DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
30 NĂM PHÁT TRIỂN 'TINH THẦN MỸ HỌC' CỦA THI CA TRUNG QUỐC

                                                 TRƯƠNG ĐỒNG NGÔ (Trung Quốc) - VŨ PHONG TẠO giới thiệu và dịch
 

Báo điện tử Hội Nhà văn Trung Quốc (www.chinawriter.com.cn), ngày 18-12-2008, truy nhập bài của nhà lý luận phê bình văn học Trương Đồng Ngô (quê cha đất tổ Lạc Đình, tỉnh Hà Bắc, sinh năm 1939, tại thành phố Cáp Nhĩ Tân. Hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc. Đã từng làm chuyên viên nghiên cứu Ban Nghiên cứu Sáng tác Hội Nhà văn Trung Quốc. Hiện là Tổng thư ký của Hội Khoa học thi ca Trung Quốc và của Bút hội Thi nhân Hoa văn Quốc tế. Đã xuất bản trên 10 bộ tác phẩm về lý luận phê bình văn hoc, tạp văn, thơ, truyện, v.v… Ba lần được Giải thưởng Sách ưu tú toàn quốc và Giải thưởng Tản văn ưu tú toàn quốc) phân tích tình hình phát triển của thẩm mỹ thi ca Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa.

 

Chúng tôi giới thiệu toàn văn bài nghiên cứu trên để bạn đọc tham khảo.

 

                                                      

 

                                                    ***

 

 

 

Hình thức nghệ thuật đặc biệt độc đáo và đặc trưng thẩm mỹ của thi ca, khiến cho nó trở thành cây đuốc của tinh thần thời đại và tiếng nói đầu tiên của phát triển văn hoá, đồng thời lại là ánh sáng khúc xạ của hình tượng cụ thể và trạng thái sinh tồn của tâm linh, vì vậy trong cương vực văn hoá rộng lớn, không có một hình thái văn hoá và dạng thức văn học nào có thể giống như thi ca, xoa dịu tâm linh của con người, gợi mở tư tưởng cho con người, bằng âm hưởng tình cảm mỹ diệu và nội hàm văn hóa phong phú.

 

 

 

Cho nên, không mảy may khoa trương và che đậy rằng, cuộn tranh thi ca của một thời đại, chính là hình ảnh thu nhỏ lịch sử tâm linh của một dân tộc. Khi chúng ta thâm tình nhớ lại những năm tháng đặc biệt của 30 năm cải cách mở cửa, thì cũng giống như thâm tình ôn lại những năm tháng đặc biệt của 30 năm thi ca Trung Quốc, tổng kết kinh nghiệm nghệ thuật của nó, nhằm đào sâu tìm tòi ý nghĩa quan trọng của sự nghiệp xây dựng văn hoá hài hoà và thế giới hài hoà.

 

 

 

Lịch sử tiến lên và thi ca trở về

 

 

 

Sau khi kinh qua một thời gian lâu dài cấm cố tư tưởng, vạn mã cùng hý và tâm linh uẩn khúc, cuối cùng các nhà thơ chúng ta đã chào đón thời đại mới mẻ cải cách mở cửa. Thời đại mới mẻ này đã phú cho những nhà thơ một cơ duyên và quyền lợi, dùng ánh mắt chân thực của mình để chăm chú quan sát cuộc sống, để ca ngợi hoặc khóc than những linh tính chân thực. Một luồng ánh dương sáng đẹp đầu tiên và một phong cảnh sáng đẹp đầu tiên trong lịch sử thi ca thời kỳ mới, là thi nhân trở về và thi ca trở về.

 

 

 

Những nhà thơ bị cầm tù, bị xua đuổi, bị bài xích, lũ lượt từ trong ngục tù bước ra, từ hoang mạc bước ra, một loạt lớn những nhà thơ nổi tiếng, như Ngải Thanh, Ngưu Hán, Lục Nguyên, Tăng Trác, Công Mộc, Công Lưu, Trương Chí Dân, Thiệu Yến Tường, Tôn Tịnh Hiên, Đường Kỳ, Đường Oanh, Trịnh Mẫn, Trần Kính Dung, Viên Khả Hạ, Lưu Sa Hà, v.v…khôi phục lại cuộc đời nghệ thuật, sáng tác ra rất nhiều bài thơ cảm động tâm can con người.

 

 

 

Hai bài thơ trữ tình dài của Ngải Thanh “Tán ca ánh sáng” và “Đấu trường cổ La Mã” là hai tấm bia toả sáng tứ phương đã thống nhất giữa tư tưởng và nghệ thuật trong lịch sử thi ca thời kỳ mới. Bài trước ôn lại lịch sử phát triển nhân loại, để nhận thức vai trò tác dụng của ánh sáng. Ông coi ánh sáng là tượng trưng của trí tuệ, tượng trưng của sức mạnh, tượng trưng của hy vọng, tượng trưng của sáng tạo, ông quất roi mãnh liệt vào bản tính của tất cả những hôn quân bạo chúa trong lịch sử đã điên cuồng mưu đồ lũng đoạn (độc quyền) ánh sáng, làm cho nhân dân ngu muội, kiên định chỉ ra bước đi tiến lên của loài người không gì ngăn cản nổi. Nhà thơ đem tính quy luật của lịch sử phát triển của lịch sử loài người liên hệ với cuộc tai hoạ dân tộc mà chúng ta vừa trải qua, từ đó mà chỉ tõ tính phổ biến của chân lý. Bài thơ sau là sự liên tưởng rộng lớn khi đứng trước đống đổ nát của lịch sử, khiến cho tình cảnh tàn khốc tàn sát lẫn nhau của những người nộ lệ bị chủ nô uy bức phải làm, trong chế độ nô lệ cổ La Mã, được hiện ra trong cõi tâm linh được ghi chép lại bằng kinh nghiệm cuộc đời của mình, tạo ra linh cảm lịch sử rất sâu sắc.

 

 

 

Tập thơ “Suối nước nóng” (ôn tuyền) của Ngưu Hán có thể coi là một thu hoạch mới khiến mọi người chú ý trên thi đàn thời kỳ mới, trong đó rất nhiều bài như “Hổ Hoa Nam”, “Truy điệu một cây phong”, “Sự ra đời của chim ưng”, v.v…đều là những tác phẩm kinh thiên động địa. Thơ của Ngưu Hán là những nhân tố bên ngoài của hình thái  sống và tính cách sống của ông đã hoà nhập vào khí chất tinh thần của ông trong ý tưởng của chim ưng và hổ, khí thế hùng tráng ấy, tình cảm lạc quan ấy, tâm linh theo đuổi tự do không tài nào trói buộc được ấy, đều đem lại cho mọi người sức chấn động thần kinh lớn mạnh.

