DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
MỘT GƯƠNG MẶT ĐẶC BIỆT TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940-1945

                                                                    Hoàng Thư Ngân

          Trong bài khảo cứu  Việt-nam có “Triết thi” ?(đăng trên PhongDiep.Net ngày 16/09/2010 ) chúng tôi đã có dịp nói về nhà thơ tiền chiến Minh-Tuyền Hoàng-Chí-Trị (1916-2001)- một bộ mặt đặc biệt trên thi đàn Việt-nam những năm 1940-1945 (xem (*)) . Gần đây, nhân có dịp vào TP.HCM, chúng tôi có ý định tìm gặp hai nhà nghiên cứu văn học sử Phạm-Thế-NgũNguyễn-Tấn-Long(***) – là những tác giả đã nghiên cứu và giới thiệu thi sĩ Minh-Tuyền trước những năm 70 của thế kỷ trước ở miền Nam, nhưng tiếc thay hai Ông đều đã thành người thiên cổ cả rồi ! Ôi thôi ! Nhưng may mắn thay, chúng tôi lại được tiếp cận nguyên bản thi phẩm “Phấn đấu” của nhà thơ Minh-Tuyền xuất bản vào tháng 8 năm 1944 tại Hà-nội, mà các thư viện trong cả nước đều không còn lưu trữ . Các bài thơ in trong tập “Phấn đấu”, với lời tựa của nhà văn hóa, nhà sử học Hoa-Bằng Hoàng-Thúc-Trâm (1902-1977), bìa và minh họa của họa sỹ Tô-Ngọc-Vân, đều được Minh-Tuyền tuyển chọn từ những bài thơ đã đăng trong Tạp chí Tri-tân (1942-1944), nhưng đã được sửa chữa và lấy lại những câu thơ đã bị nhà cầm quyền lúc đó “kiểm duyệt” bỏ đi .  

            Nghiên cứu thi phẩm “Phấn đấu”, chúng tôi càng có cảm nhận đúng như  những lời bình phẩm không chút quá lời của Nguyễn-Tấn-Long trong “Việt nam thi nhân tiền chiến” xuất bản năm 1967 tại Sài gòn “… Xin các bạn đừng vội thấy danh từ (Thơ triết học-Tg) quá to tát mà ngao ngán, không lưu tâm đến một trường thơ mới lạ (trường ca “Tạo hóa và nhân loại”-Tg), một lối thơ tuy không may mắn sinh tồn trong thời tiền chiến, nhưng phải kể là một sáng kiến lớn lao, đã đánh dấu một hướng đi dị biệt mà nền thi ca đất nước không thể bỏ qua, và người yêu thơ không thể không biết đến .” (trang 293 , Quyển 2) . Minh-Tuyềnđánh dấu một hướng đi dị biệt”trên thi đàn VN những năm 1940-1945  không những vì ở thời gian đó thi sĩ mải miết đi tìm những vần thơ bi hùng để ca tụng các  chiến thắng hoặc những thất bại trên trang sử Việt ngàn thu, trong lúc phong trào thơ mới chìm sâu trong “cái tôi” bế tắc, mà hơn hết và chủ yếu là thi sĩ đã đưa thơ mình vào lĩnh vực triết học, nhằm cố gắng trả lời cho câu hỏi của muôn đời : Nhân loại sẽ đi về đâu và bao giờ Con Người sẽ hết ác tâm, thôi tương tranh, dồn khả năng vào việc chinh phục thiên nhiên để tạo ra hạnh phúc bền vững? Đó chẳng phải là câu hỏi đang được thế hệ hiện đại đang đối mặt sao ?

