DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
BI KỊCH VŨ NHƯ TÔ - XUNG ĐỘT GIỮA TÀI NĂNG VÀ HOÀN CẢNH

                                                                                      PHAN ĐÌNH DŨNG                                                                            

 

Vũ Như Tô có lẽ là tác phẩm có tiếng vang đầu tay của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Là một trong không nhiều tác phẩm tâm huyết, “ám ảnh” dai dẳng suốt một đời văn của ông và đồng thời, theo sự sàng lọc nghiệt ngã mà công bằng của thời gian, nó dường như trở thành đỉnh cao duy nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tạo của nhà văn này.

 

 

 

Về mặt thể loại, từ khi ra đời cho đến nay, Vũ Như Tô đã được định danh khá đa dạng song lại thống nhất. Có nhà nghiên cứu nhận thấy quá trình sáng tác, sửa chữa và hoàn thiện tác phẩm vắt sang cả giai đoạn sau Cách mạng bèn gộp chung với các vở Bắc SơnNhững người ở lại và gọi chúng là “bi kịch lạc quan”(Tất Thắng); có nhà nghiên cứu khẳng định và chứng minh rằng Vũ Như Tô là tác phẩm bi kịch “duy nhất và đích thực”(Phạm Vĩnh Cư) của Nguyễn Huy Tưởng. Tuy nhiên, phần lớn các nhà văn, các nhà nghiên cứu khác chỉ gọi đơn giản là bi kịch mà không đi sâu vận dụng những yêu cầu, những tiêu chí  nghiêm ngặt của mĩ học châu Âu xưa nay đối với một “bi kịch thực thụ”.

 

 

 

Phân tích thế giới hình tượng kịch nhằm xác định giá trị, chiều sâu của tư tưởng kịch bản, trước tiên, chúng ta cần xác định xung đột chính của tác phẩm. Có vậy mới tránh được tình trạng mà nhà nghiên cứu Phùng Văn Tửu từng lưu ý là đã có không ít người phân tích, lí giải kịch bản cũng không khác gì phân tích, lí giải truyện ngắn và tiểu thuyết.(1)

 

 

 

Một trong những lí do cơ bản khiến lâu nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu, cách lí giải rất khác nhau về bản thân Vũ Như Tô và nhân vật cùng tên là bởi xuất phát từ việc xác định xung đột chủ yếu của tác phẩm.

 

 

 

Hai tác giả chuyên luận về Nguyễn Huy Tưởng ra đời vào những năm sáu mươi – Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ - mặc dù không chỉ ra cụ thể xung đột chính của vở kịch này song qua những phân tích, kiến giải của hai ông chúng ta cảm nhận được hai nhà nghiên cứu đều cho rằng bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của sự nhận thức.(2)Nói cách khác, đây chính là bi kịch nội tại của nhân vật trung tâm. Bản thân Vũ Như Tô là một khối mâu thuẫn lớn. Do vậy, bi kịch của sự nhận thức cũng là một tồn tại thực trong suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật trung tâm thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại và đặc biệt là ngôn ngữ độc thoại của nhân vật mà chúng ta sẽ đề cập cụ thể sau. Tuy nhiên, bi kịch này mới chỉ là một khía cạnh trong toàn bộ bi kịch số phận nhân vật Vũ Như Tô. Bi kịch số phận của đốc công họ Vũ còn phát sinh “do tác động lịch sử” như nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng đã nhận định.(3)Nó không chỉ đơn thuần là bi kịch của cá nhân mà là bi kịch của cả một lớp người mang “nợ tài hoa”; không chỉ là bi kịch của một thời “mà là nhiều thế kỉ nối tiếp của lịch sử nước nhà(4)

 

 

 

Trong bài viết của mình “Suy nghĩ thêm về Vũ Như Tô nhân vở kịch được dàn dựng trên sân khấu”, Phan Trọng  Thưởng đã phân biệt Vũ Như Tô – Công dân và Vũ Như Tô – Nghệ sĩ và cho rằng “mâu thuẫn này( giữa Vũ Như Tô- Công dân và Vũ Như Tô- Nghệ sĩ) tuy có day dứt nghệ sĩ nhưng đó chưa phải là cội nguồn bi kịch của Vũ Như Tô”, từ đó, ông khẳng định “…sự thất bại làm nên bi kịch Vũ Như Tô chính là do nghệ sĩ “sinh bất phùng thời(5). Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư cũng đồng ý với nhận định này có điều ông quan niệm chữ “thời” nên hiểu theo nghĩa rộng, “không phải triều đại một ông vua nào cụ thể, mà là nhiều thế kỉ nối tiếp của lịch sử nước nhà”. Dựa vào phong cách tác giả và đặc trưng thể loại, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố hoàn cảnh khi nhận diện xung đột chính của Vũ Như Tô. Hoàn cảnh, bao gồm không gian và thời gian lịch sử của vở kịch, không chỉ được miêu tả do đặc trưng kịch bản văn học mà đã trở thành ý thức nghệ thuật gắn liền với cảm hứng chủ đạo của bi kịch này.

 

 

 

Nhà nghiên cứu Văn Tâm, tác giả công trình “Đoàn Phú Tứ – Con người và tác phẩm” trên cơ sở phác hoạ lại một cách toàn diện, sinh động bối cảnh xã hội – lịch sử ra đời của Vũ Như Tô và điểm qua một số đoạn nhật kí bộc lộ tư tưởng quốc gia và tinh thần hướng về cội nguồn văn hoá phương Đông của nhà viết kịch, đã phân loại và lí giải một số nhân vật của kịch bản mà ông nghĩ rằng “có tính chất là biểu tượng cho từng thực thể xã hội:

 

 

 

- Dân tộc : cung nữ Đan thiềm – dân tộc khác : thái tử Chiêm Thành.