 

 

 

Chùm thơ “Chuyện khuyến mãi ở Tây Đức” của Lục Nguyên là tác phẩm có sức mạnh biểu hiện phong cảnh văn hoá của nước khác, từ trong nhà thờ Byzantine ở Paderborn, cô gái Ngỗng ở Gottinggen, một pho tượng thiếu nữ ở Baldeessen, ngôi nhà cũ của Beethoven tại Bonn và quần thể đá quái dị ở khu rừng cổ xưa Germanic, mà thu nhận được linh cảm, dẫn đến cảm ngộ tư tưởng về chân lý vũ trụ và chân lý nhân sinh.

 

 

 

Mười năm đầu thời kỳ mới, Thiệu Yến Tường bằng thi tình tuôn trào đã liên tục xuất bản nhiều tập thơ “Ở phương xa”, “Tình ca tặng cho lịch sử”, “Mỉm cười từ biệt thập niên 70”, “Như hoa nở rộ”, “Tuyển tập trường ca trữ tình Thiệu Yến Tường”, v.v…Ông coi “mực đỏ phấn vàng là núi sông”, miêu tả khắc hoạ diện mạo của thời đại mới, lại hoà nhập vào chân dung tâm lý của mình, rất nhiều bài thơ ngắn tinh diệu, vừa có ưu tư bàng bạc, lại có tình cảm chấn phấn, sắc điệu vừa có âm ức, lại có sáng đẹp, đem lại cho mọi người cảm xúc thẩm mỹ sâu nặng và gợi mở nhiều giác độ về nhân sinh.

 

 

 

Công Lưu thì lại là một phong cách khác, một khí thế khác, những tập thơ của ông “Xa rời thảo nguyên”, “Cây xương rồng”, “Lạc đà”, “hoa trắng - Hoa hồng” đã giảm bớt những tình cảm phiêu dật thời nhỏ, đã tăng thêm trầm lặng và ngưng tụ, như những câu của ông: “Lịch sử đã trầm tư tại đây/ Lẽ nào tôi lại không trầm tư với giai đoạn lịch sử này?” (“Trầm tư”). Đứng trước bức tranh sơn dầu “Cha” của La Trung Lập, ông nguyện hoá thành “cái bát trong tay” cha, bằng ẩn dụ của ông đã biểu hiện ra tính cách văn hoá kiên nhẫn bao dung của dân tộc Trung Hoa.

 

 

 

Từ giản thuật những hạt nước trong biển cả trên, chúng ta có thể nhìn ra lịch sử bằng giác tỉnh của mình để chỉnh sửa những sai sót lầm lẫn của mình, các nhà thơ bằng giác tỉnh và tâm linh của người tiên tri, mà tự giác phê phán cái chân thực hư giả, âu ca tính phong phú của Chân Thiện Mỹ. Đây là giải trừ hỗn loạn lấy lại trật tự với ý nghĩa chân chính trong lĩnh vực văn hoá, làm cho thi ca từ trong thể thức ca tụng đơn nhất được giải phóng ra, bước lên con đường sáng tác rộng lớn.

 

 

 

Thực ra không phải sự trở về của nhà thơ mà làm cho thơ ca trở về, cũng không phải là do sự trở về của thơ ca mà làm cho thi nhân trở về. Đây là bước nhảy vọt mang tính lịch sử từ lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh đến lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm. Cải cách mở cửa đã giải phóng lực lượng sản xuất, cũng đã giải phóng sáng tác văn học, các nhà thơ mới có cơ duyên trở về với bản chất của thơ. Đúng như Lỗ Tấn đã nói “thơ là hơi trưng cất của máu”, “là âm thanh thật phát ra khi người ta tỉnh lại”. Một thời đại mới rợi khiến cho thi ca sống lại, chẳng  những khiến cho những nhà thơ cao tuổi đã chịu bao đoạ đầy khôi phục tuổi thanh xuân nghệ thuật, mà một loạt lớn những nhà thơ trẻ cũng trưởng thành nhanh chóng như măng mùa xuân sau cơn mưa, như thi phái biên trại mới mà đại biểu là Chu Đào, Dương Mục, Chương Đức Ích; như thi quần quân đội mà tiêu biểu là Lý Anh, Chu Tăng Tuyền; như những nhà thơ nữ mà tiêu biểu là Thư Đình, Phó Thiên Lâm, Lý Tiểu Vũ, Lý Kỳ, Cù Vĩnh Minh, đều bằng phong cách của mình, biểu hiện thời đại rực rỡ sắc màu.

 

 

 

 Tạp chí Thơ” (Thi san) tổ chức Hội thơ trẻ lần thứ nhất, 17 ngôi sao mới bằng luồng sáng chưa từng có rọi chiếu sáng choang thi đàn Trung Quốc. Trong tác phẩm của những nhà thơ ấy đã xuất hiện tính mơ hồ trong ý tưởng, bị mọi người gọi một cách nôm na là “Thơ mông lung”, đặc trưng mỹ học mới này, đã dẫn đến thảo luận lớn trên thi đàn, mở rộng tầm nhìn thẩm mỹ của mọi người, làm sống động tư tưởng sáng tác của nhà thơ, đã sản sinh ảnh hưởng quan trọng với sự phát triển của thi ca sau này. Diệp Diên Tân có hai câu thơ giầu triết lý: “cây dân tộc xanh tươi mãi mãi”, “Hồn quốc gia tỉnh lúc tinh mơ”. Đúng thế, buổi tinh mơ của lịch sử khiến cho hồn thơ tỉnh lại, hát ca cho thời đại, nhà thơ cũng hát ca cho mình.