             Minh- Tuyền thường được nhắc đến là nhà “thi sử” trong văn học sử thời kỳ 1940-1945 và đã có nhiều trích đăng giới thiệu (xem (**)) . Tuy nhiên, bên cạnh các bài thơ dài nhuốm màu sử thi thường được tuyển chọn như “Hát Giang trường lệ”, “Sóng Bạch Đằng”… ,  khi tuyển chọn thơ của Minh-Tuyền, các nhà nghiên cứu luôn nhắc tới trường ca “Tạo hóa và Nhân loại” mà ông sáng tác năm mới 27 tuổi, đăng 10 kỳ trên tạp chí Tri-tân từ số 104 ngày 22-7-1943 đến số 116 ngày 14-10-1943 (mà gần đây nhất là trong Thơ chọn lọc (1010-2010) : “Tràng An muôn thuở” của Gia-Dũng (NXB Văn học-2009) nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng-long ), nhưng hầu như không ai cho biết trường ca này có nội dung gì và giá trị của nó ra sao, trừ Phạm-Thế-Ngũ Nguyễn-Tấn-Long là những người đã “tình nguyện làm nhà máy chế biến và trình bày sản phẩm đầu tiên rút ra trong “khoáng chất thơ triết” của Minh-Tuyền” với trường ca “Tạo hóa và nhân loại” hay còn có tên “Đi tới hòa bình vĩnh viễn của loài người”. Nhưng thông tin đánh giá cũng mới dừng lại ở những nhận định khái quát (theo lưu bút của Minh-Tuyền thì chính Nguyễn-Tấn-Long cũng chưa được tiếp cận với tập thơ “Phấn đấu” khi trình bày trường ca “Tạo hóa và Nhân loại” trong tác phẩm “Việt nam thi nhân tiền chiến”). Sự thật ít ỏi đó có nguyên do lịch sử của nó. Trường ca “Tạo hóa và nhân loại” khi được đọc với cái tên trường ca “Đi tới hòa bình vĩnh viễn của loài người” vào những năm 1940-1945 đã nói lên nhiều điều !!!

        Thật vậy, những năm 40-45 của thế kỷ trước là thời gian của thế chiến thứ 2 vô cùng tàn khốc, là thời kỳ mặt trận Việt minh do Đảng CS lãnh đạo đang ra sức chuẩn bị cho cuộc cách mạng Tháng 8 trên con đường dùng bạo lực cách mạng, thực hiện chiến tranh giải phóng dân tộc, là thời kỳ cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn đang được đẩy lên cao trào trên thế giới… Ấy thế mà, vào thời điểm đó, thi sĩ Minh-Tuyền lại viết một trường ca mang hơi thở “triết thi” kêu gọi “Đi tới hòa bình vĩnh viễn của loài người”, thổi một làn gió mới vào phong trào thơ mới trên thi đàn Việt nam bằng một con đường dị biệt ! Đó chính là lý do “Tạo hóa và nhân loại” đã chìm trong chiến cuộc và mất bóng cùng với “Thi chủ” Minh-Tuyền Hoàng-Chí-Trị của nó - như Nguyễn-Tấn-Long đã từng nhận xét (tác phẩm đã dẫn) . Sự “mất bóng” của thơ Minh-Tuyền trong một thời gian dài trên đất Bắc XHCN cũng chính là số phận của Tạp chí Tri-tân (của nhà văn hóa, nhà sử học Hoa-Bằng Hoàng-Thúc-Trâm ?) trên văn đàn VN,  đến nay đã có thể hiểu được. Nhà nghiên cứu văn học Lại-Nguyên-Ân đã viết trong Lời dẫn cuốn “ Tạp chí Tri-tân (1941-1945) Truyện và Ký” – Nhà xuất bản Hội nhà văn –năm 2000, trang 8 ) rằng :

    “Những người Cộng sản hoạt động trong bí mật, khi quyết định tham gia mặt trận đấu tranh về văn hóa (1943) bằng việc nêu ba khẩu hiệu vận động văn hóa mới –dân tộc hóa,khoa học hóa, đại chúng hóa, tuy xác nhận Tri-tân “thiên trọng về khẩu hiệu dân tộc hóa” nhưng lại phê phán Tri-tân là “phong kiến”, “nệ cổ”…“cản trở sự tiến hóa của dân tộc”.

