Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_70lrs0828fiqav9nj2tessmg23, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VÀI LỜI VỚI 'THƠ - 1 MẶC CẢM VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT' CỦA NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

                                                                                           Phạm Phù Sa

 

Tình cờ tôi đã được đọc bài viết "THƠ, MỘT MẶC CẢM VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT" của tác giả Nguyễn Hoàng Đức đăng tải trên báo giấy CẢNH SÁT TOÀN CẦU (CSTC) từ một người bạn trao cho.

Anh em văn nghệ bàn tán rôm rả , khen chê cũng nhiều. Riêng tôi, không dám lạm bàn, chỉ xin được phép có mấy ý theo chủ kiến của mình không ngoài mục đích để vấn đề được hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo hơn.


Cái tâm của tác giả bài viết, nỗi trăn trở, ưu tư về "Thơ Việt", về những trì trệ, yếu kém trong đời sống thơ thì đã rõ. Tác giả thẳng thắn nêu những hạt sạn, những bất cập trong thơ.

Mặc cảm không hoàn toàn là một thói xấu nếu nó được nhìn nhận một cách tích cực, thấu đáo để thấy những hạn chế, yếu kém của mình mà khắc phục, vươn lên. Những phân tích, dẫn chứng của tác giả về thực trạng khoe chữ, sính chữ… thậm chí thực tế đã có những đại gia lắm tiền ít chữ đã không tiếc bỏ ra nhiều hơn "ba vạn" để "mua danh". Tệ ăn cắp chữ, mua chữ là một thực tế đau lòng. Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với tác giả về những nhận định như cách làm manh mún, nhỏ lẻ hầu như lâu dần thành thói quen, thành nếp, biểu trưng cho kiểu văn hóa nông nghiệp lạc hậu, con trâu đi trước, cái cày theo sau (cả trong thơ) sẽ không thể có tác phẩm đạt tầm, ngang tầm thời đại chứ đừng nói đến vượt tầm

 

Tôi hoan nghênh việc mà tác giả cho rằng là "một sáng kiến Đọ thơ" để mạnh dạn tạo ra một đời sống thi ca mới, là một sự "khích tướng" để tạo lực bẫy hòng làm một sự chuyển mình , khởi sắc cho thi ca Việt ?

 

Song, một số nhận định của tác giả tôi cho rằng còn nặng tính cực đoan, một chiều và chưa "chuẩn” lắm. Mặc cảm về đói chữ là mặc cảm chính đáng, không ai cam chịu sự dốt nát, vô học, thất học. Yêu chữ , hiếu học là truyền thống tốt đẹp, tạo nên một động lực, một ước mơ vươn tới chân trời tri thức nhân loại. Thời phong kiến nào đâu có nhiều ngành học như bây giờ? Làm quan thì có 2 đường: Văn và Võ , mà văn dĩ tải đạo cho nên cái chữ được tôn vinh. Điều này chẳng phải chỉ ở thời xưa mà đến hàng nghìn năm sau; chẳng những riêng ở Việt Nam, Trung Quốc... mà cả thế giới vẫn vẹn nguyên giá trị: Văn hóa là chìa khóa để mở cánh cửa tri thức kia mà!

 

Nơi triều đình (ngoại trừ số ít là cha truyền con nối, hoặc nhờ cậy thần thế), những kẻ văn dốt vũ dát mới khoe mẽ, là bản chất của kẻ tiểu nhân háo danh, ưa thích hão danh, "hữu danh vô thực" chứ một khi đã vào đến sân Rồng làm quan (cấp Trung ương bây giờ) thì đều phải trải qua những cuộc khảo thí nghiêm ngặt mới được nêu danh "bảng vàng". Việc khoe mẽ chữ viết chốn triều đình phía sau ngai vua liệu có phải?

 

"Viết một chữ cũng là khoe chữ. Bẻm mép hơn thì đọc đôi câu đối. Hơn nữa thì vận tinh thần nặn ra một bài tứ tuyệt. Than ôi, một bài thơ bốn câu thì làm sao có khả năng bộc lộ cái hay, cái giỏi, cái tài…” mặc dù tác giả cũng đã có đề cập "quý hồ tinh, bất quý hồ đa". Tác giả dẫn chứng:

 

"Ngựa hay phải chạy đường dài
Nước kiệu mới thấy tài trai anh hùng"

nhưng dân gian cũng có câu:

Văn hay bất luận đọc dài

Dở ra đầu bài đã biết văn hay.