 

 

 

Tinh thần thời đại và định hướng giá trị

 

 

 

Trong 30 năm này, tầm nhìn văn hoá và cương vực tâm linh của nhà thơ đang không ngừng mở rộng, mọi loại phát hiện thẩm mỹ đều thông qua thủ pháp biểu hiện khác nhau mà hoàn thành hình tượng thẩm mỹ cụ thể, từ tình cảm yêu nước đến vận mệnh con người, từ tình yêu quê hương đến chốn về của tinh thần, từ gốc gác lịch sử đến đến ngọn nguồn văn hoá, từ cục hạn nhân sinh đến giá trị cùng cực, từ chân lý ái tình đến gốc gác nhân tính, từ tập tục luân lý đến tư biện triết học, không có thứ gì là không hoà tan trong tình ý của thơ. Điều này chứng tỏ: Thơ chỉ vì nó là hình bóng của tâm linh, mới có thể nghe được chân xác hơn những hồi âm của thế giới; Thơ chỉ vì nó là thiên sứ của tâm linh, mới có thể chuyển tải tâm hồn phóng khoáng không bị trói buộc; Thơ chỉ vì nó là tia lửa toé ra khi chủ quan và khách quan ôm chầm lấy nhau, mới có thể chiếu rọi ngõ ngách của lịch sử lâu dài và  hành lang nhân sinh khúc chiết, bằng thứ ánh sáng bỏng rát con người; Thơ chỉ vì nó là sự bay bổng nhảy vọt từ cảm giác đến trí tuệ, mới có thể hoàn thành sự thăng hoa từ cảm tính đến lý tính.

 

 

 

Trường ca của Lý Anh “Trung Quốc của tôi” có thể xem là bản ghi chép trầm tư về lịch sử tư tưởng sâu sắc, lịch sử phát triển văn hoá với tầm nhìn rộng lớn, một bức tranh về diện mạo thời đại rực rỡ sắc màu và bài thơ giao hưởng anh hùng tráng khí sơn hà. Bằng sức xuyên thấu của ánh mắt triết nhân và sức hội tụ của văn hoá thi học, ông nghĩ đến tháng Mười thứ 50 của nước Cộng hoà: “Đứng thẳng giữa mặt trời và mặt đất/ con số 1 xán lạn/ là cây bách cổ thụ viễn cổ ta tự tay trồng/ sau đày đoạ hoá thành xương sống của dân tộc/ sơn hà mênh mang/ toàn dựa vào bàn tay nâng đỡ của nó”. Đem huy hoàng ngày nay thống nhất với tinh thần dân tộc, từ đó mà suy ngẫm đến sự phục hưng dân tộc hôm nay có một ngọn nguồn văn hoá sâu thẳm kéo dài như thế nào. Ông miêu tả lại diện mạo của thời đại cải cách mở cửa bằng mực đậm, biểu hiện ra “Trung Quốc ngàn vạn năm phong trần/ chiếc cổng sơn hồng đóng bằng những chiếc đinh đồng cực đại/ được mở ra”, khiến cho “tiếng sóng vỗ bờ, hình sóng lăn tăn, đại khí thanh tân và/ gió biển xanh trên đại dương/ nhất tề đổ ào vào”, từ đó mà rút ngắn cự ly giữa Trung Quốc với thế giới. Trong đó, ông đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh vật chất khổng lồ sản sinh do biến đổi của kết cấu tâm lý của con người và sự khai mở tầm nhìn của văn hoá, để những nhà tư tưởng của toàn thé giới đến nhận thức bước nhảy vọt mang tính lịch sử của dân tộc Trung Hoa, cung cấp kinh nghiệm tươi mới cho văn minh và lịch sử loài người tiến lên phía trước.

 

 

 

Cải cách mở cửa là chủ đề hùng vĩ của thời đại, cũng là mạch sống tinh thần của thời đại. Điều này chẳng những khiến cho đời sống xã hội sản sinh ra biến cách quyết liệt, mà cũng thôi động phương thức tư duy của mọi người, từ định hướng giá trị, quan niệm lịch sử, ý thức thẩm mỹ cho đến hành vi đều phát sinh thay đổi biến thiên.

 

 

 

“Ông già và biển cả” của Lưu Sa Hà là bài thơ ca tụng Đặng Tiểu Bình, người khổng lồ về tư tưởng và vĩ nhân thế kỷ, xuất hiện sớm nhất. Bài thơ đã cải biến thể thức tụng ca truyền thống, mà là miêu tả vẻ an nhàn của Đặng Tiểu Bình bơi lội trên bãi biển, bằng nét bút ung dung thuần phác, không có sự cuộn sóng kiểu hô núi hào biển, không có cảnh vệ cảnh giới thâm nghiêm, ông ta xuất hiện trong công chúng bình thường với hình tượng ông già bình thường, mà nhân dân sùng kính và mê say ông lại tự nhiên. Nhà thơ đã phú cho cảnh “bơi lội” mang tính tượng trưng, ông ba lần bị quăng vào “biển khổ”, ông ta tất nhiên phải tập “bơi lội” lại. Vào giờ phút then chốt quốc gia hưng vong và vận mệnh cá nhân ông kề bên tuyệt duyệt,  là lúc nhân dân “dùng lương tâm nói liền lương tâm/ kết thành chiếc phao cứu sinh/ dùng vạn vạn cánh tay nâng cao/ cứu ông ta/ông già sắp bị diệt ấy”. Nhà thơ đã bóc tách những lớp bụi thần thánh hóa con người theo thuyết duy tâm chủ nghĩa, khẳng định lại thế giới quan duy vật chủ nghĩa – là nhân dân sáng tạo lịch sử mà lâu nay chẳng phải là “đại cứu tinh” gì cả. Một thời đại khai minh, mới có thể phú cho nhân cách độc lập của nhà thơ, khiến cho họ từ cương vực cuộc sống rộng lớn đi phát hiện bản chất của chân lý.

 

 

 

Bình minh thứ 57” của Triệu Khải là một giai tác biểu hiện đặc trưng tâm lý và quan niệm giá trị của người đương đại, đã từng sản sinh ảnh hưởng xã hội rộng lớn. Ông nắm chắc hoàn cảnh sinh hoạt của một nữ công nhân sau khi nghỉ đẻ, đã biểu hiện sự ấm áp của xã hội, lại biểu hiện những chua xót của cuộc sống, mà phần kết của bài thơ là sự ngưng tụ và thăng hoa nghệ thuật của quan niệm giá trị và quan niệm lịch sử mới mẻ: Ông đã nhìn thấy “trước đội nghi lễ quy mô quốc tế/ xe nôi của chúng tôi nghiêm trang hành tiến”. Thế là, nhà thơ đã sản sinh phương thức tư duy giống tư tưởng truyền thống và sự phán đoán thẩm mỹ trái ngược với định hướng giá trị: “Bảo tàng lịch sử đứng nghiêm uy nghi, /Bia kỷ niệm anh hùng đứng nghiêm uy nghi,/ Hội trường nhân dân đứng uy nghi: /Bánh xe nôi quay, / Chính là linh hồn của dân tộc Trung Hoa!”