             Bởi vậy, dưới ánh sáng của sự đổi mới hiện nay, việc nhìn nhận lại giá trị của Tạp chí Tri-tân nói chung và thi phẩm “Phấn đấu” cùng trường ca “Tạo hóa và Nhân loại” nói riêng, cũng là điều nên làm để “trả lại tên cho một nhà thơ tiền chiến đất Thăng Long”Người đã đã đánh dấu một hướng đi dị biệt trong thi đàn đất nước những năm 1940-1945 vậy .

            Với tinh thần ấy chúng tôi xin cố gắng giới thiệu về trường ca “Tạo hóa và nhân loại”  của thi sĩ Minh-Tuyền Hoàng-Chí-Trị để độc giả có thể tham khảo và thấy được giá trị  của nó với thời đại “toàn cầu hóa” hôm nay . Nói là “cố gắng”, vì đúng như Nguyễn-Tấn-Long đã viết  khi “tình nguyện làm nhà máy chế biến” và trình bày “Tạo hóa và nhân loại” là : “…muốn được thụ giáo để làm môn đồ thơ triết học, các bạn cần chuẩn bị một một kiến thức tổng quát khá cao…” (sách đã dẫn mà chúng tôi có sử dụng là một trong những nguồn tư liệu) .

               “Tạo hóa và nhân loại” hay “Đi tới hòa bình vĩnh viễn của loài người”  là một trường ca chia làm 5 “Phần” , trong mỗi “Phần” có nhiều “Đoạn”, trong mỗi “Đoạn” lại có nhiều “Khúc” (theo cách tổ chức của thi sĩ), gồm trên 600 câu thơ, in từ trang 64 đến 98 trong tập thơ “Phấn đấu” ; với lối thơ tám chữ, vần gieo biến đổi phức tạp. Trường ca có mục đích phô diễn những quan niệm về tạo hóa, về vũ trụ, về thời gian, về nhân sinh. Có thể tóm lược nội dung như sau :  

       “Nhân loại” sinh ra là một mỹ ý của “Tạo hóa”, trong lòng của “Tạo hóa”. “Tạo hóa” muốn đặt trên mình “Nhân loại” sứ mạng chinh phục lại “Tạo hóa”, một cuộc chinh phục gian nan cao cả và thành công được phần nào là nhờ vào khối óc, vào ý thức – một báu vật mà “Tạo hóa” đã ban tặng cho Con Người. Nhưng “Nhân loại”  không hiểu ý nghĩa của sứ mạng đó trong vòng tay “Tạo hóa” để được hưởng những bảo vật “Tạo hóa” ban cho trong công cuộc khám phá những bí mật của Vũ trụ mà “Tạo hóa” thách đố, lại gây ra chiến tranh tàn sát lẫn nhau, hủy hoại trái đất, không có cơ dừng . Thi sĩ dựng lại sự hình thành của trái đất và muôn loài, tưởng tượng cảnh trái đất bị tàn phá sau các trận chiến của con người, từ bến mê  tỉnh lại, đau đớn nhờ cánh Nàng thơ đưa đến tương lai, tới một thời kỳ ước mong, trong đó “Nhân loại” tái sinh sống tưng bừng trong một xã hội không có lửa chiến tranh. Nàng thơ mời thi sĩ đến dự một cuộc liên hoan trên đỉnh Hy-mã-lạp-sơn,  trên đó, có các đại biểu của “loài người đã giác ngộ” xác định cái tân lý tưởng của “Nhân loại”.  Loài người tới đây hết ác tâm, thôi tương tranh, dồn khả năng vào việc chinh phục thiên nhiên để tạo ra hạnh phúc vững bền – một ước mơ còn đau đáu với thời gian …                                          

                    Mở đầu trường ca, Thi sĩ mô tả một đêm khuya trơ trọi dạo bước nơi đồng không :

Còn nhớ lúc tâm thần như trống rỗng,                                                                                      Một mình ta trơ trọi giữa đêm khuya,                                                                        

