DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 4)

                                                                             Khúc Hà Linh

 
 

Phần 4. Tự Lực Văn Đoàn,

 

ngôi sao rực rỡ trên bầu trời văn học

 

TLVĐ là tổ chức văn chương  tự lực. Họ tự lực về tài chính, không chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền. Họ tự lực về chuyên môn và khuynh hướng nghệ thuật. Họ tự tôn người chủ soái, cùng nhau tuân theo quy chế hoạt động. Lãi ăn lỗ chịu, cùng nhau gánh vác. Vì thế, khi thuận lợi thì phát triển, khi khó khăn thì lùi vào thế thủ. Sau khi sảy đàn tan nghé, Thạch Lam mất năm 1942, Hoàng Đạo chết bên Tàu năm 1948, Khái Hưng chết năm 1946, Nhất Linh lưu vong nước ngoài… TLVĐ không hoạt động chứ không tuyên bố giải tán. Nhất Linh trở lại  Sài Gòn không hoạt động chính trị mà tập trung vào văn nghệ. Ông làm chủ tịch Hội Bút Việt, mở nhà xuất bản Phượng Giang, sáng  tác  mới, ra giai phẩm Văn Hoá ngày nay, in lại tác phẩm của TLVĐ…

 

 Duy Lam con trai bà Nguyễn Thị Thế, người gọi Nhất Linh là bác, viết văn từ 1953, đã từng gửi truyện ngắn của mình cho bác và thành thật hỏi rằng, có thể theo nghiệp văn chương được hay không? Nhất Linh đã đọc kỹ và trả lời khuyến khích có thể theo nghề văn được. Thế rồi sau tết năm ấy, Duy Lam nhận được một bản viết tay, do Nhất Linh gửi đến. Nội dung là tuyên bố trong số bốn người:  Đỗ Đức Thu, Duy Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị Vinh, chỉ có Đỗ Đức Thu được gia nhập TLVĐ còn lại là dự bị. Khi thấy sách của Đỗ Đức Thu được xếp vào trong văn chương TLVĐ đã có nhiều người không hiểu, điều này đã làm cho các nhà nghiên cứu, sau này gặp khó khăn. Bởi Nhất Linh khi ra quyết định công nhận chỉ chép tay ra 5 bản, gửi cho bốn người mỗi người một bản, còn lưu giữ một bản. Bên ngoài không ai biết gì vì người đứng đầu văn đoàn chưa từng công bố. Sau này Nhất Linh giải thích rằng, TLVĐ có nhiều người đã chết(Thạch Lam, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Trần Tiêu), nhiều người ở lại miền Bắc(Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu) nên cần bổ sung, và sự gia nhập sẽ được hợp thức hoá khi cần thiết.

 

Nói lại sự kiện này để thấy rằng,  TLVĐ chỉ chấm dứt sau ngày Nhất Linh mất, tức là sau ngày 7-7-1963, khi người chủ suý của nó vĩnh viễn ra đi.

 

Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng TLVĐ chỉ hoạt động có hiệu quả trong 10 năm ( 1932- 1942). Có thể là họ  tính từ ngày tờ Phong Hoá ra đời đến khi Thạch Lam mất vào 27 tháng 6 năm 1942? Dù như thế thì trong  khoảng một thập niên, TLVĐ đã làm nên sự nghiệp rực rỡ, đóng một dấu son đậm trong văn đàn nước nhà. Chỉ đáng tiếc về cuối kết cục thật ảm đạm, bởi một số người trong nhóm đã xa dời tôn chỉ văn chương khi mới thành lập. Mấy tháng trước khi Thạch Lam qua đời, ngôi nhà cây liễu đầu làng Yên Phụ bên ven hồ Tây đã vắng dần các văn nhân. Nhất Linh đã hoạt động chính trị đang ở Trung Quốc; Hoàng Đạo và Khái Hưng bị Pháp bắt đi an trí; Thế Lữ  sợ liên can cũng bỏ đi; nhà thơ Huyền Kiêu đã về quê Vân Đình, chỉ còn Nguyễn Tường Bách và Đinh Hùng ở gần còn lui tới. Thạch Lam dạo ấy đang ốm, một mình lặng lẽ, có lần dặn bạn còn lại: Mật thám giăng lưới và rình mò quanh nhà đấy, các anh hãy tạm lánh đi kẻo liên luỵ.