Điều này chứng thực cho câu "Quý hồ tinh, bất quý hồ đa". Càng kiệm từ mà nói lên được nhiều hàm ý ( ý tại ngôn ngoại ), nếu là những mảnh vụn lấp lánh được thì còn hơn tràng giang đại hải mà cái lõi, cái chất chẳng có bao nhiêu.

 

"Có bốn câu chẳng lẽ là "sử thi hoành tráng"? điều này lại càng không đúng. Tứ tuyệt là tứ tuyệt, nó có luật, có khung của nó, có thể thơ của nó., có sân chơi riêng, sao đem so với sử thi ? Bẻm mép hơn thì đọc đôi câu đối. Làm câu đối cho ra câu đối không phải ai làm cũng được, nhất là vế đối , nên mới có câu "xuất đối dị, đối đối nan ” là một nghệ thuật chơi chữ thâm thúy, mỗi chữ nặng ngàn cân, giàu ý tứ, chẳng dễ chút nào nếu không phải là những bậc thâm nho, văn hay chữ tốt.

 

Cũng luận chứng về thơ, về nghệ thuật Tác giả nêu câu hỏi và tự giải:" Thơ là gì?...là cặp nhảy hoàn mỹ của ngôn từ và vần điệu". Tác giả bỏ quên mất cái cốt lõi của thơ là tứ thơ. Bài thơ không có tứ thơ thì người làm thơ chỉ được xem như là thợ sắp chữ mà thôi.

 

Đang nói về thơ tứ tuyệt, bỗng dưng tác giả chuyển mạch sang âm nhạc: "Nhưng quý vị thử nhìn xem, ở Việt Nam có cả triệu- triệu ca khúc, nhưng có mấy người viết được giao hưởng?" Lại nhập nhằng giữa các loại hình âm nhạc. Ca khúc ( các bài ca có lời cho ca sĩ thể hiện, những bài hát ngắn ) và Âm nhạc trình tấu nhạc cụ ( có khi không cần lời hát mà người nghe cảm nhận được cái hồn của tác phẩm mà tác giả muốn diễn đạt ) đây là loại âm nhạc bác học. Mà loại âm nhạc này cả thế giới được bao nhiêu tác giả làm được? đừng nói Việt Nam. Của hiếm mới là của quý, việc gì khó mà làm được mới giá trị, nhưng không phải là Việt Nam ta không có các nhạc sĩ hòa âm, phối khí, sáng tác và chỉ huy dàn nhạc giao hưởng.

 

Ngành nghệ thuật nào cũng có chuyên ngành của nó. Nghệ thuật múa, Âm nhạc cũng vậy, đều có ngôn ngữ diễn đạt đặc trưng.. Một bên biểu đạt bằng âm thanh, một bên là ngôn ngữ hình thể. Ngay cả 7 ngành nghệ thuật thế giới: Hội họa, điêu khắc, chạm trỗ, kiến trúc, sân khấu, âm nhạc, điện ảnh thì nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật âm nhạc đã là 2 ngành riêng . Đành rằng các ngành nghệ thuật có sự quan hệ tương tác, nhưng văn hóa và văn minh là hai phạm trù vừa tương tác vừa độc lập thì sự so sánh như vậy càng khập khiễng.

 

Riêng về nghệ thuật Sân khấu thì Việt Nam từ lâu cũng đã tiếp cận với trường phái Ballet, kịch hát opera...có dàn nhạc giao hưởng…đâu phải chỉ chăm chăm cấy hái, giã gạo nơi đồng chiêm lúa nước.mà không có điệu nhảy ở chân ? Tác giả đã quả quyết:

 

Nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng của Trung Quốc và Việt nam không có điệu nhảy ở chân, chính thế mà nó chưa có được bước đầu tiên để đi vào nghệ thuật, nó chủ yếu dùng tay múa, mà điệu múa thì vờn vờn khoe thân thể, khoe vuốt ve, khoe những động tác massage giành cho những quan lại vua chúa đang xem là những người có quyền lực. Chính vìkhông có sự vận động ở chân, mà thơ của Á Đông còi cọc. Đồng thời thiếu tính sáng tạo bởi vì nó mang chất nô tài cao thiếu đi sự thể hiện của nghệ sĩ tự do.