Rảo chân bước vu vơ nơi đồng rộng,                                                              

Mảnh không gian đen đặc chứa ly kỳ,                                                          

Chẳng có tiếng dế kêu trong khóm cỏ,                                                   

Tiếng ve than rên rỉ với cành sương,                                                             

Tiếng rắn thở phì phào trong cổ mộ,                                                           

 Tiếng xạt xào lau lách mé Tô-giang…

Thi sĩ nhìn vào khoảng vũ trụ bao la, mù mịt , huyền bí của “Tạo hóa”, một nỗi buồn nhân thế tràn ngập tâm hồn :

Thôn dã ngủ, say mê, không chó sủa                                                               

Nước sông trôi lặng lẽ bởi vì đâu ?                                                                                                            Cây im tiếng, dứt tình vương vít gió,                                                                                       Khoảng mông lung chan chứa biết bao sầu … 

Trong sự tĩnh mịch tuyệt đối, tối tăm như màu mực, Thi sĩ muốn tìm một kẻ đối thoại :

Ta muốn gặp yêu tinh hay quỉ sứ,                                                                                                           Hay ma chơi cùng thánh chúa thiêng liêng,                                                                                                            Ta muốn gặp oan hồn cô thiếu nữ                                                                                                                       Xót xa thân ngồi gỡ mối tơ duyên,                                                                                                                 Ta muốn gặp đấng anh hùng muôn thuở                                                                                                               Đã bao phen vùng vẫy chốn trần ai,                                                                                                                             Ta muốn gặp tất cả người thiên cổ,                                                                                                     Để cho ta chuyện vãn một đôi lời …    

                và :

Để ta hỏi “Dương gian và Địa phủ                                                                    

Có những gì khác lạ đáng ghi chung?                                                             

Và kẻ chết, hóa thân cùng cây cỏ,                                                                         

Đến nay còn lưu luyến kiếp người không ?....

  Rồi Thi sĩ lạc vào cõi u minh, từ bỏ “Nhân loại” đang trong vòng chinh chiến, “dấn thân vào cõi chết ưu tư ”, đi tìm một ngôi sao sáng làm kim chỉ nam hướng nẻo cho Loài Người :

Sao hướng dẫn loài Người lên cõi sáng,                                                                                                      Chốn cao siêu, lộng lẫy, thỏa hương sen…                                                                                                       

Sao sáng đã chiếu rọi tâm trí Thi sĩ, tỏa sáng một lý tưởng cao đẹp mà “Nhân Loại” cần theo đuổi. Đó là biến trái đất thành “Nơi tranh đấu, nhưng thái bình vô hạn”, và Con Người  Lấy từ tâm, trí rộng để phân quyền”  .                                                                                               

Thi sỹ ngược dòng quá khứ, gợi lại lịch sử Vũ trụ từ khi “đám tinh vân man mác, giữa thái không bát ngát tự vần xoay”, trái đất hình thành, rồi trên trái đất trải ra các địa kỷ, rồi các loài xuất hiện . Với nghệ thuật khắc họa nhiều màu sắc các cảnh trí khác nhau của Vũ trụ và Trái đất từ thuở hồng hoang đến khi tràn đầy sự sống, cái chết.  Những vần thơ vừa tha thiết, vừa có tính khái quát cao với bút pháp sử thi quen thuộc, đập mạnh vào lý trí, bựt chớp nhoáng vào tiềm thức, cọ sát vào ý trí người đọc trong những nhịp thơ và câu thơ rất mới lạ :

…Trái đất cổ, ấy bột nhào tinh khiết                                                                                                                                        Chưa khoác hình khuôn bánh để vô lò                                                                                                                     Ấy óc trẻ-như sao băng, ánh tuyết                                                                                                                 Chẳng dã man, thông thái hoặc đần ngu                                                                                                              Trái đất cổ như ngọc lành trong trắng                                                                                                       Giọt trăng thu lóng lánh vẻ yêu kiều,                                                                                                                          Như sóng mắt gái thơ ngây phẳng lặng                                                                                                         Chưa nhuốm màu thương nhớ, sắc tình yêu .                                                                                         Trái đất cổ, vườn hoang của Tạo hóa                                                                                                              Có hoa thơm, cỏ lạ, lá trăm màu .                                                                                                                                      Hỏi thú nhảy, dế kêu, chim giỡn cá,                                                                                                          Điểm tô gì bãi rộng với rừng sâu ?