 

  Gần đây có những công trình nghiên cứu, đánh giá cống hiến của họ tương đối công bằng, theo tinh thần công minh của lịch sử.

 

Nhìn tổng quát, TLVĐ  là nhóm người có tài năng, tâm huyết, có cùng chí hướng trong sự nghiệp đổi mới cách tân văn chương. TLVĐ đã nói lên khát vọng dân tộc dân chủ của quần chúng; đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi tự do hôn nhân, quyền sống của phụ nữ và chống lại lễ giáo phong kiến trói buộc. TLVĐ chủ trương cải cách xã hội, đồng cảm nỗi khổ của người lao động và đả kích gay gắt bọn tham quan ôm chân Pháp. Họ đề cao tinh thần dân tộc, có hoài bão về một nền văn hoá dân tộc, trên cơ sở kết hợp truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây… Đồng thời họ chống lai căng, phủ nhận xã hội thối nát đương thời.

 

Một ưu điểm rõ rệt nhất là họ có tài tổ chức. Tổ chức bộ máy gọn nhẹ và hiệu quả. Họ thu phục con người bằng tình tương thân tương ái. TLVĐ lập ra quỹ cứu tế tương trợ ban biên tập, hoặc trị sự khi ốm đau, xảy việc tang gia, hoạ hoạn, có khi trừ vào lương cũng có trường hợp cho không, để cho các thành viên an tâm làm việc. Họ trân trọng, cư xử tử tế với cộng tác viên, tạo cho mọi người lương cao, và làm việc hết mình vì mục tiêu chung. Họ tổ chức hoạt động nghiệp vụ báo chí, in ấn, phê bình, đặt giải thưởng… một cách bài bản chuyên nghiệp. Họ năng động. Với con số biên chế chưa đến 10 người, nhưng TLVĐ đã làm  việc của hai cơ quan xuất bản: Họ vừa làm báo vừa in sách của nhóm, lại cho in thuê kiếm lời. Đó là chưa kể  làm quảng cáo, phát hành rộng rãi đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong nước. Khi báo bán chạy họ biết làm kinh doanh, cho gọi cổ phần, mỗi cổ phần 500đồng, và mua nhà in với những thiết bị khá đồ sộ. Khi nhà xuất bản Đời Nay có máy in, Nhất Linh đã có tầm nhìn xa, chủ trương xin chính phủ cấp đất cho TLVĐ ở vùng Cầu Lính, gần núi Tam Đảo, Vĩnh Yên. Nếu có đất, sẽ cử người quản lý khai khẩn trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng cho TLVĐ một cơ sở kinh tế, để người trong TLVĐ, đặc biệt mấy người đang là công chức có thể thoát ly công việc nhà nước sống được bằng sáng tác văn chương. Họ dự kiến lập đồn điền, xây trường học, nhà trẻ, câu lạc bộ, phòng thuốc v.v, mua sắm phương tiện tạo nên cuộc sống văn minh. Đó là những ý tưởng tiến bộ, có mầm  xã hội chủ nghĩa..

 

Nhưng đơn xin đất bị nhà cầm quyền bác bỏ.