 

Trong các điệu múa của Việt Nam chẳng hạn, nào múa giã gạo, múa kéo lưới, múa sàng sảy... tất cả là hình thức mô phỏng đời sống và cũng là mối lo toan thực phẩm nuôi sống, nó không phải thứ nghệ thuật tự do giải trí như phương Tây, ban ngày họ làm việc mệt nhọc, ban đêm thì hò hét, nhảy múa, tán tỉnh. Có rất nhiều cây bút Việt Nam vẫn còn chất chứa trong tâm hồn những điệu múa lới lơ, những cơ thể vận động bằng tay chứ không phải hành hương bằng chân, dù họ có đi Tây đi Mỹ, thì tiết điệu trong máu vẫn chỉ là những câu hò điệu múa âm lịch, vì thế thơ không cách gì được sống dồn dập trong nhịp điệu, xa xôi trong hành trình. Và bằng một quán tính múa may nó lại chỉ loay hoay diễn trò tinh xảo, mài rũa, bé bỏng (tôi chỉ sợ không tinh xảo, không chuyên nghiệp chứ được vậy thì quá tốt. Còn mài rũa, bé bỏng là gì, có ai hiểu không? từ bé bỏng thường chỉ dùng để chỉ một cái gì đó đáng được nâng niu, trìu mến .

 

Người Trung Quốc chìm trong thời phong kiến tàn khốc quá lâu, có thể chu di cả chín họ…(chu di là gì ?) tôi không hiểu nốt.

 

Nếu cổ thi Việt không có chỗ đứng, không thăng hoa được thì Truyện thơ lục bát Kim Vân Kiều sao ra đến thế giới và gây nên tiếng vang lớn ? Nguyễn Du sao gọi thi hào ? Và sau Nguyễn Du lớp văn nhân thi sĩ tiền chiến tên tuổi gạo cội của nước nhà như Phùng Quán, Trần Dần, Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Chế Lan viên…và một nền thơ mới , văn học mới với những tác phẩm tiêu biểu đã được thế giới biết đến, tác phẩm của họ đã đưa vào chương trình giảng dạy của Bộ giáo dục thì sao, chẳng lẽ họ cũng không đáng để tôn vinh?

 

Trong nghệ thuật múa cũng như âm nhạc. Dân ca, dân vũ , dân nhạc là vốn quý của dân tộc, là cái hồn dân tộc. Nghệ thuật cổ truyền dân tộc là bản sắc văn hóa của dân tộc đó. Không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới dù đã đạt đến tầm nghệ thuật hiện đại cao hơn ta nhưng vẫn bảo tồn những điệu múa , bài dân ca, từng giai điệu âm nhạc truyền thống . Ngay ở Châu Á, nước Nhật có văn minh không mà họ vẫn giữ những bộ Kimono, điệu múa Bon truyền thống ? Nếu cho âm nhạc dân tộc là lạc hậu, lỗi thời, là tiết điệu máu chảy của lới lơ, những câu hò điệu lý...cóc cáy, quê mùa. cần phải loại ra khỏi đời sống nghệ thuật đương đại thì các nhà folklore như giáo sư Trần văn Khê đâu cần phải cất công sưu tầm, bảo tồn và chấn hưng nó, đưa trả lại vào đời sống thường ngày, nơi nó đã sinh ra, lo sợ nó mai một, thất truyền. Tác giả bài viết phê phán nghệ thuật dân tộc mà đề cao sử thi, vậy sử thi là gì khi nó cũng là một báu vật văn hóa truyền đời của một vùng đất, một dân tộc ? nhiều khi nó không có một văn bản, một tổng phổ ký âm nhạc chính thức nào như các sử thi tây nguyên phần lớn chỉ truyền khẩu mà thôi .Thế có phải là tự mâu thuẫn không ?

Nếu nghệ thuật dân tộc là phi nghệ thuật, không có giá trị gì thì tổ chức UNESSCO công nhận âm nhạc cồng chiêng tây nguyên, âm nhạc cung đình Huế ...là di sản văn hóa thế giới để làm gì ?

 

Âm nhạc cổ truyền của chúng ta chỉ riêng cây đàn bầu (độc huyền cầm) thôi đã là một nhạc cụ độc đáo, một tuyệt phẩm mà thế giới phải trầm trồ thán phục. Âm nhạc quốc tế , khiêu vũ quốc tế hiện đại chúng ta cũng có những nhạc sĩ , ca sĩ , nghệ sỹ tầm cỡ Tôn nữ Nguyệt Minh, như Đặng Thái Sơn... Chúng ta cũng nhảy bằng chân, theo valse, Chachacha, disco, hiphop…đâu chỉ múa bằng tay?