 

- Nhân dân: Thị Nhiên, vợ Vũ Như Tô – người cầm quyền : vua Lê Tương Dực”(6)

 

Cũng theo nhà nghiên cứu, nếu 4 nhân vật trên có tính cách tĩnh thì Vũ Như Tô là một nhân vật động đã di chuyển vị trí từ “nhân dân” sang “dân tộc” trong quá trình diễn biến của vụ việc Cửu Trùng đài. Từ đây, tác giả “Vũ Như Tô trong cuộc đời “bát nháo”xác định xung đột chủ yếu của kịch bản này là mâu thuẫn giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợi nhân dân(7). Phạm Vĩnh Cư nhận xét đây là “sự ngoại suy tư biện…không ăn khớp với hiện thực tác phẩm và làm giảm ý nghĩa nhân loại của nó(8). Người viết hiểu rằng “hiện thực tác phẩm” là cả một hệ thống nhân vật khoảng chừng trên dưới 20 người mà tác giả đã dày công xây dựng, thêm bớt nhằm tạo ra một mạng lưới quan hệ chặt chẽ và phức tạp. Xung đột chủ yếu của vở kịch phải chi phối, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên hết thảy các dạng xung đột cụ thể của các nhân vật. Chỉ chọn ra khoảng 5 nhân vật, dù là nhân vật tiêu biểu, để phân tích và lí giải về xung đột chủ yếu của kịch bản thì cũng khó tránh khỏi cái nhìn phiến diện và tư biện.

 

 

 

Cách nhìn của tác giả bài viết "Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô” về xung đột chính trong văn bản kịch này có nhiều nét đáng chú ý. Nhằm nhấn mạnh “Vũ Như Tô là tác phẩm bi kịch duy nhất và đích thực của Nguyễn Huy Tưởng”, nhà nghiên cứu đã dựa hẳn vào những đặc điểm cơ bản của mâu thuẫn bi kịch cổ điển theo quan niệm mĩ học châu Âu. Ông đề cao sự sáng tạo của nhà viết kịch trên cơ sở sử liệu và nêu ra nhận định: “Và nguyên nhân sâu xa của bi kịch là ở chỗ người nghệ sĩ tài trời này không có điều kiện lao động sáng tạo, không thể thi thố tài năng.(9)Ông lưu ý chúng ta “chính sách trọng sĩ khuyến nông, khống chế công thương mà Vũ Như Tô tố cáo trong kịch bản, bắt đầu đâu phải từ Lê Tương Dực, mà từ xa xưa hơn nhiều(10), do vậy, theo ông, bi kịch của Vũ Như Tô không chỉ là bi kịch của một thời dù đó là thời Lê Tương Dực. Ông phân tích và chứng minh cụ thể , thuyết phục về “cái quyền sống của nhân dân bị hi sinh không thương tiếc trong cuộc chiến” xây dựng Cửu Trùng đài. Thế nhưng đến khi khái quát và chỉ ra xung đột chủ yếu của bi kịch này, Phạm Vĩnh Cư lại quan niệm: “Như vậy, hai lực đối kháng và đồng đẳng xung đột quyết liệt trong tác phẩm bi kịch hoàn chỉnh một cách cổ điển của Nguyễn Huy Tưởng: Nghệ sĩ và Nhân dân”(11). Và theo nhà nghiên cứu, đây cũng chính là “cuộc xung đột khốc liệt giữa cái Đẹp và cái Thiện, cuộc xung đột có ý nghĩa lịch sử nhân loại mà nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng đã khắc hoạ…vào gần giữa thế kỉ XX”(12)

 

 

 

Nếu chúng ta cho rằng xung đột chủ yếu của kịch bản Vũ Như Tô là xung đột giữa Nghệ sĩNhân dân thì xung đột này sẽ được cụ thể hoá qua một hệ thống những xung đột tính cách vốn là hình thức biểu hiện cơ bản của xung đột kịch. Khái niệm xung đột tính cách, theo nhà nghiên cứu Hồ Ngọc, có thể hình dung là “sự biểu hiện xung đột giữa những con người cụ thể, có những tư tưởng  tình cảm, tâm hồn khác nhau, có những quan niệm sống, những dục vọng, ham thích khác nhau v.v…Khi ta đặt họ trước một vấn đề gì đó, tự nhiên họ sẽ va chạm nhau, đấu tranh với nhau theo quan điểm riêng của từng người(13). Vận dụng khái niệm này để khảo sát mối quan hệ giữa nhân vật trung tâm với hầu hết các nhân vật trong kịch bản, chúng ta dễ dàng nhận ra giữa Vũ Như Tô và phần lớn nhân vật của bi kịch này đều có những biểu hiện xung đột tính cách với những tính chất, mức độ khác nhau. Ngay quan hệ giữa đôi tri kỉ Vũ Như Tô-Đan Thiềm vẫn có những lúc diễn ra những xung đột về tính cách [đầu lớp 7, hồi I; lớp 1, hồi V]. Vậy thử hỏi khái niệm Nhân dân ở trên mang hàm nghĩa nào? Nó có bao gồm cả Lê Tương Dực là một nhân vật hết sức tha thiết với công trình Cửu Trùng đài song lại chỉ muốn sử dụng nghệ sĩ Vũ Như Tô như một công cụ hầu thoả mãn dục vọng ích kỉ; xung đột tính cách giữa y và Như Tô khi lộ rõ, khi đè nén nhưng quả là xung đột sinh tử, một mất một còn? Trong nhận thức của mình, Vũ Như Tô rất khó tìm ra sự hoà hợp tính cách với đám quan lại đứng đầu triều đình bấy giờ như Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản… Các nhân vật quan lại này sẽ được xếp vào đâu giữa hai lực đối kháng?

 

 

 

Tiếp thu có chọn lọc những quan niệm về xung đột chính của Vũ Như Tô từ những người đi trước, xung đột chủ yếu trong tác phẩm kịch, theo người viết, cần thoả mãn những điều kiện sau:

 

 

 

a) Phù hợp với đặc trưng thể loại của tác phẩm ấy. Đối với Vũ Như Tô , đó là những đặc điểm của mâu thuẫn bi kịch.

 

 

 

b) Giúp chúng ta nhận thức, cắt nghĩa được hạt nhân tính cách của nhân vật trung tâm, mối quan hệ và những xung đột tính cách giữa nhân vật trung tâm và các nhân vật còn lại của vở kịch.

 

 

 

c) Hài hoà với hành động cốt lõi của kịch bản thể hiện qua một hệ thống những hành động cụ thể gắn bó với nhau theo qui luật nhân quả trong kịch.

