợ loại A” (May mà không phải người Bình Định và Phú Yên nên “thuê” và “thơ” vẫn còn phân biệt được là hai nghề khác nhau!)… Vì lẽ đó, tôi đành cảm nhận Trung qua bản thảo thơ được họa sĩ Bùi Nam - Chánh VP Hội chuyển đến nhờ đọc và viết đôi dòng giới thiệu.

Không gặp, không biết mặt (kể cả qua ảnh), tôi đành hình dung anh qua những vần thơ. Qua thơ, tôi biết anh là một người lận đận, đa đoan, mê đắm thơ ca đến mức nhiệt cuồng và làm thơ thuở còn cắp sách trước 1975.

 

Mới lật tập bản thảo ra, tôi phát hoảng vì mở đầu là bài Song thất lục bát và sau đó là nhiều bài Đường thi (những thể thơ đã bị lùi vào quá khứ) lẫn lộn bên cạnh rất nhiều bài thơ mới của anh. Tất nhiên, nếu bình tĩnh đọc ở góc thơ Đường luật thì những bài này cũng ẩn chứa nhiều điều thú vị. Tuy nhiên, do tâm thế thoáng để sẵn sàng đọc thơ thời nay, bỗng  gặp phải sự ngán trở luật lệ của những bài Đường luật, tôi hơi chột dạ. Tôi cứ tưởng mình sẽ khó viết nổi một bài giới thiệu ra hồn. Vậy mà rồi… đọc đi đọc lại, tôi lại đâm ra thích và quý cái hơi chân thành, mộc mạc của thơ anh. Nó thiệt đến mức cứ ngỡ chẳng là thơ. Vậy mà càng đọc càng thấm. Thấm cái tình, quý cái cảm xúc thô mộc, tự nhiên:

Đời đã hết nghĩa là ta phải thế

Mến ngàn thương tôi kể kính lòng ân

Sống như anh đâu thẹn với dương trần

Là nhạc sĩ trút lòng thơm dâng hiến (Tiễn biệt A Khuê)

          Viết được những dòng này, hẳn là giữa anh và nhạc sĩ A Khuê quý nhau và gụi gần nhau lắm. Làm thơ tiễn biệt một người, mà lại là một con người đã nổi danh… đã từng là người làm thơ, tôi biết, không phải ai cũng chân thành bộc lộ được như anh.

          Là một thân phiêu dạt, là một kẻ phiêu bồng, chính vì thế, Đà Lạt mông lung sương khói cứ đi về trong thơ Nguyễn Đức Trung. Và trong nỗi ám ảnh Đà Lạt ấy, ta chợt nhận ra được những dòng Lục bát vừa nhẹ nhàng vừa vương mang lại vừa đầy trở trăn, ngây ngất:

Nắng mưa Đà Lạt khó lường

Lại gieo chi mấy giọt sương trước thềm

Hồn tôi ngây ngất đau thêm

Bởi cơn gió mộng… nửa đêm tìm về (Không đề)

          Không hiểu sao cái hình ảnh “Cây cau, cây sứ xuân thì ở cuối vườn huơ tay cố níu bóng vì sợ trăng bỏ ra đi” làm lòng tôi xúc động. Cố níu trăng ở lại hay cố níu tuổi xuân thì của chính mình mỗi lần tàn một con trăng? Chao ôi! Câu thơ giản đơn mà cảm nhận được ra, lòng cứ nghe dờn dợn cái “chớp mắt nhân sinh” của tuổi xuân, của tình yêu và của cả đời người, nhất là đời một người con gái:

Nầy cau, nầy sứ - chuỗi xuân thì

Cuối vườn níu bóng - sợ trăng đi (Tìm dấu chân chim)

          Chính sự mong manh của đời người khiến cái hoảng hốt trăng tàn khi “chếch về ngàn” soi lạnh cả hồn người. May mà có con gió đến mang theo một chút “hương nồng” âm ấm. Thế nhưng, “nồng ấm” không nổi buổi trăng tàn nên gió reo lên nỗi “oan khiên” vì đã lở kéo khói sương về dẫm nát hồn thi sĩ. “Sương khói” mà “dẫm nát” được  “hồn” người thì cái sự “thịt nát xương tan” buốt đau kia chỉ có ở hồn thi sĩ. Không biết là hồn thi sĩ mỏng hay chính hồn mỗi chúng ta đang bị cuộc đời chà xát đến nỗi… cái mỏng manh vô thường cũng hằn lên đời người dấu vết những cơn đau!:

Thương đêm trăng lạnh, chếch về ngàn

Hương nồng gởi gió, gió reo oan

Ô hay! Sương khói vây nhiều quá

Dẫm nát hồn tôi tựa lá vàng (Nhớ gì không?)