 

Tác giả cũng dẫn chứng cứ liệu khoa học : Theo nhân chủng học, người xứ nóng mũi tẹt, vai xuôi, ngực lép, vóc nhỏ để tránh nóng. ... Người xứ nóng cũng rất tùy tiện trong cách sống, bởi vì có thể vận quần xà-lỏn đi tung tăng mà không sao...Ta không bàn sâu đến các kết quả nghiên cứu nhân chủng học như trên. Nhưng cũng lập luận trên, nếu có một ai đó hỏi các nhà nghiên cứu : Dân xứ nóng lẽ ra phải ăn mặc "mát mẻ" hơn nữa để chống nóng mà sao họ lại không thích, ghét kiểu ăn mặc hở hang. Còn người ở xứ lạnh lẽ ra ăn mặc kín đáo hơn, áo quần dày hơn để chống lạnh mới hợp logic, thì tại sao họ lại làm ngược lại, ưa hở hang hơn, trang phục mỏng hơn, thích thoát y nhiều hơn? chẳng biết các nhà nhân chủng học trả lời sao cho hợp lý đây ?

 

Thơ hiện đại, hậu hiện đại đang là trào lưu của thế giới. Một số cây bút trẻ Việt Nam đã nhạy bén, dũng cảm vượt thoát cái vỏ cũ kỹ để khai phá vùng đất mới . Trong quá trình phát hoang mở đường nếu có chệch hướng cũng là chuyện thường tình, có làm mới biết sai mà chỉnh tọa độ. Có đi mới tới, mới tiếp cận được mục tiêu. Theo tôi đó là điều đáng biểu dương.

 

Đã phê phán thói quen bảo thủ , khư khư giữ lấy cái cũ kỹ lới lơ, cóc cáy quê mùa , thiếu sự thể hiện của nghệ sĩ tự do mà khi họ đi tìm cái mới, trải nghiệm cái mới thì cũng bị lên án là giả cầy là phi thực tế thì chẳng biết tác giả muốn thơ Việt đi về đâu, định hình, định hướng như thế nào !.

 

Văn hóa là dòng chảy liên tục, nó là sự kế thừa và phát triển .Nguyễn Hoàng Đức đã đúng, đã chạnh lòng khi nhìn dòng sông thơ ca cứ lững lờ loay hoay không vượt qua được thác gềnh để hòa cùng đại dương kiến thức nghệ thuật nhân loại, nhưng không vì thế mà bài xích cái cũ, không nên phủ nhận quá khứ để "bắn vào quá khứ một phát súng lục”mà phải "thừa thượng tiếp hạ”, tiếp thu có chon lọc cái mới để nâng tầm Thơ Việt đi lên.

 

Cuối cùng là "sáng kiến đọ thơ". Tôi thường nghe câu nói cửa miệng "văn mình vợ người ". Nói thì nói vậy, nhưng để tuyên bố đọ thơ thì tự cổ chí kim tôi chưa từng thấy có nhà thơ nào tự vỗ ngực xưng danh tuyên chiến công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng thơ tôi hay nhất, nếu ai không phục thì hãy đem thơ ra thi với tôi bao giờ. Người tài thường khiêm tốn, bạo miệng quá lỡ không ra gì thì ê ẩm.Đã có tuyên chiến đọ thơ thì người thách đấu ắt phải có bản lĩnh, có thực tài. Tác giả chắc là đã luyện võ công đến mức thượng thừa, chưa từng chiến bại nên mới tự tin đến vậy. Một Độc cô cầu bại danh trấn giang hồ?. Nhưng đọ thơ thì phải đưa tác phẩm ra.Đã là "thiên hạ vô địch" thì ai có thể làm Giám khảo đây?

 

Nước ta hiện nay được biết là lắm nhà thơ. Nào, ngàn vạn văn nhân thi sĩ trong và ngoài nước, ai cao thủ võ lâm có dám nhận lời thách đấu? Người thách đấu hãy chứng tỏ thi tài tuyệt phẩm của mình bằng cách phát hành tác phẩm đi để độc giả thẩm định. Độc giả chúng ta sẽ được chứng kiến những trận thư hùng đỉnh cao, những tuyệt phẩm văn học tầm cỡ sẽ được trình làng, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của nền văn học nước nhà, để người Việt không phải dằn vặt với một mặc cảm thơ thua kém bè bạn đè nén trong suốt hàng thế kỷ qua.