 

 

 

d) Góp phần biểu hiện được tính phức hợp, chiều sâu của tư tưởng kịch bản văn học.

 

Dựa vào những điều kiện trên, kết hợp với những gợi ý từ những nhà nghiên cứu đi trước(14), chúng tôi cho rằng xung đột bi kịch chủ yếu của Vũ Như Tô chính là xung đột giữa tài nănghoàn cảnh.

 

 

 

Sở dĩ người viết không dùng những khái niệm như kẻ sĩ(Nguyên Ngọc), trí thức(Phong Lê), hay nghệ sĩ(Phạm Vĩnh Cư)…là vì chủ quan nghĩ rằng bản thân nhân vật trung tâm của kịch bản này có đầy đủ những phẩm chất của những kiểu người trên. Chỉ dùng một tên gọi e không thâu tóm được bộ mặt tinh thần phong phú và phức tạp của nhân vật này. Mặc dù tính cách của kiến trúc sư họ Vũ  hết sức đa dạng, phức tạp, chúng ta vẫn có thể nhận diện được tính chất xác định của nó. Đó là hạt nhân tính cách hay còn gọi là nòng cốt cá tính của nhân vật. Muốn xác định được yếu tố này, chúng ta có thể khảo sát, đối chiếu nhân vật Vũ Như Tô trong  sử liệu và trong văn bản kịch.

 

 

 

Câu chuyện Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng đài cho vua Lê Tương Dực đã được ghi lại cả trong Đại Việt sử kí lẫn Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Trong hai sử liệu này thì bản thứ hai trình bày chi tiết, sinh động hơn. Mở đầu đoạn sử viết về Vũ Như Tô, các sử gia phong kiến có ý nhấn mạnh hoàn cảnh xây đài và tài năng của người thợ cả:

 

 

 

Hạn hán; dân bị nạn đói to.

 

Khởi công xây dựng đại điện và Cửu Trùng đài.

 

Trước đây, Vũ Như Tô, một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp cây mía làm thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng, phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng đài”(15). Cái chết của Như Tô bên cạnh công trình dở dang có thể đã gây cho nhà văn ham mê tra cứu, nghiền ngẫm lịch sử một ấn tượng sâu xa về bi kịch của những số phận tài năng trong lịch sử. Bằng trí tưởng tượng bay bổng cộng với cảm hứng lịch sử mạnh mẽ, nhà văn đã sáng tạo nên nhân vật Vũ Như Tô trong bi kịch cùng tên như là một biểu tượng của Tài năng.

 

 

 

Toàn bộ các cuộc thoại ở hồi I chủ yếu xoay quanh hai hành động kịch cơ bản: giới thiệu Vũ Như Tô và thuyết phục anh  xây đài.

 

 

 

Từ lớp 1 đến lớp 5 của hồi I, nhân vật trung tâm của vở kịch vẫn chưa xuất hiện song tài năng và bản lĩnh của anh lại được đề cao hết mức thông qua những nhận xét đầy xúc cảm của những nhân vật quan trọng của triều đình bấy giờ. Vua Lê Tương Dực không che giấu nổi niềm vui ồn ào của mình khi nghe tin đã bắt được Như Tô đóng cũi giải về. Y là người đầu tiên bộc lộ sự ngưỡng mộ lớn lao đối với tài năng của Vũ Như Tô: “…hắn là một người thợ có hoa tay tuyệt thế, chạm trổ, nặn đục, xây dựng không kém đường gì. Lại có tài đào muôn kiểu hồ, vẽ những vườn hoa lộng lẫy như Bồng Lai. Hắn còn là một tay hội hoạ khác thường: Chỉ một vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa, thầøn tình biến hoá như cảnh hoá công. Còn cái tài tính toán thì không lời nào tả hết. Hắn sai khiến gạch đá như ông tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”[I.1]. Chính vì sự ngưỡng mộ này mà y mặc dầu hết sức căm giận thái độ và lời nói khi quân phạm thượng của người thợ kiến trúc tài hoa [I.3; I.9; III.5] vẫn phải nhiều lần dằn lòng bỏ qua. Thông qua lời nói của Lê Tương Dực, chúng ta biết thêm nhiều quan lại trong triều cũng ái mộ tài năng người thợ Vũ Như Tô. Viên công bộ thượng thư Lê An xem anh là thiên tài, “nghìn năm chưa dễ có một người”. Đặt vào miệng quan thượng thư bộ công, lời khen về tài năng của người thợ cả họ Vũ tự nhiên giàu sức nặng hơn.

 

 

 

Cũng trong hồi I, nhiều nhà nghiên cứu lâu nay hay nhắc đến cuộc thoại đầu tiên giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm[I.7]. Văn Tâm cho đây là “cuộc kì ngộ”; Đỗ Đức Hiểu lưu ý chúng ta những lần gặp gỡ giữa cặp tri âm tri kỉ này trong các hồi I, III, và V và nhận định đây là “Những Cảnh Lớn của kịch bản”. Cảnh thứ nhất[I.7], theo ông, có thể gọi là “Cảnh người đồng bệnh”mà “bệnh Đan Thiềm” chính là “cái nợ tài hoa” . Đúng như nhà nghiên cứu quá cố đã nhận xét, qua các lượt thoại(41 lượt tất cả), “Đan Thiềm luôn luôn nói đến tài của Như Tô, nào”tài hoa”, “tài trời”, nào “hữu tài”, “có tài”, “đem tài trời thi thố” v.v..khiến chàng xúc động đến đáy tâm hồn…(16). Chữ tài trở đi trở lại nhiều lần trong kịch bản Vũ Như Tô có lẽ chính là nỗi dằn vặt nghệ thuật suốt đời đối với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Song có thể nói không có lớp kịch nào mà chữ tài lại xuất hiện với mật độ dày đặc, áp đảo như lớp chúng ta đang dẫn. Lớp này chỉ chiếm chưa tới 7 trang sách  mà chữ tài qua lại trong lời thoại của hai nhân vật đến 15 lần! Những đối đáp xoay quanh chữ tài gợi ra nhiều tầng ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa xã hội sâu sắc. Tài năng(kiến trúc) không có điều kiện thăng hoa mà thường gắn liền với bi kịch số phận; xã hội phong kiến nghìn đời kìm hãm, hành hạ những kẻ có tài; tài năng nếu biết vận dụng một cách linh hoạt có thể góp phần “cống hiến cho non sông”…