 

 

 

Trong năm tháng lịch sử lâu dài đằng đẵng, chúng ta đã hình thành một tâm lý văn hoá định thế hoá, quen nhớ phồn hoa và vinh quang của ngày xưa, bắt buộc mình phụ trách trước thế hệ trước, nhưng lại nhạt nhoà trách nhiệm với hiện thực và kỳ vọng với tương lai. Thơ của Triệu Khải là là sự phản bác loại tư duy và ý thức truyền thống này, biểu hiện đặc trưng tâm lý và định hướng giá trị của con người đương đại.

 

 

 

“Ngọn cỏ li ti đang ca hát” của Lôi Trữ Nhạn có thể sản sinh phản ứng mãnh liệt trong xã hội, chính là bởi vì nó đã tiếp xúc đề cập đến bản chất của bi kịch lịch sử. Trong “Ngọn cỏ li ti đang ca hát”, ý nghĩa của sự tự nhìn nhận và sự tự phán đoán của nhân vật chính trữ tình, không chỉ chứng minh sự giác ngộ tỉnh tảo của con người, mà còn đặt con người vào trong quá trình lịch sử mà thẩm thị công tội của lịch sử, nếu nói, chúng ta đã hiểu được rằng có lịch sử như thế nào thì sẽ có con người như thế ấy, thế thì chúng ta từ trong “Ngọn cỏ li ti đang ca hát” đã lý giải: Có cin người như thế nào, thì sẽ có lịch sử như thế ấy.

 

 

 

Ý thức nhân loại và hào quang nhân tính

 

 

 

Từ khi bước vào thời kỳ mới đến nay, thi ca ngày càng xây dựng ý thức mạnh mẽ hơn, ý nghĩa tầng bậc sâu sắc của nó ở chỗ bản chất tinh thần mà nó bao dung là phát huy cao độ chủ nghĩa nhân đạo, thâm hoá ý thức lịch sử và truyền tải văn hoá, cũng bao hàm sự trọng vọng mô thức nhân cách. Quá trình sáng tác của Thư Đình từ “Gửi cây đa” đến “Đỉnh Nữ thần”, đã triển khai biểu hiện tinh thần nhân cách và phán đoán giá trị mới mẻ trong quan niệm văn hoá thay đổi. Chỗ đáng quý của bài thơ trước là xung phá tâm lý dựa dẫm do ý thức truyền thống xâm nhiễm, đã biểu hiện nhân cách độc lập mà phụ nữ cần có, mà nói về “bản chất tình cảm”, vẫn chưa thoát ra khỏi mô thức hôn nhân và chọn lựa lý tính theo kiểu “hai bánh xe chạy song song”. Còn bài thơ sau là sự đột phá mạnh bạo về quan niệm tình yêu. Bằng sự kết hợp ý tưởng mới mẻ, chị đã ám thị tình yêu trung trinh là tốt đẹp, song sự tuân thủ vô điều kiện lại là sự giết chết tình yêu. Nên theo đuổi tình yêu chân thực, không kể lâu dài hay ngắn ngủi, đều sung túc trân quý.

 

 

 

Chèo đi, chèo đi, hỡi những ông bố” của Xướng Diệu có thể nói mở rộng cuộn tranh thu nhỏ tiến lên của loài người trong gian nan, lại là bài tráng ca lấy hiện thực làm điểm tựa lao tới tương lai. Ông lấy biển cả, bão tố, người lái đò và mái chèo làm ý tưởng chủ thể, biểu hiện có máu có thịt sự bạo ngược của sóng gió, cũng nâng đỡ sự ngoan cường của sinh mệnh và ý chí. Bối cảnh nhân văn mênh mông và hình thái tinh thần sống động, đều lấy phương thức ý tưởng được bao dung và thích phóng, biểu hiện ra không khí thời đại lớn và bản lĩnh thi nhân lớn.

 

 

 

Chu Tăng Tuyền là nhà thơ quân đội kiệt xuất đương đại Trung Quốc, tập thơ của anh “Quả đất là một giọt nước mắt”, tầm nhìn tư tưởng, ý nghĩa triết lý và nội hàm văn hoá của nó, đều vượt qua những bài thơ quân đội với ý nghĩa thông thường, nó đã thể hiện ra tinh thần thời đại và ý nghĩa nhân loại trên bản chất thi học có chiều sâu hơn. Anh đã đưa tình cảm yêu nước của quân nhân hoà nhập thành một thể thống nhất với suy ngẫm về vận mệnh của loài người, đưa tinh thần hiến thân của quân nhân và ý thức tham dự xã hội của con người đương đại cấu thành thước đo giá trị mới mẻ. Ảnh hưởng khác thường của tập thơ của anh là ở chỗ, vừa có thể dùng ánh mắt thế kỷ phân biệt công tội lịch sử, lại có thể bằng lương tri của nhà thơ lắng nghe tiếng cười tiếng khóc của vạn dân; Không kể là đưa tầm mắt vào chiến tranh hay hoà bình, vẫn là suy ngẫm về đen tối và ánh sáng, vừa tràn đầy niềm tin vào tương lai, lại chất chứa ý thức ưu hoạn, chỗ nào cũng loé sáng cảm ngộ và ánh sáng siêu việt. Trong đó, bài thơ “Mùa đông, tôi nhớ nhung binh sĩ khắp nơi” thể hiện tươi mới hơn tinh thần nhân đạo chủ nghĩa: Chỉ có những quân nhân đã trải qua chiến tranh, mới lý giải tội ác của chiến tranh, “cây súng tuy hạ xuống, vết thương trên cơ thể / lại đau ê ẩm ngày âm u”.Tôi đặc biệt thích câu thơ như thế này: “Phàm là những binh sĩ đã đánh trận/ Tôi nghĩ, đến khi họ tuổi cao xế chiều/ Nhất định có một ý nghĩ mãnh liệt/ Muốn đi tìm những đối thủ ngày xưa bắn giết lẫn nhau/ May mà không chết/ bù khú một chuyện: Chiến tranh, hoà bình, nhân sinh/ Thuận tiện bàn luận thế giới này, cũng bàn luận gió mây trên trời”. Mười năm trước, ông vừa xuyên qua hành lang cuộc sống máu lửa trên chiến trường nam cương, thần sắc vẫn bình tĩnh như thế, khí độ vẫn an tường như thế, mà không phải là tính tạm thời của lịch sử siêu việt, liệu có thể tiến vào bầu trời của triết học mênh mang.