 

P P S

 

 

Mời xem thêm

 

THƠ, MỘT MẶC CẢM văn hóa của người Việt

 

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Thơ tất nhiên là bằng chữ viết. Mà chữ viết, mới đây thôi, nghĩa là trên đỉnh chóp của tòa tháp lịch sử, một cách rất đặc thù của châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng là một mặc cảm thống soái, dầy vò khốn khổ nhất của người Việt.


Lần lại dăm bảy thập niên, tất cả còn rất mới, như thể những trang lịch sử còn đang thở trong dòng trôi của hiện tại với những dòng chữ chưa ráo mực, chúng ta thấy rõ ràng: diệt giặc dốt cam go, liên miên hơn nhiều diệt giặc đói. Bởi lẽ quá hiển nhiên, một người đang đói, cho anh ta ăn ba lưng cơm, anh ta liền hết đói. Một dân tộc đói, nếu gặp một vụ lúa bội thu thì cũng qua cơn nguy khốn. Nhưng với một người đói chữ, chúng ta không thể nhét, nhồi cho anh ta vài chữ, vài ngày hay vài tháng; mà sự học của anh ta phải là một quá trình giúp tinh thần tiêu hóa cả một chuỗi toa tàu chở đầy lương thực tri thức của nhân loại.


Chữ nghĩa là cả một mặc cảm lớn nhất của tinh thần, đặc biệt là ở châu Á. Người trung Quốc hiện đại nói "Không có học thì đời vứt đi". Xưa kia, người ta còn nói "Học nhi ưu tắc sĩ", học giỏi thì làm quan. Rồi có chữ thì có tất cả. Trong chữ có chức sắc to, phẩm hàm lớn, rồi bổng lộc nhiều; trong chữ có cả nhà lầu, và nhiều gái đẹp... Học trở thành một công thức đổi đời đến mức văn hào Lỗ Tấn cho rằng: nền văn học Trung Quốc muốn cho một người đàn ông cưới vợ, thì lập tức phải đẩy anh chàng đó lên kinh thi cử. Thi xong, đỗ trạng, anh ta mới vinh quy bái tổ để còn lớn giọng xướng: Song hỷ lâm môn: Thứ nhất thủ khoa, thứ nhì động phòng hoa chúc.


Cả làng, cả huyện, cả nghìn người may ra mới có một người đèn sách học hành. Và có chữ biến thành một mặc cảm về đẳng cấp. Người có học đứng giữ chợ vén tay áo, vừa khua một nét, xung quanh đã có cả trăm kẻ tung hô. Rồi trả cả chục lượng bạc mua về, khắc gỗ nạm vàng, treo lên vách. Không chỉ thứ dân treo chữ, ngay tại cung đình phía sau ngai vua cũng ghi chi chít toàn chữ là chữ, để khoe mẽ cung đình là nơi lắm chữ. Chữ còn được vẽ tỉa tót, rao bán ngoài chợ. Mới đây, ở Trung Quốc có cả một trường phái thể dục vẽ chữ, đủ hiểu mặc cảm đói chữ, khát chữ, và yêu chữ của người ta đến mức nào.


Xu hướng đó hoàn toàn ảnh hưởng và đè nặng lên văn hóa Việt Nam, bởi lẽ, người Việt về mặt chủng tộc, địa lý, cũng như lịch sử có rất nhiều thứ phát sinh cật ruột từ Trung Quốc. Người Việt cũng có nhiều cảnh bày bán mua chữ ngoài chợ, chẳng hạn nếu chúng ta lên thăm đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh, thì sẽ gặp rất nhiều thầy viết sớ cúng bằng chữ Hán. Người dân chẳng hiểu gì cả, nhưng vẫn cứ mua chữ để cúng như thể, cúng bằng chữ Hán thì thánh thần nhanh duyệt hồ sơ hơn. Còn ở nhiều vùng quê, người ta bỏ cả tiền triệu ra để khắc hoành phi câu đối bằng chữ Hán, dù chẳng hiểu gì, nhưng vẫn cứ treo lên như mốt của người sính chữ.