          Trung hỡi! “Nặng nợ” làm chi với nỗi đớn đau cho nát lòng mình đến thế? Khổ chưa nòi tình, nòi thơ? Nhưng không sao! Trung đã tự nguyện “vay”, thì phải “nợ” là tất yếu! Và… “lãi” quá đi thôi khi được “đọa thân” trong đớn đau, trong những cuộc “vay tình” để “âm thầm khói thuốc bốc bay thôi” còn thơ thì ở lại cùng người, mắc nợ cùng đời:

Nặng nợ thi thơ sống để rồi

Vay tình trọn kiếp đọa thân tôi

Đêm đêm thao thức ngồi tìm ghép

Âm thầm khói thuốc bốc bay thôi (Chút tình thi thơ)

          Làm thi sĩ được như Trung cũng là một niềm hạnh phúc.

          Sợ đớn đau… đành phải chọn con đường khác mà đi ư? Đời lắm nẻo! Biết đâu may rủi? Hãy gắn lòng mình, thơ mình với cuộc đời quằn quại này, nhất định con người sẽ được bù lại những ân huệ, sẽ vươn tới những khao khát và được mang về những “khát khao”, cả những “khát khao da thịt” phàm trần:

Nếu một mai, có con đường nào khác

Quả địa cầu tung vỡ biết làm sao?

Em nghe chăng - gió từ biển thổi vào

Mùi măn mẳn khát khao tìm da thịt (Sợ một ngày mai)

          “Gió từ biển thổi vào” mang theo “mùi măn mẳn” của muối. Nhưng sao… “vị” mặn lại là “mùi”? Nhà thơ ngớ ngẩn ư? Không phải! Sự hoán đổi tưởng phi lý trong cảm giác tự nhiên này lại mới là sự hữu lý của thơ: Đó là mùi trần trụi thịt da đầy nắng, đầy muối, đầy gió… của con người vùng biển!

Không chỉ có thế, và chỉ là như thế, “Trông ra cửa biển”, hồn thơ Trung còn hòa nỗi đau mình vào nỗi đau của những người vợ biển mất chồng sau những cơn bão tố “dập dềnh” nhấn chìm lớp lớp ngư dân. Cái cụm thơ “Mắt hiền thê” là cái chốt để tôi quý thơ Trung và hiểu Trung nhiều nhất. Cụm thơ này, trong cảnh huống khác sẽ bị phê bình là “cổ” quá, thế nhưng đặt vào đây, đọc lên ta cứ nghe chết lặng trong lòng:

Nẻo biếc thuyền ai còn giã sóng?

Dập dềnh cửa biển… Mắt hiền thê (Trông ra cửa biển)

          Có lẽ chính trái tim thơ nhân tình ấy đã giúp Nguyễn Đức Trung đi qua những giông bão đời mình một cách an nhiên. An nhiên vì khi đã đạt đến “vô ngã” trong ta giữa cái “vô thường” của nhân thế thì ta vẫn cứ thong dong “đong đưa” trên lưng khi “cõng những sự tình”:

Núi xiên mòn rịn ứa

Biển tạp chất cam thừa

Dưới mặt trời “nhân thế”

Cõng sự tình đong đưa (Vị đời xát cay)

          Đọc thơ Trung, tôi phát hiện ra rằng, anh luôn biết phát hiện những chi tiết, hình ảnh nhỏ nhặt để rồi vón lại thành những câu thơ rất tự nhiên nhưng không kém độ bền triết lý:

Ta thương con suối nghìn năm vẫn

Lách kẽ nên dòng - rót nỗi đau (Lên non tìm trầm)

Con suối cố “lách kẽ” giữa núi non điệp trùng đá tảng để chảy “nên dòng” “rót” ra thành những nỗi - đau - trong - suốt (nước đã được tinh lọc và phải “lách kẽ” qua đá tảng, rừng thiêng rồi thì làm sao không trong suốt được!). Thương con suối hay chính là Trung đương tự thương lấy chính mình, đang tự lọc giữa đá sạn trần ai đời mình để rót vào thơ nỗi-đau-trong-suốt ấy?