 

Chúng ta cảm thấy rõ ràng, theo đà tiến lên của lịch sử và lưu biến của văn hoá, ngày càng nhiều những nhà thơ đã chán ngấy và vất bỏ cách miêu tả một cách cứng đơ cuộc sống và tán dương suông sáo rỗng cuộc sống, mà hoà sâu vào nội hàm văn hoá trong xây dựng ý tưởng, sáng tạo ra những khoảng trời mảnh đất mỹ học chan hoà giữa chân thực và mộng ảo.

 

 

 

Sau khi bước vào thập niên 90 của thế kỷ trước, Lý Tiểu Vũ vẫn giữ vững được những lãng mạn nhiệt liệt của thời “khăn quàng đỏ”, đồng thời lại tăng thêm suy ngẫm sâu thẳm và tình cảm sâu nặng, thể hiện giá trị của con người bằng phương thức của con người: “Muối nổ lép bép trong huyết dịch của ta/ Muối nổ lép bép trong xương cốt của ta/ Muối chảy xuống từ khoé mắt và lỗ chân lông của ta/ Ôi con người! Người nhỏ bé đứng thẳng trước biển cả”.

 

 

 

Chùm thơ của Nhậm Hồng Yên “Bốn người đàn bà” viết về Ngu Cơ, Giản Địch, Bao Tự và vợ Trang Tử. Ông không đề cập đến lịch sử thật giả và giá trị lịch sử, mà xuất phát từ bản chất gốc gác đàn bà mà thăm dò khám phá một loại tâm lý văn hoá phức tạp và bất biến từ xưa đến nay: Tại vì sao “Tiếng leng keng đâm chém giữa gang thép với đồng đen/ cứ bám chặt trong bài ca của nàng”? Tại vì sao “Nàng là bờ/ Không qua Giang Đông/ lại là Giang Nam”? Tại vì sao “không chôn vùi đầu lâu giáp trụ chiến mã/ Chỉ có hai hàng nước mắt/ hàng năm nở hoa Hạnh”? (“Ngu Cơ”) Tại vì sao “nàng hễ cười bèn khiến “từng lùm hoa bất thường nở ra phong hoả”? Tại vì sao nàng hễ cười là “làm bỏng mặt trời, làm chảy mặt trời”. làm cho “tinh vân hỗn loạn” và “máu ông già tan biến thành than hồng? (“Bao Tự”) Nhà thơ vô ý bình luận song hữu ý dẫn mọi người suy ngẫm: Tại vì sao sự khôi ngô và cương nghị của đàn ông lại bị hoà tan trong vẻ kiều diễm ma mị của đàn bà đây? Tại vì sao bi kịch trong hiện tượng sống lại có tính vĩnh hằng? Tại vì sao cái đẹp tàn khuyết lại được người đời theo đuổi ngưỡng mộ hơn cái bình thường hoàn chỉnh?

 

 

 

“Cảnh giác với ánh trăng” của Lý Tùng Đào lấy câu chuyện bi kịch của Điêu Thuyền là tuyến chính, lại phú cho nhân vật một nội hàm văn hoá mới, biểu hiện sự dích dắc của văn hoá phụ nữ trong sợi dây công danh lợi lộc, phải chăng còn là sự phê phán tính hạn chế của tâm lý đàn ông. Ông oán than tại vì sao “tính” và “mệnh” vừa hoà hợp lại phân liệt, tại vì sao “Trong hàn khí, trong sát khí, trong huyết khí/ luôn luôn toả ra mùi phấn son/ Đạt quan hiển quý lần theo mùi hương thơm mà chui vào vòng nhẫn”, thế là “không nhìn thấy đường vào triều, / tìm không ra đường về nhà”, tiến sâu bóc trần sự thật thế này: Khi “máu của đàn bà nhuộm đỏ ráng chiều”, từ đó khiến cho “máu đầu đàn ông nhuôm đỏ ráng bình minh”, mà một mặt khác của sự vật lại là “ai nắm mặt trăng tối nay / nắm mặt trời ngày mai là ai đây”. Chỗ sâu sắc của bài thơ dài này là ở chỗ thực không phải là bóc trần sự khác biệt về tâm lý khác nhau của giới tình, dẫn đến anh hùng thiên cổ bị tiêu vong tan biến trong nữ sắc, mà hy vọng chúng ta đi tìm tòi “trời đất ôm nhau--/ nguyệt quang đắng cay đi tìm chữ trinh cuối cùng, / tâm quang chiếu rọi si tình rớt lại”, đây mới là thánh cảnh của tình yêu.

 

 

 

Sự quật khởi của thành thị là kỳ tích của trí tuệ nhân loại, là một cuộc cách mạng của phương thức sinh tồn nhân loại, đúng như một câu danh ngôn thịnh hành ở phương Tây: “Cách mạng nông nghiệp khiến cho thành thị ra đời trên thế giới, cách mạng công nghiệp thì khiến cho thành thị làm chúa tể thế giới.” Thành thị là một khu vực kinh tế, cũng là một loại không gian văn hoá, nhân loại càng tiến bộ thành thị càng phồn vinh. Song, thành thị lại là một con dao hai lưỡi, mặt kia của nó là nhân khẩu tăng lên nhanh chóng, môi trường ác hoá xấu đi, giao thông ùn tắc, nhà ở căng thẳng, đạo đức mất cân bằng và văn hoá thế tục (tầm thường) hoá, những cái này đều gây sức ép đến tâm linh con người, nặn bóp tính linh con người, một cách nghiêm trọng.