Chữ nâng đẳng cấp con người lên cao, đặc biệt chỉ có nó mới nâng con người lên vị trí quan lại ở dưới một người ở trên vạn người, vì thế cho nên, người ta chẳng mấy khi uổng phí cơ hội để khoe mẽ ta là người biết chữ. Biết chữ ư, đó còn là cơ hội để cải thiện cuộc đời. Thậm chí dó là cơ hội thần tiên như trường hợp của Vương Bột, dong buồm qua khe núi được gió thần đẩy cánh buồm đi, kịp đến "Đằng Vân Các" đọc bài thơ nhớ đời. Và văn học Trung Quốc đã lan truyền cơ may đó là:

Ở theo thời làm theo thế
Qua khỏi tuần sấm đất tan bia
Bay kịp chúng phải kịp người
Mới đặng hưởng gió thần đưa gác


Đâu đâu người ta cũng khoe chữ. Làm sao phải khoe cách nào nhanh nhất, gọn nhất, và hiệu quả cao nhất. Viết một chữ cũng là khoe chữ. Bẻm mép hơn thì đọc đôi câu đối. Hơn nữa thì vận tinh thần để nặn ra một bài tứ tuyệt. Than ôi, một bài thơ bốn câu thì làm sao có khả năng bộc lộ những cái hay, cái giỏi, cái tài. Nhân gian chẳng có câu này sao:


Ngựa hay phải chạy đường dài
Nước kiệu mới thấy tài trai anh hùng


Ngay vấn đề này, đã có rất nhiều người nói rằng " Hay không cần dài"- (Quý hồ tinh bất quý hồ đa). Nhưng quý vị thử nhìn xem, ở Việt Nam có cả triệu- triệu ca khúc, nhưng có mấy người viết được giao hưởng. Giờ hãy nhìn thẳng vào thời vàng son của thơ Đường. Nhiều học giải chỉ coi đó là những mảnh vụn lấp lánh. Không là mảnh vụn thì là cái gì đây? Có bốn câu chẳng lẽ là "Sử thi hoành tráng"? Cụ thể hơn nếu đem lọc ra cả vạn bài thơ ngắn cũn cỡn đó, liệu có nổi một trăm câu thơ hay không? Thậm chí còn có cả những câu rất "xú học"- kém cỏi, chẳng hạn như câu "Thôi ta đi ngủ để còn mơ", nghe rất ấu trĩ, rất thụ động, vậy mà nó được bắt chước nhau, nhắc lại rất nhiều. Người ta tỉnh thức còn chẳng ăn ai, lại còn đòi ngủ để muốn ăn may nhặt lấy trong giấc mơ một hình ảnh đẹp, một câu thơ hay ư?


Trình độ thơ của Việt nam ở đâu? Đã thành cái gì chưa? Triết gia Hegel nói: "Dân tộc nào chưa có sử thi thì dân tộc đó chưa có trình độ phát triển cao về tâm hồn”. Chính vì câu nói đó mà trong dăm năm gần đây, giới văn hóa Trung Quốc đã mở cuộc tìm kiếm với một mặc cảm thắc mắc rằng: chẳng lẽ dân tộc ta lớn như vậy mà không mảy may có sử thi sao? Cho đến nay dường như người ta vẫn chưa tìm thấy sử thi nào.


Thơ là gì? Theo định nghĩa kinh điển nhất, đó là: "Cặp nhảy hoàn mỹ của ngôn từ và vần điệu”. Đây cũng là nguyên lý chí tử đầu tiên mà triết gia Aristote định đặt cho toàn thể nghệ thuật. Nghệ thuật là gì? Khi người ta đi bộ, nghệ thuật chưa bao giờ xuất hiện. Nhưng khi người ta nhảy múa thì nghệ thuật xuất hiện. Đó cũng chính là sự ra đời của âm nhạc- môn nghệ thuật mỹ cảm đầu tiên của con người. Khi ta nói bình thường, thì đó chỉ là cách biểu hiện thông tin, nhưng khi ta để cho ngôn ngữ nhún nhảy theo vần điệu, thì thơ bắt đầu xuất hiện. Nhảy- chính là điều kiện tiên quyết của nghệ thuật vì nó phóng đời sống ra khỏi dòng chảy trần tục thường ngày. Nghệ thuật chỉ là nghệ thuật khi nó trở thành đôi cánh ước mơ cất lên khỏi cuộc đời thô ráp. Họa sĩ thiên tài Michenlangelo nói, nghệ thuật là "Hòn đá nâng cấp nơi bức tượng và xuống cấp nơi cầu thang". Vậy là đã quá rõ ràng: nếu không có đôi cánh của nghệ thuật tạc mình thành bức tượng thì hòn đá chỉ nằm bẹp dí nơi cầu thang mà thôi.