               hoặc :

Tiết đông lạnh, khói chiều hun ngọn cỏ                                                                                                              Lá cây sầu, rơi rụng tả tơi bay,                                                               

Mặt trời xế, đắm mình trong vũng đỏ,                                                        

Tựa trâu vàng đuổi mộng phía trời Tây,                                                          

Đàn tuần- lộc ruổi giong đường hướng Bắc                                                                                                   Lũ voi già, sư tử kéo về Nam                                                                         

Núi hiểm trở, non cao rừng rậm đặc,                                                                               Rọi tà huy, ủ dột gió mây ngàn …

Ta hãy xem Thi sĩ mô tả giờ  chết của con voi Ma-mút (Mammouth) ở kỷ băng hà :

… Rừng rậm khoác sương the yên giấc ngủ ,                                                                                                 Ánh trăng thanh len lỏi xuống âm u .                                                                                                                            Mơ theo suối , trông giăng nằm ủ rũ                                                                                                                  Như lặng chờ hơi thở gió vi vu,                                                                                                            Một lão thú sù sì lông đen nhánh,                                                                                                          Cặp ngà to cong vắt, tuyết sương pha,                                                                                                          Bốn chân quỵ, vòi lìa, sờ sỏi lạnh                                                                                                             Với rêu trơn, đá rạn nẩy chồi hoa,                                                                                                           Muốn nhỏm dậy tới dòng suối quạnh,                                                                                                         Hút nước trong, tắm mát tấm can tràng                                 ………………………………………….

Buồn bã quá, lim dim đôi mắt híp,                                                                                                       Để vòi yên, thõng xuống mé phương khê,                                                                                              Không nhúc nhích, thú ta nằm thiêm thiếp,                                                                                                 Giải đuôi dài, khẽ thở, đuổi hôn mê                                         …………………………………………                                                                                         Lão Ma-mút lắc lư tai quạt vá,                                                                                                                       Rồi nghiêng nhìn trời thẳm – khấn cao siêu !                                                                                            Ôi thê thảm ! lệ sương rơi tầm tã,                                                                                                                  Giống tàn theo bóng trăng tàn, tàn theo ….

Và đây : hoa cỏ múa tưng bừng, thú chạy, chim hót, cá tôm tung sóng trên mặt biển, mây gió cuộn bay, diệm sơn nhả khói phun lửa, trái đất biểu dương một quang cảnh hùng vĩ  chào mừng  Loài Người ra đời :

Bình minh lại báo tin ngày khánh hạ,                                                                                                 Mở kho vàng gieo rắc khắp non sông,                                                                                                           Trái đất ngập ánh huy hoàng mới lạ,                                                                                                         Phủ sương mơ lóng lánh tuyết nhung hồng                                    …………………………………………….                                                                  

Bể đang tĩnh, cá reo tung bọt sóng,                                                                   

Bắn lên mây, gió cuộn, kéo về non,                                                               

 Lôi xuống núi, lửa phun, toang cửa động,                                                          

Đón vào hang, khói tỏa, cột hơi đùn… ……………………………………………                                                           Ngày Thủy –Tổ giống Người ta xuất hiện                                                       

Giữa vòng trời chìm bổng nhạc hoan hô

Từ ấy, từ ăn lông ở lỗ đi đến văn minh, mang hoài bão kiến tạo một thiên đường nơi hạ giới, tự hào với bao vĩ nhân đã thay đổi mặt địa cầu, tự hào sinh ra bao học thuyết cứu nhân độ thế, “Nhân loại” đã thu nhiều chiến quả trong cuộc tranh đấu mà “Tạo hóa” luôn bày ra để thử thách loài Người. Nhưng, với Thi sĩ :