 

TLVĐ có quan điểm, tư tưởng tiến bộ trong văn chương, thể hiện trong 10 điều tôn chỉ khi thành lập: trẻ trung, yêu đời, tin ở sự tiến bộ.  Họ dùng các loại hình nghệ thuật như văn, thơ, hí họa, ảnh thời sự, truyện cười… để đả phá tàn dư lạc hậu trong xã hội, thúc đẩy  xây dựng đời sống mới. Họ luôn luôn tìm tòi sáng tạo nhiếu nghệ thuật làm báo dể hấp dẫn bạn đọc. Trên báo Ngày Nay, các chuyên mục đã thực sự gây chú ý của bạn đọc: Vấn đề thuộc địa, mỗi số đi vào một khía cạnh có ý nghĩ chính trị diễn ra trên đất nước. Mỗi tuần lễ một, thì ghi lại những thông tin mọi mặt đời sống. Mục Người và việc nêu ra các vụ việc xảy ra với những lời bình luận sâu sắc. Đặc biệt mục Trông và tìm đã lay động nhiều suy nghĩ của người quan tâm tới vận mệnh của đất nước. Ngoài ra còn các tiểu mục như Xã giao, Phụ nữ, Trào phúng cười nửa miệngLượm lặt. Lại còn cả Điểm sách, Điểm thơ, Tin thơ. Dí dỏm nhất là mục Tập tranh vân đẩu. Dưới bút danh Tứ Ly, các bài viết ngắn, sắc lạnh mà hóm hỉnh, sâu cay đả kích các nhân vật trong xã hội thượng lưu bấy giờ, như nghị viên Ngô Trọng Trí, Phạm Kim Bảng, Bùi Trọng Ngà, Nguyễn Đình Cung, Tô Văn Lượng, cho đến ông phủ Hàm, dân biểu Phạm Huy Lục đến các ký giả Bùi Xuân Học, Phạm Bá Khánh…

 

 Họ vừa quan liêu,  hợm hĩnh, ba hoa, nịnh hót bề trên và thiếu nhân cách lại lên mặt dạy đời. Mục Hạt sạn được chăm chút thường xuyên có ý nghĩa văn hoá, nó giống như mục dọn vườn bây giờ, hài hước những câu văn sai, hỏng, hoặc cách dùng từ sai ngữ pháp, cốt làm cho trong sáng của tiếng Việt. Phần còn lại là giới thiệu tác phẩm văn học, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự điều tra, dịch thơ Đường, giới thiệu tinh hoa văn học nước ngoài qua một số truyện dịch tiêu biểu…

 

Họ tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn chương, thi ô chữ như các trò chơi thời bây giờ. Một lần Thạch Lam, Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo viết chung một truyện ngắn. Ban đầu tổ chức bốc thăm xem ai được viết đoạn truyện đầu tiên. Người ấy có quyền chọn đề tài và viết phần một. Căn cứ vào cốt  truyện ấy mà  người viết tiếp đoạn sau phải ăn nhập với đoạn trên của người khác, thành tác phẩm  mạch lạc. Họ đăng lên bốn kỳ báo và ra cuộc thi nếu ai chỉ ra số báo nào, là của nhà văn nào viết. Nói đúng sẽ có giải. Giải thưởng tuy giản dị mà có ý nghĩa. Giải nhất được tặng một năm báo và bốn cuốn sách của nhà xuất bản. Giải nhì tặng một năm báo và giải ba được tặng nửa năm báo. Kết quả cuộc thi có 632 người dự. Giải nhất trao cho ông Đỗ H, giải nhì ông Đinh Hữu Định, giáo học ở Ninh Giang, giải ba là cô Lê Thị Xuyến ở địa chỉ 19 rue Hl. Pétain. Khi xảy ra cuộc bút chiến giữa hai tờ báo Ngày Nay và Tân Việt Nam, thì họ lại nghĩ ra cách thành lập Ban thẩm phán danh dự để họp và phân xử có lý có tình rồi tường trình trên mặt báo. Chính việc này coi như một cú hích làm cho báo bán rất chạy thời bấy giờ.

 

 TLVĐ đã thổi luồng gió mới mẻ vào bầu trời văn học nước ta. Phong trào thơ mới có mảnh đất màu mỡ phát triển ngày càng rực rỡ. Nghệ thuật dựng truyện, diễn biến tâm lý các tuyến nhân vật truyện ngắn, tiểu thuyết đã  tinh tế điêu luyện. Lĩnh vực hội hoạ, ảnh mỹ thuật có bước nhảy dài, nâng cao so với trước. Câu văn trong sáng, giản dị mới mẻ, hình ảnh chân thực không sáo rỗng, không lệ thuộc vào lối văn biền ngẫu, cổ lỗ lổn nhổn những chữ nho, hoặc lòng thòng lối văn Tây dịch.