Vậy thì nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng của Trung Quốc và Việt nam không có điệu nhảy ở chân, chính thế mà nó chưa có được bước đầu tiên để đi vào nghệ thuật, nó chủ yếu dùng tay múa, mà điệu múa thì vờn vờn khoe thân thể, khoe vuốt ve, khoe những động tác massage giành cho những quan lại vua chúa đang xem là những người có quyền lực. Chính vìkhông có sự vận động ở chân, mà thơ của Á Đông còi cọc. Đồng thời thiếu tính sáng tạo bởi vì nó mang chất nô tài cao thiếu đi sự thể hiện của nghệ sĩ tự do. Trong các điệu múa của Việt Nam chẳng hạn, nào múa giã gạo, múa kéo lưới, múa sàng sảy... tất cả là hình thức mô phỏng đời sống và cũng là mối lo toan thực phẩm nuôi sống, nó không phải thứ nghệ thuật tự do giải trí như phương Tây, ban ngày họ làm việc mệt nhọc, ban đêm thì hò hét, nhảy múa, tán tỉnh. Có rất nhiều cây bút Việt Nam vẫn còn chất chứa trong tâm hồn những điệu múa lới lơ, những cơ thể vận động bằng tay chứ không phải hành hương bằng chân, dù họ có đi Tây đi Mỹ, thì tiết điệu trong máu vẫn chỉ là những câu hò điệu múa âm lịch, vì thế thơ không cách gì được sống dồn dập trong nhịp điệu, xa xôi trong hành trình. Và bằng một quán tính múa may nó lại chỉ loay hoay diễn trò tinh xảo, mài rũa, bé bỏng.


Thơ muốn đi xa phải có tư tưởng. Nước trên đỉnh núi cao chảy xuống mới tạo thành dòng sông ra biển. Nước đổ xuống mặt bàn, dù có lấy ngón tay vẽ khéo thế nào cũng chỉ là những vệt chưa ướt đã khô. Tuần vừa qua, nhiều chuyên gia khi đánh giá sự nổi lên của châu Á về kinh tế , nhưng họ cũng kết luận rằng: Người châu Á không thể trở thành nhà lãnh đạo thế giới vì họ thiếu một tư tưởng hệ thống. Triết gia John Dewey khi đến thăm Trung Quốc đã nói: Người Trung Quốc không có óc độc lập. Óc độc lập còn chưa có thì bàn gì đến tư tưởng. Tại sao vậy? Vì người Trung Quốc chìm trong thời phong kiến tàn khốc qúa lâu, có thể chu di cả chín họ, nên họ mắc chứng nô tài nặng, không bao giờ dám thể hiện mình, mà chỉ luôn luôn phô ra sự vâng phục khiếp nhược của mình.


Ở Việt Nam tình hình nói chung giống thế. Mới đây rộ lên hàng loạt các cây bút viết Hậu hiện đại. Cái gì họ cũng nhét vào văn thơ, kể cả vô số rác rưởi, họ gọi đó là hậu hiện đại. Trời ơi, người Việt ta đã trải qua hiện đại đâu mà muốn hậu hiện đại. Ngày xưa, mấy cô nhà quê đội nón rộng vành, nhẹ bỗng, vì các cô quảy gánh đi bộ, nhưng giờ đây vì các cô đi xe máy đội mũ bảo hiểm. Thế là chính các cô trải nghiệm hiện đại. Đa số chúng ta ngại tư duy, trốn tránh tranh luận, luôn đưa ra những ý kiến nước đôi, óc độc lập chưa có, xây dựng tư tưởng lại càng chưa bao giờ, trải nghiệm cũng không. Vậy thì bàn đến hậu hiện đại làm gì. Cái hậu hiện đại của chúng ta chỉ giả cầy thôi. Một số tác giả Việt ở nước ngoài cũng rất chăm viết về hậu hiện đại, nhưng phần đông chỉ là tra cứu chứ không phải trải nghiệm. Chúng ta biết, học điệu van-xơ: bùm-chát-chát, không quá một phút, nhưng để thành thạo nó tới mức ngấm trong máu phải mất hàng năm. Rất nhiều cây bút ở nước ngoài về mà tôi vẫn thấy sền sệt trong tư duy họ tiết điệu máu chảy của lới lơ, cóc cáy, quê mùa. Than ôi, làm nghệ thuật thì phải có tâm hồn văn hóa tinh tế, đằng này còn quê kệch thì làm sao tới nghệ thuật, càng chẳng tới được hậu hiện đại.