 

 

 

Đà Anh là một nhà doanh nghiệp nổi tiếng, có cống hiến đáng quý cho công cuộc xây dựng thành thị, song là một nhà thơ, ông lại am hiểu tính đa nghĩa của thành thị với tư cách là một kiểu văn hoá có không khí và đặc trưng. Tập thơ “Lang thang đô thị” của ông lấy nhà cao tầng, đèn đường, xi măng và cầu cống, v.v…làm ý tưởng chủ thể, khắc hoạ ra một khía cạnh của đời sống thành thị, biểu hiện ra thành thị với tính quy phạm, tính hằng định và trình thức hoá của nó, mà hình thành gông cùm pháp định, vì vậy mà dồn nén tâm linh nặn bóp nhân tính. Rất nhiều câu thơ của ông khiến người đọc kinh hồn bạt vía: “xe ùn tắc như bọ ngựa quét thành phố”, “người với người bên ngoài cửa xe xa gần/ như xe tù giữ lại trong sân thi đấu” (“Bọ ngựa thành thị”). Nơi ở trong thành phố ghép bằng những khuôn cửa kính, cái không cầu dấu kín thì dấu kín, cái không nên trong suốt thì lại trong suốt, “Cửa/ bị cửa cấm đóng/ cửa / bị cửa liên thông” ( “Cửa”).  Trong cuộc sống thành thị, ông cảm thấy đơn điệu và tẻ nhạt, cũng hoảng sợ về sinh mệnh cá thể và tiêu vong cá tính: “Đèn đường/ đến chiếu tôi/ đêm nay/ tôi sẽ say dài bất tỉnh/ người hoảng sợ/ mau rời khỏi tôi mà đi/ Ngõ hẻm này/ đã làm tôi điên cuồng không yên/ hết cách chạy thoát/ phố phố giống nhau/ người trên đường/ đều bước gấp/ nam lạnh nhạt/ nữ giá băng/ không ai để ý đến tôi/ cái bóng cúi dài” ( “Đèn đường”). Đà Anh dùng tư duy hai chiều biểu thị sự quan hoài cùng cực và lý tưởng nhân văn của ông, một mặt biểu hiện ra nỗi bất bình trước môi trường sinh tồn bóp chết tự do, mài mòn cá tính, đồng thời lại biểu hiện ra lòng ngưỡng vọng của ông đối với môi trường hài hoà giữa con người và thiên nhiên, mà văn hoá điền viên là tượng trưng.

 

 

 

Trong lịch trình phát triển của thơ mới đương đại Trung Quốc, không có khi nào giống như 30 năm gần đây, các nhà thơ có thể tự do thoải mái biểu hiện tình cảm quan tâm của mình, biểu hiện cá tính thẩm mỹ đặc biệt độc đáo của mình, biểu hiện sắc thái cá tính của mình. K. Marx  có nột câu danh ngôn vô cùng sâu sắc, mà lâu nay bị coi thường. Ông nói: “Chúng ta phải đem nội dung mà tôn giáo tước đoạt mất - nội dung con người, nội dung không phải là thần thánh gì cả - trở về với con người, cho con người, cái gọi là trở về chính là kêu gọi sự tự giác của họ. Chúng ta phải thanh trừ tất cả những sự vật tự gọi mình là siêu tự nhiên và siêu con người, từ đó mà thanh trừ hư vị, bởi vì con người và cuồng vọng với sự vật của thiên nhiên trở thành dã tâm siêu nhân và siêu tự nhiên chính là căn nguyên của tất cả hư vị và nói dối. Chính vì vậy, chúng ta mới vĩnh viễn tuyên chiến với tôn giáo và quan niệm tôn giáo.” (“Marx Enghen toàn tập”, quyển 1 trang 651, bản Trung văn). “Tôn giáo” và “quan niệm tôn giáo” mà Marx chỉ ra, tức là chỉ mọi quan niệm lý luận do con người tạo ra trong phong trào tạo thần, và vì tình cảm tâm lý của nó mà hình thành tôn sùng làm theo những quy phạm hành vi của những quan niệm lý luận ấy. Theo đà giải phóng của con người mới có sự trở về của nhân tính, một thời đại văn minh tươi đẹp đã đánh thức sự tự giác của con người, thế là có sự tự giác của thơ.

 

 

 

Cục diện sáng tạo đa nguyên bổ sung cho nhau

 

 

 

Thi ca là mỹ học lưu động, đặc trưng thẩm mỹ của nó cũng nên phát triển theo sự phát triển của thời đại, những nhà thơ dấn thân vào thời kỳ mới của lịch sử tất nhiên sẽ suy ngẫm lại về bản chất của thơ, khai quật lại mỹ học còn ẩn dấu tàng trữ nơi sâu thẳm của tình cảm, để tập trung thị giác nhìn nhận chiếc cầu vồng thời đại được phản ánh khúc xạ trong tình cảm cá nhân rực rỡ. Thế là bèn từng bước hình thành một cục diện sáng tác thi ca mới mẻ: Đây bèn là sự cùng tồn tại của tính đa dạng của thẩm mỹ và tính xu hướng của phát triển đặc trưng thẩm mỹ. Cái gọi là tính đa dạng, chủ yếu chỉ phong cách nghệ thuật, thủ pháp biểu hiện và phương thức sáng tác là đa dạng, từ đó mà đả phá tính hẹp hòi định kiến nhất tôn được sản sinh do mô thức tư duy bó chặt, để có thể đi phát hiện cái đẹp tươi mới và cái đẹp đa dạng trong một thế giới vật chất và thế giới tinh thần rộng lớn hơn, có chiều sâu hơn. Nói cụ thể một chút, về đề tài vừa có thể miêu tả những bức tranh của cuộc sống hiên thực, lại vừa có thể thăm dò thám hiểm những bí ẩn của thế giới nội tâm; Về phong cách vừa có thể lên gân, hào phóng, bi trámg, thô ráp, nhiệt liệt, hùng hồn, sơ khai dân dã, lại có thể uyển chuyển, mềm mại tế nhị, tĩnh lặng, chậm rãi, ai oán; vừa có thể phác tố, lại có thể diễm lệ; Về hình thức nghệ thuật, vừa có thể viết thơ tự do, cũng có thể là thể cách luật hoặc thể bán cách luật, vừa có thể lược âm cũng có thể không lược âm, vừa có thể có tiêu điểm lại có thể không tiêu điểm, vừa có thể kế thừa khá nhiều kỹ xảo và tình âm của thi từ cổ điển, cũng có thể hấp thu khá nhiều kinh nghiệm nghệ thuật của thi ca phương Tây. Cái gọi là tính xu hướng, là chỉ từ khi cải cách mở cửa đến nay, các nhà thơ từng bước nhận thức đến phù hiệu ý tưởng nên bao dung nội hàm tinh thần và nội hàm văn hoá phong phú hơn, làm cho thơ khu biệt với hô hào trống rộng và trữ tình nói thẳng, đối với truyền đạt triết lý không còn là cảnh cú và cách ngôn, mà là biểu hiện chân lý cuộc sống và sự phát hiện mới mẻ về bí mật của tâm linh.