 

 

 

Nếu cuộc hội ngộ giữa Như Tô và Đan Thiềm là cuộc hội ngộ giữa tài và tình, giữa tài năng và sự đồng cảm với tài năng thì cuộc gặp Vũ Như Tô- Lê Tương Dực [I.9] trở thành cuộc đấu mở màn giữa tài năng và quyền lực. Xung đột mở màn giữa hai đỉnh cao, đỉnh cao tài năng(Vũ Như Tô) và đỉnh cao quyền lực(Lê Tương Dực) là một trong những dạng xung đột tiêu biểu của vở bi kịch này. Bởi vậy, nhà biên kịch đã dành cho lớp này số lượt thoại nhiều nhất (47 lượt), số lượng  trang cao nhất(9 trang) trong hồi I.(17)

 

 

 

Tự tin và đang nắm trong tay quyền lực cao nhất bấy giờ, Lê Tương Dực liên tục đe doạ, khủng bố tinh thần Vũ Như Tô hết đợt này đến đợt khác:

 

- Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

 

- Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

 

- Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

 

- …Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

 

- …Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

 

- …lần này trẫm không tha mi nữa…Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

 

 

 

Tự tin và ý thức sâu sắc về tài năng, giá trị của bản thân, Vũ Như Tô đã dũng cảm, khôn khéo chống trả những đợt tấn công gay gắt, quyết liệt buộc nhà vua phải đi từ nhân nhượng này đến nhân nhượng khác và cuối cùng phải chấp nhận thực hiện hai điều kiện mà người thợ cả nêu ra: “thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một li nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ”. Những lời đanh thép, gan ruột của ông đã hé lộ bao nhiêu suy cảm tinh tế, sâu xa về chân tài và sự khổ luyện để đạt  được chân tài; về vai trò, trách nhiệm của nhân tài đối với nước non và những điều phải làm để phát hiện, bồi dưỡng nhân tài – nguyên khí của quốc gia; về mối quan hệ gắn bó và bình đẳng lẽ ra nên có giữa công(đặt trong thang bậc phong kiến: sĩ, nông, công, thương)…Những điều mà dường như đến tận thời điểm này không thể nói là không còn nóng bỏng thời sự.

 

Ngoài hai cuộc gặp ở trên, những cuộc gặp dưới đây cũng có thể coi là lớp kịch tiêu biểu, giàu ý nghĩa: Vũ Như Tô- Thị Nhiên[II.1; IV.1], Vũ Như Tô và tốp thợ chính[II.2; III.3; III.4], Vũ Như Tô và Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản[II.3].

 

 

 

Vũ Như Tô và Thị Nhiên gặp nhau không chỉ một lần. Nhân vật Thị Nhiên là một sáng tạo tương đối đầy đặn của nhà viết kịch lịch sử Nguyễn Huy Tưởng. Đây là nhân vật “nghịch âm” so với cung nữ Đan Thiềm. Đan Thiềm khao khát vẻ đẹp cao cả, “lộng lẫy nhất trần gian” của Thăng Long kinh kì , biểu tượng của non sông, và khi có cơ hội thì tự nguyện dâng hiến cả tài sản, tính mạng cho vẻ đẹp ấy, ngược lại, điều khao khát suốt đời của Thị Nhiên là cuộc sống hạnh phúc gia đình gắn liền với người chồng, lũ con, bầy lợn, đàn gà, nhà tranh, vách đất và chị hằng ngày cặm cụi, vất vả, hy sinh vì cái tổ ấm riêng tư của mình. Đan Thiềm lí tưởng, bay bổng bao nhiêu, Thị Nhiên thiết thực, giản dị bấy nhiêu. Những va chạm, bất đồng giữa Vũ Như Tô và Thị Nhiên là những mâu thuẫn không dễ dàng điều hoà giữa một bên là vẻ đẹp của tài năng thăng hoa, bên kia là những yêu cầu, đòi hỏi của hạnh phúc đời thường mộc mạc, giản dị. Vũ Như Tô nếu vì Đan Thiềm mà quên Thị Nhiên hoặc ngược lại, chỉ sống đời với Thị Nhiên mà không mơ màng tưởng nhớ Đan Thiềm hình như cả hai lối sống đều bất ổn như nhau. Lần gặp lại Thị Nhiên, rõ ràng trong tâm tưởng của người thợ cả Vũ Như Tô, con người nghệ sĩ đã thống ngự. Người nghệ sĩ kiến trúc bây giờ tự nguyện hi sinh tuyệt đối cho nghệ thuật, cho sự nghiệp xây dựng Cửu Trùng đài. Bản thân anh ta đã trở thành “phương tiện của nghệ thuật” như Flaubert từng quan niệm. Những chuyện phi nghệ thuật như mất mùa, lụt lội, cướp bóc, giặc giã,tai nạn( của người khác và của chính bản thân), học hành, bệnh tật của con cái(cu Nhớn, cái Bé)…không thuộc trường quan tâm của anh. Nhiều câu nói của viên tổng công trình sư trong lớp kịch này[IV.1] chỉ chuyên chú vào vẻ đẹp của đài Cửu Trùng mà không ăn nhập gì với những lo toan, băn khoăn của người vợ neo đơn, vất vả. Người nghệ sĩ Vũ Như Tô đến lúc này dường như đang ở đâu đó trong thế giới nghệ thuật tách biệt, xa lạ với thế giới hàng ngày.

 

 

 

Tuy nhiên, Vũ Như Tô có thật sự thanh thản, hạnh phúc trong thế giới mà anh tự nguyện dấn thân? Những cuộc thoại của người thợ cả và tốp thợ chính(Hai Quát, Phó Bảo, Phó Cõi, Phó Toét, Phó Độ)  ngày càng giảm dần sự đồng cảm giữa các tài năng mà tăng thêm những bất mãn, bất đồng.