Tạo hóa là đối phương bất khả bại                                                                     

Mà loài Người địch thủ chửa hề thua ;                                                        

Nhưng, lo lắng thay cho đời Nhân loại                                                           

Vì bại thời mất tích với ngàn thu …

Vì sao loài Người có thể thất bại trong cuộc tranh đấu với các thử thách của “Tạo hóa” ? Thi sĩ nhìn ra :

Ghê gớm thay nguyên nhân cuộc thất bại                                                     

Đã lôi kéo loài Người tới diệt vong .                                                               

Hỡi trái đất, mẫu thân của Nhân loại                                                                    

Đã bao phen máu vú chảy ròng ròng                                                                         

Bởi đàn trẻ sữa măng còn thơ dại                                                                    

Múa song chùy tranh lẫn vật chơi chung !

“Nhân loại” – đàn trẻ sữa măng còn thơ dại – đã tàn sát lẫn nhau, tranh giành và hủy hoại trái đất khiến máu vú chảy ròng ròng . Thi sĩ hoảng sợ khi nghĩ tới “Nhân loại” sẽ “mất tích với ngàn thu”, lạc vào cõi mê, tưởng tượng ra cảnh trái đất lúc đó. Những vần thơ của Thi sĩ như cho ta xem một đoạn phim viễn tưởng của Hollywood về hậu quả của “biến đổi khí hậu” tương lai đối với trái đất và nhân loại thời nay :

Rùng rợn quá! Trời ơi! Thê thảm quá!                                                                                                                                   Nếu Loài Người tiêu diệt bởi ươn hèn,                                                                                                        Bởi kém lực đấu tranh cùng Tạo-Hóa,                                                                                                           Để địa cầu diễn lại cảnh hoang viên :                                                                                                                Không một bóng thi nhân ngồi mơ mộng                                                                                                     Trên mặt hồ in liễu, hứng tà dương,                                                                                                        Không một tiếng nhạc lâm ly cảm động                                                                                                              Thường chuyển lòng chiến sĩ lúc đêm sương,                                                                                                 Không mỹ-nữ yêu kiều tha thiết dạo                                                                                                                              Ngoài hiên lầu phô sắc cánh hoa tươi,                                                                                                         Không mặc khách ngao du miền phương thảo                                                                                                  Chèo con thuyền đủng đỉnh dưới trăng cười.                                                                                                            Thành quách đổ, hoang vu cùng miếu, điện,                                                                                                     Phố phường xưa quạnh quẽ cỏ rêu phong ,                                                                                                  Làng mạc hóa âm u rừng vĩnh viễn,                                                                                                                                    Tháp chùa nghiêng, lặng lẽ tiếng chuông đồng .                                                                                                          Trái đất hỡi! Loài Người đã tiêu diệt!                                                                                                          Đâu phồn hoa đô hội cảnh thông thương ?                                                                                                        Đâu xưởng máy, vườn công, nơi diễn thuyết ?                                                                                          Đâu võ đài, hí viện với ca trường ?                                                                                                                      Đâu hơi ấm thiêng liêng thần thánh ?                                                                                                          Phong mẹ hiền, con thảo, cháu ngây thơ ,                                                                                                   Quanh đầu tỏa hào quang  vàng lóng lánh ,                                                                                                 Chạy nô đùa bên tóc bạc phơ phơ  …..

                và : 

…Không còn một mảy may di tích lại                                                                    

Nơi cát vàng, suối bạc, liễu hồ siêu,                                                            

Nơi tuyết trắng, băng trong, hồng giáng rọi ,                                                 

Nơi đồng xanh, non biếc, sóng cồn reo .                                                            

Quá khứ đã thành Tương lai, Hiện tại !                                                         

Thôi thế là xong ! Có cũng bằng không ! ...................................................................                                                

           Rồi Thi sĩ bừng tỉnh :

Từ cõi chết, hôn mê sang cõi sống,                                                                     

Ta đang mong tiếng nhạc đón ta về                                                               

Như chán cảnh âm u trong trời rộng,                                                                        

 Ta đang tìm ánh lửa lúc đêm khuya.                                                             