 

 

 

Các nhà thơ càng thêm chú trọng đến tính hàm xúc cảm giác không linh của ý tưởng. Xướng Diệu là một nhà thơ có trình độ nghệ thuật rất cao, ông biểu hiện sự nhìn nhận thế giới đã biết và tìm tòi thế giới chưa biết một cách phong phú và thần kỳ, thế là thế sự tang thương, bi hỉ nhân gian đều có thanh có sắc có ca có khóc dưới ngòi bút của ông, khiến người đọc cảm thán, khiến người đọc tư ngộ.

 

 

 

Thơ của Hàn Tác Vinh thường thường tái tạo ý tưởng mới mẻ trong thế giới cảm giác, “Tuyết đầu mùa năm 1988” chỉ là nắm bắt được cảm giác của tuyết rơi, không ngừng nhắc lại “tuyết rơi xuống”, “trên màu xanh lạnh của cây thông trên tháp, trắng phau/ bị chà đạp trong bùn đất, đen”, Tựa hồ không có ngụ ý sâu hơn, thế mà lại dư vị vô cùng. Bài thơ “Bướm mà không phải bướm” của ông chỉ là biểu hiện cái mỹ lệ đầy sắc thái sinh mệnh, khi nó mất đi bóng dáng, “Thế giới khổng lồ/ vì mất đi một con bướm mà trống rỗng”, ý thức sinh mệnh thâm áo như vậy có thể dẫn đến tình cảm yêu thương nồng cháy của chúng ta đối với sự sống, đều là cực kỳ sâu sắc.

 

 

 

Những ý tưởng trong thơ của Cát-Địch-Mã-Gia giống như những người dân tộc thiểu số trong đêm đầy sao sáng ca múa bên sông Hoả Đường, vì nó kỳ bí mà bi tráng, vì nó bôn phóng mà sán lạn, vì nó cổ phác mà mỹ lệ; Dòng sông màu đen, dặng núi cao ngất lạ kỳ, cây đuốc cháy rừng rực, ánh trăng màu bạc, thầy cúng thần bí, người đi săn anh dũng, khúc ca dao cổ xưa, khúc tình ca lai láng, chẳng những là hình tượng cụ thể của phong tình dân tộc, mà còn là totem được đúc luyện bằng mạch máu của văn hoá dân tộc.

 

 

 

Trung Quốc là đất nước của thơ ca, những ngôi sao trên bầu trời thơ sán lạn, trong những năm tháng dài đằng đẵng, đã từng ra đời vô số nhà thơ tài tình trác tuyệt, bằng tưởng tượng thần kỳ, cấu tứ linh diệu, ngôn ngữ thậm tinh và ý cảnh ưu mỹ, họ đã sáng tác ra vô số bài thơ cảm động tâm can mọi người. Mạch sống văn hoá và mạch sống tinh thần của thi từ cổ điển Trung Quốc đều bắt nguồn từ dòng sông văn hoá của dân tộc Trung Hoa, vì thế mà nó có thể làm cho thời gian và không gian, hữu hình và vô hình, cụ thể và trừu tượng, giản đơn và phức tạp, đều được hoà tan trong ngôn ngữ giàu nhạc cảm. Thi âm cổ điển bác đại tinh thâm, thâm tàng chất dinh dưỡng tinh thần và chất dinh dưỡng nghệ thuật phong phú, chúng ta gọi thi từ sáng tác theo phạm thức mỹ học, trình thức biểu hiện và cách luật của thi từ cổ điển là thi từ cựu thể.

 

 

 

Sáng tác thi từ cựu thể từ khi bước vào thời kỳ mới đến nay vẫn hưng thịnh chưa hề giảm, hơn nữa ngày càng phồn vinh thịnh vượng. Phù hiệu ý tưởng và kết cấu của thi từ cổ điển, đều cách rất xa đời sống và ngữ cảnh đương đại, đều cách rất xa kết cấu tâm lý và ý thức thẩm mỹ của con người đương đại, vì thế dùng thi từ cựu thể để biểu hiện cuộn tranh thời đại, thật vô cùng gian nan, song vẫn không thiếu những tác phẩm xuất sắc (giai tác).

 

 

 

Tác phẩm của các đại gia thi từ với đại biểu là Lưu Chinh, đều được người đọc thích thú bằng công lực sâu đậm và tình âm mỹ diệu. “Di cảo thi từ Mã Khải” chính là những tác phẩm tinh thâm khó có, trong rừng ý tượng sặc sỡ sắc màu của ông, hàm chứa tình cảm yêu nước, lý niệm triết học, kiến giải nhân sinh, định hướng giá trị, lý tưởng thẩm mỹ của ông, đồng thời lại biểu hiện một cách thâm trầm tinh thần nhân cách và tình cảm đạo đức cao thượng. “Mặt trời đỏ” (hồng nhật) trong con mắt của ông là tráng quan xiết bao: “đỏ liền đỏ,/ xanh liền xanh,/ tim tím hừng đông chiếu rọi núi sông”, Nó là “Lên, / cũng chói chang, xuống, ? cũng chói chang”, chính là tượng trưng của hoài bão to lớn. Mà “Trăng sáng” (minh nguyệt) lại đàm nhã xiết bao: “Trắng phau không tì vết, / chất phác không loè loẹt, / khẽ khàng đến lặng lẽ vô giá”. Mà “Người tự do” thì là “Bạn cùng mùa xuân,/ tưới cho hoa nở, / chỉ tăng thêm sắc mới cho sơn hà. /Thử hỏi có tự tồn tại hàng ngày?/ tên,/ cũng bên ngoài bản thân; Lợi, / cũng bên ngoài bản thân”. Giản ước ngưng luyện như vậy, mà lại giải thích chân lý của sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, sự hài hoà giữa con người và xã hội.

 

 Tán ca sông Phú Xuân” của Hạ Kính Chi tuy “không câu nệ cựu luật”, nhưng lại có thể coi là thơ chuẩn cách luật: “Tư tưởng chưa đủ, ý tưởng chưa đủ, lại nhìn hai tàng mây muốn hô to: / Nghiêm công mời Nhậm công đi câu, /nước mắt cảm ơn rửa mặt trời sao sớm”, đúng là cựu điển tân đúc, cao nhã chíh khí; “Trên sông Phú Xuân Nghiêm Lăng lười biếng, đài Tây Bình bên đài Đông Điếu/ tôi đến ngắm cá, cá ngắm tôi; / cây liễu duyên phận gì mà đến”, giống như người xưa “tôi nhìn núi xanh tươi đẹp, liệu núi xanh có nhìn tôi như vậy không” chính là tuyệt cảnh siêu nhiên người chan hoà với vật, vật và người lại không quên nhau.