 

 

 

 Cuộc thoại đầu tiên của bọn họ[II.2] rất xứng với tên gọi cuộc hội ngộ giữa những tài năng. Chan hoà suốt cả lớp kịch chủ yếu cái giọng điệu hể hả, tự tin của những con người có tài thực sự. Người thợ đứng đầu công trình tỏ ra hết sức am tường với từng loại tài nghệ chuyên biệt của mỗi cộng sự để có thể sắp xếp công việc chính xác, đầy đủ, chu đáo. Những yêu sách chính đáng của Vũ Như Tô nhằm đưa công ngang , dự định về Bách công sảnh…cho thấy người thợ tài hoa toàn diện này đã dày công nghiền ngẫm về vị trí và triển vọng của những tay nghề một cách nghiêm túc, kĩ lưỡng.

 

Tuy nhiên, đây cũng là lần gặp gỡ duy nhất mà trái tim của những tài năng đã đập cùng nhịp với vẻ đẹp giàu hứa hẹn của Cửu Trùng đài. Từ những lần gặp về sau, những lời nói đồng cảm với tài năng( và cả phẩm cách) của Vũ Như Tô vẫn còn song đã không át nổi những giọng điệu nghi ngờ, chỉ trích, buộc tội. Trong hàng ngũ những thợ chính theo giúp thợ cả Như Tô đã có sự “nhị tâm”(lời của Phó Cõi). Cuộc đấu khẩu giữa Phó Độ, Phó Cõi và Phó Bảo[III.1] hé ra những bất mãn dồn nén của anh phó nề. Anh cho rằng bác thợ cả rất giàu tài năng mà cũng rất nhẫn tâm, thủ đoạn. Phó đốc công Hai Quát ngày càng chán nản, bất đồng với cách làm và thái độ cư xử của đốc công họ Vũ. Còn bản thân người thợ cả thì bắt đầu tự dằn vặt, buộc tội mình[độc thoại đầu III.3], lờ mờ nhận ra các cộng sự đang tức giận mình và phải dùng đến chiêu khích tướng, đánh vào tinh thần tự tin, tự tôn của những viên phó tài năng.

 

 

 

Từ những nghi ngờ, bất mãn[III.1,2,3] đến những mưu toan bỏ cuộc xây dựng đài Cửu Trùng[IV.3] và theo hẳn quân khởi loạn Trịnh Duy Sản[IV.5], tốp thợ chính xây dựng đài(trừ Phó Cõi) đã dần dần thoả hiệp, đầu hàng quyền lực, và vô tình họ đã đẩy người thợ cả vào cái thế cô lập khốn cùng.

 

 

 

Một mình Vũ Như Tô, biểu tượng của Tài năng, đã bị dồn vào cái thế cô thân độc mã đối đầu với quyền lực(Tương Dực), võ lực và thủ đoạn (Trịnh Duy Sản và Nguyễn Vũ)[II.3], một sự đối đầu hoàn toàn không cân sức. Cái chết của người kiến trúc sư “thạo đủ mọi nghề” là một cái chết được báo trước. Báo trước từ những dự cảm của chính anh, những lo lắng thắc thỏm của người vợ tận tuỵ, từ sự tức giận ngấm ngầm của đám vua quan đang ra sức lợi dụng, bóc lột tài năng của anh và nhanh chóng trở thành hiện thực dưới mưu toan cùng sức mạnh “mù quáng và nông nổi” của đám quân phiến loạn  đứng đầu là Trịnh Duy Sản… Bi kịch của số phận tài năng Vũ Như Tô hết sức nhất quán với cái logic nghiệt ngã của Hoàn cảnh.

 

 

 

Miêu tả hoàn cảnh làm nền cho tấn kịch bi thảm của người thợ tài năng Vũ Như Tô không chỉ xuất phát từ những đòi hỏi của việc xây dựng kịch bản văn học mà còn bắt nguồn từ ý thức nghệ thuật, từ cảm hứng lịch sử sâu xa của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

 

 

 

Thật ra khi chúng ta tìm hiểu nhân vật trung tâm Vũ Như Tô và những mối quan hệ tuy phức tạp, chồng chéo mà vẫn chặt chẽ, nhất quán giữa nhân vật này với hệ thống nhân vật trong toàn bộ kịch bản cùng tên là chúng ta cũng đã tiến hành phân tích, khám phá yếu tố hoàn cảnh trong tác phẩm với tư cách là một lực đối kháng xuyên suốt bi kịch gắn liền với những tình huống, xung đột kịch cụ thể. Từ đầu đến cuối vở kịch, con người tài năng Vũ Như Tô liên tục phải va chạm, đối phó không phải với một khái niệm hoàn cảnh trừu tượng mà với những con người cụ thể vừa gắn liền với những hoàn cảnh, sự kiện cụ thể vừa kết tinh những góc cạnh của hoàn cảnh lịch sử như quyền lực, vũ lực, thủ đoạn, những đòi hỏi chính đáng từ phía gia đình, những bức xúc trong quan hệ công việc

 

 

 

Xuất phát từ sự nghiên cứu, nghiền  ngẫm lịch sử công phu, kĩ lưỡng nhà biên kịch Nguyễn Huy Tưởng đã lựa chọn và sáng tạo một loạt những nhân vật, sự kiện lịch sử cụ thể, sinh động để tổ chức hệ thống hành động kịch liền mạch, nhất quán tạo ra sự hài hoà, nhuần nhuyễn giữa tính chân thực lịch sử và tính chân thực nghệ thuật như các nhà nghiên cứu Vũ Như Tô lâu nay từng ca ngợi. Khá nhiều  nhân vật trong vở kịch như Vũ Như Tô, Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản, Nguyễn Vũ, Lê An, Lê Trung Mại, Ngô Hạch, Trần Cao, Nguyễn Hoằng Dụ v.v.. đều có những nguyên mẫu trong chính sử. Một loạt sự kiện được đề cập tới thông qua lời nói của một số nhân vật như Thị Nhiên, Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản, người thợ, Lê Trung Mại, nội giám… về nạn mất mùa, lụt lội, dịch bệnh, giặc giã, vua bị giết, hoàng hậu tự sát, Quang Trí lên ngôi, Phùng Mai bị chém tại nhà Nghị sự…đều đã được sử sách đề cập tới. Cái tài của nhà biên kịch bộc lộ ở chỗ chọn lọc, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử không phải bao giờ cũng có quan hệ, gắn bó với nhau xoay quanh một hành dộng kịch thống nhất, một xung đột kịch chủ yếu.