 

Từ cách đây hơn bảy chục năm, các nhà văn TLVĐ đã quan tâm tới đời sống cơ sở, cụ thể là đời sống làng quê. Báo chí của họ có những chuyên đề  sát sao gần gũi với con người. Từ chuyện gà nuôi bị toi, bị đi tướt, dịch tả đến chuyện ruộng đất chật hẹp, người nông dân phải dời làng di dân, cho đến chuyện nước lụt và thuỷ triều, đê điều, đều được đưa vào các chuyên đề có phân tích, diễn giải. Chúng ta có thể hiểu vì sao TLVĐ đã chiếm được cảm tình của bạn đọc nhiều nhất.

 

Chúng tôi rất tán thành ý kiến của Lê Thị Đức Hạnh khi đánh gía về thái độ chính trị của TLVĐ do Nhất Linh cầm đầu(Tạp chí văn học, số 3-1991). Nhất Linh  không hề theo giặc, thực chất là ông nhất quán chủ trương chống Pháp theo tư tưởng của mình. Bằng cớ là trên tờ Phong Hoá, Ngày Nay, cơ quan ngôn luận  của TLVĐ đã đăng nhiều bài đả kích bọn quan lại ôm chân Pháp, những chân dung ông nghị gật với đủ cả hình dạng và phẩm chất, đức độ rất đáng nực cười. Các câu chuyện châm biếm Pháp tạo dựng cho Bảo Đại hồi loan, và đả kích bóng gió giặc Pháp thông qua hàng loạt bài của Hoàng Đạo, hàng loạt biếm hoạ của Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, hoặc tiểu phẩm cười cợt, thơ trào phúng của Tú Mỡ đã làm hả hê bạn đọc lúc bấy giờ....

 

 Xin nhắc lại một vài chi tiết để bạn đọc nhớ lại. Một lần báo Ngày Nay ra số đặc biệt. Hoạ sĩ Gia Trí vẽ bìa cảnh một cái lều tranh xơ xác ngoài có người đàn bà lam lũ và mấy đứa trẻ bụng ỏng đít vòn trông thật thảm thương. Bên dưới có dòng phụ đề: “Bố cu mẹ đĩ rúc vào nằm”. Nhà chức trách cho là có ý nói xấu chế độ ra lệnh đình bản ba tháng, còn định đưa chủ báo Nhất linh ra toà, sau  lại thôi, nhưng cảnh cáo nặng. Một lần khác có bức hí hoạ, vẽ Lý Toét ôm con gà mái từ nhà quê ra Hà Nội biếu ông Thống sứ. Nhà cầm quyền suy diễn rằng con gà mái dịch ra tiếng Việt nghĩa bóng là “kỹ nữ” có ý châm chọc Thống sứ có máu háo sắc. Họ làm ầm lên.  Phong Hoá đầu năm 1936 bị đóng cửa.  Trong khi các báo khác như: Nam Phong nhận trợ cấp của Pháp mỗi tháng 600đồng, báo Trung Bắc Tân Văn mỗi tháng được trợ cấp 500đồng (mỗi lạng vàng khi đó là 30đồng) thì TLVĐ hoàn toàn tự lực. Đến khi làm đơn xin chính phủ cấp đất cho toà báo, bị Pháp gạt toẹt không cho. Thế nhưng Ngô Văn Phú, chủ báo Đông Pháp được quan thầy cấp cho mấy trăm mẫu ruộng bãi bồi ở Thái Bình. Sau này vào Sài Gòn, Nhất Linh cũng không chấp nhận chính quyền Ngô Đình Diệm, ông chống đối quyết liệt, đã lấy cái chết để cảnh cáo chế độ chà đạp tự do của con người..