 

Dù vẫn đứng bên bờ thi pháp của thế hệ thơ đã qua, nhưng vì thơ được tuôn ra từ chính tấm lòng chân thật, từ trái tim gắn bó với cuộc đời, và từ cả nỗi đau đời, đau cả phận mình… nên thơ Trung vẫn tạo được một nét riêng, đặc biệt là những đoản khúc lẻ trong mỗi bài thơ.

Có thể nói: thơ Trung ít hay ở toàn bài mà rất hay ở nhiều câu đoạn. Và tôi nghĩ, đoạn thơ này chính là một tiêu biểu của phong cách Nguyễn Đức Trung. Đó là những  “nhóm”, những “lẫy”, những “héo xìu” những “hãi”, những “rinh trăng”, “khản giọng”, “ngạt sương”… Đặc biệt là cụm từ “mây nước rinh trăng” cộng hưởng cùng “tiếng cuốc khản giọng kêu sầu” làm nên sự dân dã đến thỏa lòng, thú vị đến mát lòng, thấm thía đến nao lòng và cũng buồn đến chạnh lòng:

Nhóm lá sầu đông lẫy phận buồn

Héo xìu vì nỗi! tuốt gió sương

Hãi đêm: mây nước rinh trăng mất

Khản giọng cuốc sầu ngạt - ngạt sương (Khí trời đêm đông chí)

 

Và vì vậy, đúng thật rằng: Nguyễn Đức Trung chính là người nhóm lại những lá sầu đông buồn, đồng thời cũng là người gom từ nỗi sầu đời nhóm lên ngọn lửa thơ nồng ấm nhân tình.

Xin được chân tình giới thiệu “Nhóm lá sầu đông” của Nguyễn Đức Trung cùng bạn đọc.

 

                                        Quảng Ngãi, mưa cuối thu chớm đông 2010

                                                                        MBA

 

Các bài khác:
· LỜI THƠ HÒA BÌNH TỪ HAI PHÍA
· THẦY MAI BÁ ẤN TRÊN 'THỊ TRƯỜNG LỤC BÁT'
· NGUYỄN DUY – HÀNH TRÌNH TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
· PHÙNG CUNG – THAO THỨC XEM ĐÊM
· NHỮNG NHÂN VẬT XA LẠ TRONG 'CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN'
· NỖI NIỀM NGUYỄN HUY TRƯỞNG THỜI VĂN ĐÀN BÃO TÁP
· HẢI MIÊN - 'VĂN CHƯƠNG CẦN SỰ THẬT'
· EM ƠI HÀ NỘI PHỐ VÀ THƠ
· VẤN ĐỀ LẠM PHÁT THƠ VÀ THƠ DỠ LÊN NGÔI
· NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA BA THỂ THƠ TUYỆT CÚ, HAIKƯ VÀ LỤC BÁT
· THƠ TÂN HÌNH THỨC - NHỊP ĐẬP CỦA THỜI ĐẠI
· THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO-ĐỔI MỚI TỪ TRUYỀN THỐNG
· NGƯỜI ĐÀN BÀ RƯỚC VĂN CAO TIẾN VỀ HÀ NỘI
· NGUYỄN SĨ ĐẠI VÀ 'SẮC TRỜI THU HÀ NỘI'
· THƠ TỐ HỮU - CÒN AI? CÓ AI?
· VĂN HỌC VÀ HIỆN THỰC ĐẤT NƯỚC HÔM NAY
· KHÁM PHÁ CUỘC PHIÊU LƯU CỦA NHỮNG CÁI 'TÔI' KHÔNG THUẦN NHẤT
· VÀI Ý NGHĨ NHÂN HỘI THẢO VỀ TỐ HỮU
· “BẮT MẠCH” THƠ VIỆT NAM HIỆN NAY
· TRUYỆN NGẮN 8X PLUS VÀ SẮC THÁI NỮ QUYỀN

 

  
Gia đình Bích Khê