 

 

 

Dựa vào lời chỉ dẫn ở đầu kịch bản, chúng ta có thể biết hoàn cảnh lịch sử chung nhất : “Kịch xảy ra ở Thăng Long hồi 1526-1527”. Tiếp tục khảo sát, đối chiếu những lời chỉ dẫn mở đầu các hồi, người đọc nắm được không gian diễn ra hành động kịch, được miêu tả trực tiếp chủ yếu là không gian cung đình; thời gian xảy ra hành động kịch chỉ vẻn vẹn trong 10 tháng. Tuy nhiên, thông qua lời thoại của các nhân vật tiêu biểu của kịch bản, trí tưởng tượng của người đọc còn mở rộng ra những không gian, thời gian khác nữa. Đây là những không gian- thời gian được miêu tả gián tiếp gắn liền với từng hành động nhân vật cụ thể. Kết hợp những chi tiết nghệ thuật mà nhà văn dùng để khắc hoạ không gian và thời gian trong kịch bản Vũ Như Tô, chúng ta có thể bước đầu nhận thức được hình tượng không gian, hình tượng thời gian đặc thù của tác phẩm này.

 

 

 

Theo chúng tôi, thời gian nghệ thuật chủ yếu trong kịch bản có thể định danh là thời gian huỷ hoại và huỷ diệt. Hầu hết các nhân vật tiêu biểu của vở kịch đều ý thức về kiểu thời gian này tuy tính chất, mức độ không thật giống nhau.

 

 

 

Là nhân vật trung tâm của bi kịch, Vũ Như Tô tỏ ra hết sức nhạy cảm và thấu hiểu cái thời gian nghiệt ngã này. Có tài năng lớn và hết sức tự tin về tài năng của mình, anh ta đã có cái nhìn thấu suốt thời đại phong kiến và cay đắng nhận ra đó chính là thời đại kìm hãm, bóp chết những tài năng sáng tạo. Quan sát, suy ngẫm từ góc độ nghệ thuật kiến trúc, người thợ cả nhận xét: “Chế độ thì nghiệt ngã, vô lí: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo”[I.7]. Có tài năng thực sự mà không được bộc lộ có khác gì phải chịu chết dần chết mòn, đã thế, một khi cái tài ấy lọt vào tai mắt của triều đình tất yếu biến thành vạ lớn, cái vạ của cả một lớp nhân tài. Hai trăm năm sau nghệ sĩ Vũ Như Tô, nghệ sĩ thiên tài Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, cũng ngẫm về tài năng một cách chua chát:

 

 

 

          Có tài mà cậy chi tài,

 

          Chữ tài liền với chữ tai một vần.

 

 

 

Tài lớn đi liền với hoạ lớn(Tài bao nhiêu luỵ bấy nhiêu – Lời Đan Thiềm). Sớm biết điều này nhờ “ngày ngày…thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma”, Vũ Như Tô đã cùng gia đình trốn tránh, sống “đời lẩn lút” nhưng mà anh vẫn cứ tiếp tục luyện nghề, chờ dịp, thậm chí, “trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường…cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ”[I.9]. Khổ công trau nghề đến khi đạt được đỉnh cao của tài năng thì như mọi nghệ sĩ chân chính khác, người thợ tài hoa ấy luôn luôn ao ước xây dựng một Cửu Trùng đài “to như núi, bền như trăng sao”.

 

Thế giới tinh thần Vũ Như Tô chứa đựng những mâu thuẫn giằng xé: thấy hoạ mà vẫn luyện tài; biết khổ nhục mà vẫn đa mang; không tự bảo vệ được sinh mạng gia đình và bản thân song vẫn hướng về sự bất tử của Nghệ thuật…Điều này cắt nghĩa vì sao nhiều nhân vật trong kịch bản sớm nhận ra đồng thời với tài năng anh còn là con người uy vũ bất năng khuất[I.3], suốt đời tự nguyện hi sinh vì Nghệ thuật. Thông qua nhân vật Vũ Như Tô, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã gửi gắm nhiều suy tư sâu sắc của mình về cái Tài và chữ Tâm của một nghệ sĩ chân chính.

 

 

 

Người nghệ sĩ tài hoa chân chính ấy chưa kịp bỏ thân vì tàn tật, bệnh hoạn trong thời gian đốc thúc xây đài thì đã phải chết thảm dưới lưỡi gươm của đám quân phiến loạn chỉ qua mười tháng trời ngắn ngủi( thời gian trong chính sử có dài hơn “từ năm này qua năm khác”). Cùng vĩnh biệt cuộc đời với Như Tô còn có Đan Thiềm, người bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi “rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm” ngày ngày bạn với cảnh già, cảm nhận thời gian khắc nghiệt đang huỷ hoại dần nhan sắc của mình.

 

Qua lời của Vũ Như Tô nói với Thị Nhiên[II.1], hình ảnh 500 thợ già cũng là minh chứng cho thời gian huỷ hoại tấm thân. “Khi tuyển vào kinh, họ còn trai tráng mà bây giờ…người thì còng lưng, người thì bạc đầu, người thì móm mém. Có người chưa có vợ con gì cả…”. Những người thợ mới tuyển để xây dựng đài Cửu Trùng thì số phận sắp tới dường như đã được báo trước từ miệng vua Lê:

 

 

 

- Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi[I.9].