 

Chỉ hoạt động chưa đến 10 năm, TLVĐ đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện trong đời sống văn học thời bấy giờ. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức thông tin, văn nghệ của quần chúng, mà còn thu hút các văn nghệ sĩ tài năng nhiều ngành: văn, thơ, nhạc hoạ, kiến trúc… tham gia sáng tác. Chỉ riêng về lĩnh vực văn hoá tư tưởng thời bấy giờ, TLVĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội.

 

Nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà phê bình cả hai miền Nam Bắc đã bỏ công sức tìm hiểu, đánh gía về phong trào văn học này với nhiều khía cạnh khác nhau. Theo chỗ chúng tôi biết, chỉ nói tới vấn đề khái quát “ Dấu ấn của một văn đoàn” có sáu chuyên luận (Phạm Thế Ngũ, Trương Chính, Phan Cự Đệ, Lê Thị Đức Hạnh, Trịnh Hồ Khoa, Tú Mỡ). Chỉ một chân dung của Nhất Linh có tới 10 tác giả khảo luận, như Vũ Ngọc Phan, Bùi Xuân Bài, Bạch Năng Thi, Thế Phong, Thế Uyên, Vũ Hạnh, Tường Hùng, Nguyễn Mạnh Côn…

 

Chỉ một con người Khái Hưng trong cuốn sách “Khái Hưng nhà tiểu thuyết xuất sắc” có tới  ba chục bài của gần ba chục tác giả: Vũ Ngọc Phan, Trần Khánh Triệu, Dương nghiễm Mậu, Hồ Hữu Từơng, Vu Gia, Nguyễn Vỹ, vân vân.

 

 Chỉ một Thạch Lam, mà 13 tác giả để tâm nghiên cứu viết bài, như: Nguyễn Tuân, Phạm văn Phúc, Phong Lê, Hà Văn Đức, Hồ Dzếnh, Thế Lữ, Đỗ Đức Thu, Đinh Hùng v.v. (Con số này  chắc chắn chưa thể nào đầy đủ). Các nhà nghiên cứu mỗi người một vẻ, với đủ các góc nhìn khác nhau: có khi thì đi sâu vào cách tân trong văn xuôi TLVĐ, có khi đi sâu vào khuynh hướng lãng mạn phản kháng trong Nhất Linh, lại có bài Nghĩ về lá rụng trong văn Khái Hưng….

 

Trương Chính trong bài Dưới mắt tôi, ca ngợi Khái Hưng có lối văn giản dị thanh tao, bóng bẩy nhưng trong sáng, nhịp nhàng nhưng không mất vẻ tự nhiên. Nhiều câu văn phảng phất âm điệu thơm tho, thấm vào hồn ta như mùi hương đượm, ( Tổng tập Văn học Việt Nam tập 24B- NXB KHXH- 1997)

 

Hoàng Xuân Hãn , từng là Chủ tịch tiểu ban chính trị trong Phái đoàn Việt Nam ở hội nghị Đà Lạt năm 1946 (do Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng ngoại giao là Trưởng đoàn) trên Tạp chí Sông Hương số 37- tháng 4/1989 phát biểu:" Tôi nghĩ rằng những nhà văn học, sử gia sẽ phải thừa nhận giá trị của thành viên trong nhóm TLVĐ và phải bắt đầu lại việc xem xét nghiên cứu các tác phẩm của họ... TLVĐ là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại.”

 

Phan Cự Đệ trong cuốn " TLVĐ con người và văn chương – NXB Văn Học-1990"  nhận xét: Thành công  của TLVĐ trong xây dựng nội tâm nhân vật tinh tế hơn so với nhiều tiểu thuyết trước đó, kết cấu hiện đại hơn theo quy luật tâm lý, không theo chương hồi. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng giàu khả năng diễn đạt, gần gũi tâm hồn dân tộc.