Theo nhân chủng học, người xứ nóng mũi tẹt, vai xuôi, ngực lép, vóc nhỏ để tránh nóng. Người xứ nóng thường lười nhác ngại làm việc lớn vì khi làm cơ thể ra nhiều mồ hôi. Người xứ nóng cũng rất tùy tiện trong cách sống, bởi vì có thể vận quần xà-lỏn đi tung tăng mà không sao. ( Còn người xứ lạnh nếu không nắm vững các quy tắc về giữ ấm khi ra khỏi nhà liền nguy đến tính mạng). Xã hội ta lại là xã hội tam nông, nông thôn, nông nghiệp, nông dân, mắc các thói xấu, tiểu nông, tiểu trí, tiểu xảo, và thế là có vô số người mang theo bản tính đó cầm lấy bút, tùy tiện làm thơ, mong làm sao chớp được cơi hội đổi đời, không làm quan thì cũng cải thiện giá trị văn hóa của mình.


Quan sát nhiều người sau vài chục năm vẫn muốn đọc thơ, tôi thấy sao anh ta, chị ta không nâng cấp thơ mình lên, trước kia thì mới vào nghề, nay thì phải đọc theo tư cách đề cử thi hào. Để mạnh dạn tạo ra một đời sống thi ca mới, có cạnh tranh, ganh đua tài năng, giờ tôi xin được đọ thi thơ với mọi cây bút cho dù đã đi xứ hoặc được giải gì. Hiện tôi có bốn trường ca và một tập thơ ngắn. Việc tôi đề cử và thi đọ, tôi nghĩ là quyền chính đáng, như thể một chị nhà quê muốn để cử kỷ lục guinesse về việc mình ăn nhiều ớt nhất. Việc tôi xin đọ thơ cũng là lời công khai đàng hoàng, chứ không phải là thứ dấm dúi trong bếp. Nó cũng là tấm giấy quỳ không chỉ phát hiện ra bản thân tôi mà còn thấy được người chiến thắng tôi. Tôi nghĩ đó cũng là một sáng kiến nhằm thanh toán đời sống thơ quá lầy nhầy, buồn ngủ, lười nhác và nhiều hoang tưởng của chúng ta.
Xin cảm ơn và xin đợi lời thách đấu.

NHĐ

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· BUỒN QUÁ! - HÔM NAY XEM TIỂU THUYẾT!
· 'GIỮA DÒNG CHẢY LẠC' - GIỮA DÒNG HIỆN SINH
· SỰ THẬT VỀ MỐI TÌNH HÀN MẶC TỬ- KIM CÚC VÀ BÀI THƠ 'Ở ĐÂY THÔN VĨ DẠ'
· THƠ VÀ NƯỚC MẮT HÒA GIẢI
· MỌI TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐỀU DANG DỞ
· NHIỀU TÁC PHẨM CỦA LỖ TẤN BỊ LOẠI KHỎI SÁCH GIÁO KHOA TRUNG QUỐC
· TRẦN QUANG QUÝ VÀ “GIẤC MƠ HÌNH CHIẾC THỚT”
· DÙ NÍU LẠI HƯƠNG, EM VẪN CHẬP CHỜN THEO GIÓ CUỐN
· TRỊNH CÔNG SƠN - NHÀ THƠ
· XUÂN SÁCH VÀ TẬP THƠ 'CHÂN DUNG NHÀ VĂN'
· ĐỌC “NGUYỄN TRÃI TRƯỚC GIỜ TRU DI”
· VẬN ĐỘNG CẢI CÁCH VĂN THỂ, TÂM THÁI SĨ PHU VÀ ĐỘNG HÌNH VĂN CHƯƠNG VN CUỐI TK XVII - ĐẦU XVIII
· THƠ KO UN - BẢN THÔNG CÁO VỀ MỘT CÁI CHẾT
· ĐỌC 'CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI' CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
· NHỮNG NGƯỜI XA LẠ KỲ LẠ
· VIẾT CHO XUÂN QUỲNH
· HOÀNG CẦM-HÀNH TRÌNH XÓA BỎ ẨN DỤ NHƯ 1 LỐI TÌM ĐẾN NGÔN NGỮ THI CA MỞ
· MỘT CÁCH GIẢI MÃ CẢM THỨC NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN DU QUA TRUYỆN KIỀU
· LÍNH NHÀ VĂN 1954-1958 – NHẬT KÝ VŨ TÚ NAM
· THANH THẢO VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_70lrs0828fiqav9nj2tessmg23, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0