 

Quả nhiên “nửa năm sau”, khi tốp thợ chính có dịp trò chuyện, niềm vui về kết quả công việc của Phó Độ có vẻ như khá lạc lõng trước nỗi chán nản, khổ sở của Phó Bảo, Phó Cõi, nỗi kinh sợ, mất niềm tin của Hai Quát, sự dằn vặt, khổ tâm của thợ cả Vũ Như Tô…Hằng trăm thợ nề, trong đó có em trai Phó Bảo, đã chết. “Chỗ đổ hôm kia”,  theo lời Phó nề, “còn đến hàng chục người chết bẹp ở đấy”. Mùi xú uế lan tràn không cần đợi “hè tới” mà “chỉ nay mai thôi” dịch bệnh sẽ gây khốn đốn. Chính lúc họ đang than vãn, lo lắng lại “có tiếng đổ ầm ầm, tiếng thét, tiếng khóc tru tréo”, thợ tiếp tục chết. “Ba ngày hôm nay chết đến ba trăm thợ, toàn là thợ giỏi”(lời của Hai Quát). Mỗi loại thợ chết một kiểu, “cái ngày khuôn nổ, đồng chảy như ao, hàng trăm thợ chết bỏng trong vạc dầu”(lời của Phó Toét). Có người bị đánh uất ức, đâm đầu xuống hồ chết (Năm Cậy); có kẻ bỏ trốn, bị chém bêu đầu; có số thuyền đắm, chết chìm. Còn lại phần lớn “chết bẹp, chết đói, chết dịch”(lời người thợ sắp bị chém).

 

 

 

Ngay những kẻ quyền quí cũng không sao thoát được cái hoạ diệt thân. Thái tử Chiêm Thành ba năm mòn mỏi nhớ nước, cứ tưởng hai năm nữa sẽ được “trông thấy đồn tháp nước Hời” thế rồi bị giữ lại suốt đời ở đây và cuối cùng chết thảm bởi đám thợ khổ sở của Phó Bảo vào cái đêm khởi loạn. Cũng trong đêm khởi loạn, võ sĩ Ngô Hạch theo lệnh Trịnh Duy Sản đâm vua Lê ngã ngựa rồi giết chết. Khâm Đức Hoàng hậu nhảy vào lửa chết theo. Nguyễn Vũ “xin chết vì nạn của vua” chỉ sau tám năm chịu ơn tri ngộ….

 

 

 

Tương ứng với thời gian huỷ hoại và huỷ diệt, người đọc Vũ Như Tô thường xuyên bắt gặp sự hiện diện của từ chết và những từ ngữ cùng nghĩa, gần nghĩa, cùng trường liên tưởng với nó. Điệp khúc chết trở đi trở lại trong suốt kịch bản không dưới 70 lần. Cùng với từ tài, chết cũng là từ cửa miệng của hầu hết các nhân vật kịch bản. Có kẻ dùng cái chết để đe doạ(Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản); có người nhắc đến cái chết để khẳng định bản lĩnh sống(Vũ Như Tô, Đan Thiềm), để nhắc nhở và lo lắng, thương tâm đối với người thân và đồng loại(Thị Nhiên, tốp thợ chính); có kẻ chờ đợi, trông mong chết chóc đến với kẻ thù(Thái tử Chiêm Thành)…Cả một hệ cảm xúc đa dạng, đối nghịch có dịp bộc lộ khi đề cập đến cái chết của kẻ khác và của chính mình: khinh bỉ, thản nhiên, giận dữ, lo lắng, kinh sợ, hả hê.v..v..

 

 

 

Đi đôi, gắn liền với thời gian huỷ hoại và huỷ diệt như bóng với hình là không gian chết chóc hoặc gợi những liên tưởng, tưởng tượng về sự chết chóc.

 

 

 

Như đã trình bày, không gian chủ yếu nơi diễn ra hành động và xung đột cơ bản của tấn thảm kịch là không gian cung đình. Trong không gian cung đình này, dựa vào những lời chỉ dẫn đầu mỗi hồi kịch và giữa các lớp kịch, chúng ta nhận thấy tác giả dụng công bố trí hai loại không gian tương phản gần kề nhau: không gian xây dựng với hình ảnh đài Cửu Trùng lớn lao, ngổn ngang gạch đá và không gian ăn chơi, hưởng lạc trên hồ Tây xanh biếc. Tìm hiểu chi tiết lời nói một số nhân vật chính, người đọc còn được dẫn dắt đến những không gian xa xôi bên ngoài sân khấu như không gian luyện nghề của người thợ cả( các đền đài dinh thự trong nước, các danh lam thắng tích ở Trung Quốc, Chiêm Thành, Tây Trúc); không gian trốn tránh, giam cầm; không gian làng quê; không gian vận chuyển vật liệu xây dựng.vv…

 

Có thể nói thông qua hành động ngôn ngữ, nhà biên kịch Nguyễn Huy Tưởng đã phần nào khắc phục được tính hạn chế, qui ước của không gian kịch mở ra một trường không gian đa dạng, phong phú trong và ngoài sân khấu. Không gian ấy, tuy đa dạng, phong phú mà vẫn tập trung, thống nhất nhờ luôn gắn liền với hành động và xung đột kịch. Không gian ấy cũng gắn rất chặt với thời gian như quan niệm của nhà bác học M. Bakhtin về khái niệm “thời – không”(khronotov).

 

 

 

Khi phân tích, lí giải thời gian nghệ thuật của kịch bản, chúng ta cũng đã nêu ra những không gian chết chóc nhất định. Cung đình là nơi đôi tri âm tri kỉ Vũ Như Tô- Đan Thiềm nhiều lần bị cái chết đe doạ, suýt bị giết  chết và cuối cùng phải chịu chết chém. Không gian xây dựng Cửu Trùng đài là nơi đã có hằng nghìn thợ nề, thợ đúc bỏ mạng. Thợ chết nhiều đến nỗi thợ cả Vũ Như Tô thầm nguyện “sẽ xây trong đài này một ngôi đền lộng lẫy để muôn đời khói hương” cho những người chết oan. Nơi đây cũng là mồ chôn của những kẻ đứng đầu triều đình(Vua Lê và Hoàng hậu), kẻ thủ đoạn(Nguyễn Vũ),lưu đày(Thái tử Chiêm Thành) lẫn tên bạc ác (chú Sìn)…

 

 

 

Nhiều so sánh, liên tưởng hoặc gắn liền hoặc gợi ra những không gian chết chóc. Quận công Trịnh Duy Sản so sánh “việc xây Cửu Trùng đài, tiền tiêu tính ra tốn hơn là đánh Chiêm Thành”(công trường đồng nhất với chiến trường); Thị Nhiên nhìn đài xây dựng dở dang không thấy đẹp mà chỉ thấy kinh hãi(cổng như nuốt người, “ đổ xuống thì chết”, bậc đá nhiều lại cao “ngã một cái thì chết mất thôi”, tượng kị mã cứ như xô lại đánh người …). Hai nhân vật Trịnh Duy Sản và Thị Nhiên đều nhận ra không gian làng quê lâu nay cũng đã biến thành không gian chết:

 

 

 

Trịnh Duy Sản- …Mười năm nay, không mấy năm không mất mùa, đói kém quá thể, có nơi cả làng phải đi ăn mày, đường cái đầy xác chết.[II.3].