 

Các nhà nghiên cứu dễ nhất trí khi nói về tiểu thuyết TLVĐ, rằng họ có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm ba mươi của thế kỷ trước, đổi mới từ quan niệm xã hội cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng và giàu có hơn.

 

 

 

Các tác phẩm của TLVĐ thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục. Cùng với ý thức đả kích những kẻ xu phụ thực dân, châm biếm thói hư tật xấu trong xã hội là tinh thần cảm thông với những nỗi khổ cực, sự lam lũ bần cùng của người lao động; tinh thần đề cao tự do cá nhân, giải phóng phụ nữ, hướng theo những tư tưởng  nhân đạo, bình đẳng bác ái, của thời kỳ Mặt trận Dân chủ” (Viện văn học- Văn chương TLVĐ- tập 1, NXB GD, 1999).

 

Nhà thơ Huy Cận từng là cộng tác viên của TLVĐ, trong Hội thảo về văn chương TLVĐ do trường Đại học Tổng hợp và nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp tổ chức tháng 5 năm 1989, đánh giá:" TLVĐ đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam… Đã góp phần lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc.”

 

 Với Nhất Linh, ông đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển tiếng nói, câu văn dân tộc làm cho nó ngày càng trong sáng hơn, giàu đẹp hơn, đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử văn học dân tộc: Đoạn Tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại( Trương Chính). Với Hoàng Đạo đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại.

 

Với Khái Hưng, đó là một nhà tiểu thuyết có biệt tài, và người ta có thể gọi ông là nhà văn của thanh niên. Ông rất am hiểu tính tình tuổi trẻ. Phần đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả trung thành của ông và phụ nữ chiếm số đông nhất.( Nhà văn hiện đại, tập 2- NXB KHXH, 1989) .

 

 

 

 Văn chương Thạch Lam,

 

Lòng nhân hậu, niềm thương xót đồng bào .

 

 Trong nhóm TLVĐ, Hoàng Đạo là người lý thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng đã phả vào nếp sống cũ để tiến tới một đời sống mới… còn Thạch Lam một người yêu thương đồng bào, xót xa từ tâm can tỳ phế.

 

Nhiều bạn bè, kể cả người trong gia đình đều nói sách Thạch Lam bán ế nhất, nhưng văn của ông viết hay nhất trong TLVĐ.

 

 Thạch Lam được thừa hưởng đức hiếu thuận của mẹ, vẻ  lịch lãm, từng trải của cha, đã hình thành một phong cách sống khác với các anh chị em trong nhà.

 

 Nhà văn Vũ Bằng kể lại :

 

 Thạch Lam yêu sự sống hơn bất cứ ai. Anh quý từ cốc nứơc chè tươi nóng., trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần  như thành kính, tiếc từ một cái kẹo vừng rơi xuống đất,  nhặt lên phủi bụi rồi ăn ngay một cách chậm rãi như thể vừa ăn vừa ngẫm nghĩ cám ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy, anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời có câu nào không chu đáo khiến cho người ta tủi thân mà buồn.

 

 Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng, dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau. Anh lặng lẽ vì anh khiêm nhường, lúc nào cũng coi mình bé nhỏ .Thạch Lam là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn.

 

Một người như thế không thể là người lý thuyết, chỉ là nhà tư tưởng, như con chim kia, lấy mỏ rút ruột mình để nuôi một đàn con.

 

     Vũ Đức Phúc trong cuốn "Bàn về những cuộc đấu tranh tư­ tư­­ởng trong lịch sử văn học Việt  Nam hiện đại 1930-1954”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội -1971, đó có góc nhìn  công bằng lịch sử khi nói về Thạch Lam:

 