 

 

 

Thơ Mới là sản phẩm của thời đại phát triển và văn hoá lưu biến, có sức sống nghệ thuật lớn mạnh; Thi từ cựu thể bằng phạm thức mỹ học và phương thức trữ tình của nó càng trực tiếp kế thừa truyền thống thi từ cổ điển, thơ tân thể và thơ cựu thể bổ sung lẫn nhau, tham khảo lẫn nhau, cùng sinh ra cùng phản ánh, từ trên phương thức nghệ thuật đã hình thành cục diện sinh động cùng nhau tồn tại, đây là hiện tượng văn hoá đáng mừng chưa từng có từ phong trào văn hoá mới “Ngũ Tứ” đến nay.

 

 

 

Do ý thức cạnh tranh và xu thế vật chất hoá ngày càng mạnh mẽ, cũng do nhu cầu của con người với nhiều loại văn hoá, còn do nguyên nhân của tự thân thi ca, nên nhiệt tình của mọi người với thơ có phần nào giảm yếu từ sau khi bước vào thập niên 90 của thế kỷ trước. Nhưng những lời lẽ chê bai châm chọc như “trầm mạc tĩnh mịch”, “ngày càng ra rìa” mà dư luận rộng rãi xã hội lên tiếng, đều không thể khái quát toàn diện xu thế trạng thái sáng tác của thi ca. Trong sáng tác thơ mới, đích xác xuất hiện xu hướng ý tưởng nhạt nhoà, trình độ kém cỏi, chủ đề hao hao, ngôn ngữ bình thường tẻ nhạt và tình cảm tự yêu mình, tự đề cao mình quá đáng, cũng đích xác làm tiêu hao giảm nhẹ sức cảm hoá của thơ, khó mà dẫn đến cộng hưởng tâm linh của mọi người. Nhưng, thơ là ánh sáng của sinh mệnh, cũng là đoá hoa của thanh xuân, nó vĩnh viễn không thể bị tiêu diệt tiêu vong, không thể khô héo tàn lụi.

 

 

 

Cần đặc biệt đề cập đến là: Năm 2008 đối với dân tộc Trung Hoa là một năm đại bi thống và đại hỉ khánh đan xen với nhau.

 

 

 

Động đất Vấn Xuyên là thảm hoạ thế kỷ, nhưng lại thể hiện đầy đủ tinh thần dân tộc và tinh thần nhân đạo chủ nghĩa kiên cường bất khuất của dân tộc Trung Hoa: Một phương bị nạn, tám phương chi viện. Trong cuộc đại cứu trợ sinh mệnh đã rực rỡ toả sáng nhân tính, biểu hiện ra sức mạnh xúc động lòng người: Tình yêu không biên giới! Các nhà thơ bằng nhiệt tình khổng lồ dấn thân, dốc lòng vào công cuộc đại cứu trợ sinh mệnh, sáng tác ra vô số bài thơ, đã xuất bản vô số tập thơ.

 

 

 

Trong quá trình chúng ta hướng về Olympic, xin đăng cai Olympic, mong ngóng Olympic, chào đón Olympic, chúc mừng Olympic, các nhà thơ lại bằng nhiệt tình khổng lồ sáng tác ra những bài thơ hùng hồn, ca tụng, biểu dương tinh thần dân tộc và nhiệt tình yêu nước.

 

 

 

Các nhà thơ Trung Quốc bằng cảm hứng khổng lồ chưa từng có, sáng tác ra những bài ca ai điếu và những bài ca tán dương sinh mệnh, là khúc nhạc an hồn bi tráng nhất và bài thơ tụng ca hoan lạc hùng hồn nhất nhân gian. Điều này tất nhiên sẽ có tính gợi mở và tác dụng dẫn lối chỉ đường, đối với sáng tác thi ca trong thế ky 21.

 

 

 

                                                         

 

                                                          VŨ PHONG TẠO giới thiệu và dịch

 

                                                    (Theo www.chinawriter.com.cn, 18-12-2008)

 

 

 

 

 

** Khi cần liên hệ: Vũ Phong Tạo, Hội Nhà báo Hà Nội, 62-Trần Quốc Toản-HN

 

*  ĐT: 04-38825079 * 0166.3093035     * Email: vuphongtao.hnbhn@gmail.com   

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· LÂM QUANG MỸ - NGƯỜI HÁT RONG CỦA THI CA
· CHẾ LAN VIÊN NHƯ TÔI BIẾT
· CHÙM TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA HOÀNG NGỌC TRÚC
· CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM BẮT ĐẦU LÊN TIẾNG VỀ CHUYỆN… THẾ SỰ
· NGHIÊM THỊ HẰNG - NGỜ ĐÂU CHƯA HẾT NỖI ĐAU NHÂN TÌNH
· NGUYÊN SA - NGƯỜI LÀM MỚI NGÔN NGỮ THI CA
· BI KỊCH VŨ NHƯ TÔ - XUNG ĐỘT GIỮA TÀI NĂNG VÀ HOÀN CẢNH
· OLGA BERGGOLTZ CHO TÔI BÀI HỌC VỀ SỰ CHÂN THÀNH
· CHẾ LAN VIÊN - VẪN NỞ TIẾP NHỮNG MÙA ÁNH SÁNG
· KHUYẾT - LẠ CHỮ - LẠC TÌNH - HOẶC NGHI
· LEV TOLSTOY - NHÀ SÁNG TẠO, NHÀ TƯ TƯỞNG
· ĐỔI MỚI QUYẾT LIỆT NGUYỄN MINH CHÂU
· NGUYÊN SA VÀ TÌNH CA NGÔ THỤY MIÊN
· THANH TÂM TUYỀN ĐI TÌM TIẾNG NÓI
· NGẮM… NHAN SẮC THẦY TÔI
· CÓ MỘT SỰ IM LẶNG GHÊ NGƯỜI CỦA GIỚI PHÊ BÌNH
· “NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM”
· DẤU CHẤM, DẤU PHẨY TRONG THƠ
· NƯỚC NGA LÃNG QUÊN LEO TOLSTOYS
· TỔ QUỐC RÙNG MÌNH TRONG CƠN NHẬU NHẸT

 

  
Gia đình Bích Khê