 

Thị Nhiên- …ở làng ta, mà cả ở quanh vùng, độ này cướp bóc nhiều lắm…Bên làng Cuội có cả giặc nổi lên…chúng giết cả lí trưởng[IV.1]

 

Không gian vận chuyển, tiếp tế vật liệu xây dựng cũng lâm vào cảnh “thuyền đắm, người chết hàng nghìn”(lời người thợ Chiêm Thành).

 

 

 

Những không gian vừa kể trên đều có mối liên hệ xa gần, nhân quả với nhau, đều gắn với công cuộc xây dựng Cửu Trùng đài. Vì vậy, người ta dễ cảm nhận chuyện xây đài như là một tai hoạ lớn. Một tên quân phiến loạn đã nói huỵch toẹt vào mặt người thợ cả sự thật bi thảm này:” Mày không biết mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó ư? Người ta oán mày hơn oán quỉ.”[V.8].

 

Chúng ta cứ thử hình dung mà xem nội cái hình ảnh người đứng đầu chỉ huy việc xây dựng đài đầu chít khăn tang(vì đang trở tang mẹ) cũng có thể coi là điềm bất tường ngay từ đầu…œ

 

 

 


 

(1) Phùng Văn Tửu – Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài, Nxb Giáo dục, H, 2002, tr. 47.

 

(2) Bích Thu –  Tôn Thảo Miên( tuyển chọn và giới thiệu) – Nguyễn Huy Tưởng, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H, 2000, tr. 29-30.

 

(3) Bích Thu –  Tôn Thảo Miên. Sđd, tr.32-33.

 

(4) Phạm Vĩnh Cư – Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô. Tạp chí Văn học số 7- 2000, tr.42.

 

(5) Bích Thu – Tôn Thảo Miên. Sđd, tr. 449.

 

(6) Bích Thu – Tôn Thảo Miên. Sđd, tr. 416.

 

(7) Bích Thu – Tôn Thảo Miên. Sđd, tr. 416.

 

(8) Phạm Vĩnh Cư. Sđd, tr. 44.

 

(9) Phạm Vĩnh Cư. Sđd, tr. 41.

 

(10) Phạm Vĩnh Cư. Sđd, tr. 42.

 

(11), (12) Phạm Vĩnh Cư. Sđd, tr. 43.

 

(13) Hồ Ngọc – Nghệ thuật viết kịch, Nxb Văn hoá, H, 1973, tr. 85.

 

(14)  Chẳng hạn như hai nhận định - một của Phan Trọng Thưởng, một của Phạm Vĩnh Cư – mà người viết đã từng trích dẫn:

 

- …sự thất bại làm nên bi kịch Vũ Như Tô chính là do nghệ sĩ “sinh bất phùng thời”(Phan Trọng Thưởng)

 

- Và nguyên nhân sâu xa của bi kịch là ở chỗ người nghệ sĩ tài trời này không có điều kiện lao động sáng tạo, không thể thi thố tài năng(Phạm Vĩnh Cư).

 

(15) Quốc sử quán triều Nguyễn – Khâm định Việt sử thông giám  cương mục, tập II(Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp dịch và chú giải), Nxb Giáo dục, H. 1998, tr. 56-57.

 

(16) Bích Thu – Tôn Thảo Miên. Sđd, tr. 435.

 

(17) Số lượt thoại trong hồi I như sau: lớp 1(12); lớp 2(2); lớp 3(30); lớp 4(2); lớp 5(3); lớp 6(2); lớp 7(41); lớp 8(3); lớp 9(47). Hồi I có 25 trang.

 

 

 

Nguồn: Phongdiep.net

 

Các bài khác:
· OLGA BERGGOLTZ CHO TÔI BÀI HỌC VỀ SỰ CHÂN THÀNH
· CHẾ LAN VIÊN - VẪN NỞ TIẾP NHỮNG MÙA ÁNH SÁNG
· KHUYẾT - LẠ CHỮ - LẠC TÌNH - HOẶC NGHI
· LEV TOLSTOY - NHÀ SÁNG TẠO, NHÀ TƯ TƯỞNG
· ĐỔI MỚI QUYẾT LIỆT NGUYỄN MINH CHÂU
· NGUYÊN SA VÀ TÌNH CA NGÔ THỤY MIÊN
· THANH TÂM TUYỀN ĐI TÌM TIẾNG NÓI
· NGẮM… NHAN SẮC THẦY TÔI
· CÓ MỘT SỰ IM LẶNG GHÊ NGƯỜI CỦA GIỚI PHÊ BÌNH
· “NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM”
· DẤU CHẤM, DẤU PHẨY TRONG THƠ
· NƯỚC NGA LÃNG QUÊN LEO TOLSTOYS
· TỔ QUỐC RÙNG MÌNH TRONG CƠN NHẬU NHẸT
· CHIẾC BÓNG NGUYỄN KHUYẾN TRONG MÙA THU CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
· ĐÊM NAY TRỜI KHÔNG MƯA
· VỢ CỐ THI SĨ HUY CẬN: HỠI EM YÊN LẶNG
· 'ĐIÊU TÀN' CỦA CHẾ LAN VIÊN - TƯ LIỆU VÀ DƯ LUẬN KHI VỪA RA ĐỜI
· NGƯỜI THẦY DẠY BÚP BÊ VÀ BÁN CHỮ
· BẠN HỌC LỚP HAI
· TÍNH HẬU HIỆN ĐẠI TRONG 'KHÔNG CÓ VUA' CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

 

  
Gia đình Bích Khê