Thạch Lam rõ rệt là ngư­­ời ít nhiều có khuynh hư­­ớng Nghệ thuật vị nhân sinh: “ Đối với tôi, văn chư­ơng không phải là một cách đem đến cho ngư­­ời đó  sự thoát ly hay sự quên; trái lại văn ch­ư­ơng là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và đổi mới cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng ngư­­ời đư­­ợc thêm trong sạch và phong phú hơn”( Lời nói đầu tập Gió đầu mùa, 1937). Quan điểm đó hoàn toàn trái với quan điểm của Thiếu Sơn, Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều. Rõ ràng là Thạch Lam đã chú ý chống lại hai luận điểm chính của Thiếu Sơn về chức năng của văn nghệ: quên cuộc đời, thoát ly vào cõi mộng Nhất Linh, Hoàng Đạo không thuộc phái nghệ thuật vị nghệ thuật, như­ng họ “ vị nhân sinh” theo một kiểu riêng. Tiểu thuyết của hai ngư­­ời là" tiểu thuyết có luận đề”. (trang 112 sách đã dẫn)

 

Quả như­ Vũ Đức Phúc nhận xét, t­ư­ tư­­ởng nghệ thuật vị nhân sinh đã đư­­ợc thể hiện rõ trong tiểu thuyết “Hai vẻ đẹp”(1936) của Nhất Linh. Nhân vật chính trong truyện là Doãn - một hoạ sĩ. Lúc đầu chàng nghĩ rằng mục đích nghệ thuật chỉ là vẻ đẹp, làm cho cuộc đời thơ mộng. Sau đó về một thôn quê, gần với cuộc đời lao động cày cuốc nắng m­ư­a, chàng đã phát hiện ra một điều "Chính những cái khổ của người chung quanh sẽ đem lại cho chàng cái nhẽ để mà sống.”

 

 Phong Lê, trong Tuyển tập truyên ngắn Thạch Lam - NXB Văn học- 2004 cũng nhận định:

 

Nửa thế kỷ đã qua, mà đọc truyện Thạch Lam, cảm về câu văn Thạch Lam, tôi thấy cứ như là câu văn hôm nay; và tôi còn dám chắc chưa hẳn đã có nhiều người  viết hiện nay, với số trang ít ỏi, lại nêu được ngần ấy vẻ đẹp chứa trong cốt truyện, tình cảm, tâm hồn, câu văn ấy của những Nhà mẹ Lê, Cô hàng xóm, Tối ba mươi, Hai chị em, Hai lần chết… tôi cho đó là những trang hay trong văn học 1930-1945, nó không kém chút nào những trang hay của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài.

 

Với tiêu đề Thạch Lam, trong Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam- viết tháng 10 năm 1957, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét:

Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc… Thạch Lam có đem sinh sắc vào tiếng ta… Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trư­ớc cuộc sống. Ngày nay đọc Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học…

Còn  nữa

 

Nguồn: Phongdiep.net

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN BỔNG: TRẦM LẶNG VÀ TINH TẾ
· THI SĨ NGUYỄN BÍNH VÀ... SỐ 4 KỲ LẠ!
· MỘT CÔNG TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC ĐƯỢC CHÚ Ý Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI
· ĐỌC TẬP THƠ 'NUỐT TRỘNG QUẠNH HIU'
· NHÀ VĂN SƠN TÙNG VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TÁC GIẢ QUỐC KỲ
· VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM-BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG
· TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA SÁNG TÁC VĂN HỌC
· TÔI MUỐN 'BẤT THƯỜNG' ĐỂ HƯỚNG TỚI SỰ PHI THƯỜNG
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 3-Kỳ 1)
· VĂN CHƯƠNG NGÀY NAY LÀM ĐƯỢC GÌ?
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 2)
· NGÀY PHÙNG QUÁN TRỞ VỀ HUẾ
· VĂN HỌC TRONG NƯỚC 2010, NHƯ TÔI THẤY
· ANH TRẦN HINH
· THỜI GIAN TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
· TRẦN DẦN - VIẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
· NGHỀ XẾP CHỮ, ÔI, NGHỀ CON TRẺ
· NHÀ THƠ XUÂN DIỆU - CHUYỆN MỚI KỂ
· NSND DOÃN HOÀNG GIANG VÀ CÂU CHUYỆN BÍ MẬT 30 NĂM

 

  
Gia đình Bích Khê