Đất hãy cựa cho máu hồng chuyển mạnh,                                                         

Gió lên mau quét sạch óc vương mơ !                                                                

Sao hãy mọc cho mộng tàn thức tỉnh !                                                            

Nước reo mau tiếp rước bóng Nàng Thơ …                   

Kêu gọi Nàng Thơ, thi sĩ muốn đón ngay Nàng Thơ vì Nàng Thơ là nguồn an ủi, là một bạn tình hòa hợp với hồn mình :

Nàng Thơ hỡi ! Đôi ta cùng thể chất,                                                       

Nhưng hai hồn, khi hợp lại như chia,                                                               

Là những lúc đôi ta tình ngây ngất,                                                                                

Ta, bên Nàng, trơ trọi đuổi theo mê…        

                       và :      

Hãy cùng nhau ôn lại quãng đường dài,                                                             

Hãy cùng nhau nghỉ chèo trong chốc lát,                                                          

Để cùng nhau hun ấm giá đôi môi.                                                                

Và đất vẫn chìm im trong phẳng lặng,                                                           

Gió vẫn còn mải thú tận đâu đâu,                                                                 

Sao vẫn chưa hiện hình : sương xuống nặng,                                            

Nước vẫn còn vương víu giấc canh thâu .                                                     

Nàng có thấu lòng ta còn khao khát                                                           

Được cùng Nàng giong ruổi phía tương lai ….      

Thi sĩ đã cùng Nàng Thơ giong thuyền trên sông Tưởng, bến Mơ . Một ngày xa xôi lắm ở Tương lai, nhìn về phía chân trời thăm thẳm trên nghìn trùng sóng nước, một ánh lửa bừng sáng, ánh lửa Lý-tưởng mà bấy lâu Thi sỹ cố tâm tìm kiếm, Thi sĩ vội kêu lên :

Kìa ánh lửa, Nàng ơi ! trong xa thẳm !                                                                    

Hỏi phương nào, có biết để qua chơi ?                                                       

Hãy tới đặng, quản chi muôn vạn dặm !                                                        

Phải chăng, Nàng ! ánh lửa của Tương-lai ? ….      

Thi sĩ được Nàng Thơ giải thích và cùng Nàng đi tới một miền cao vút ở dãy Hy-mã-lạp-sơn, nơi mà đêm nay ở đó tổ chức buổi dạ hội tưng bừng, có các đại biểu của “loài người đã giác ngộ” xác định cái tân lý tưởng của “Nhân loại”.  Loài người tới đây hết ác tâm, thôi tương tranh, dồn khả năng vào việc chinh phục thiên nhiên để tạo ra hạnh phúc vững bền. Lời kêu gọi của vị đại biểu lên diễn thuyết “Đi tới hòa bình vĩnh viễn của loài người” vang vang trong tiếng hò reo của của muôn triệu người :

…Hỡi anh em một nhà trong bốn bể !                                                            

Giờ vui này hẳn độc nhất vô song                                                                   

Trong lịch sử, từ khai thiên lập địa,                                                           

Tới ngày nay Nhân- loại giốc một lòng,                                                                 

Chung một dạ, cùng ôm một Lý tưởng,                                                                

Cùng nhắm theo một mục đích cao siêu                                                                                      Cùng tiến bước trên con đường vô thượng,                                                                

Cùng hợp nhau thành một khối cường kiêu                                                        

Để chống lại với Hóa-công thượng võ….      

       Làm thế nào để chiến thắng thiên nhiên ? Chiến thắng thiên nhiên là một chiến thắng đầy gian khó, cốt yếu là “Nhân loại” phải đồng tâm hợp nhất, quyết chí ; phải hy sinh cá nhân, tin tưởng vào thành công bên kia bờ gian khổ, đem ánh sáng Văn-minh Nhân-loại soi sáng một Vũ trụ đẹp ngàn đời . Trong trường đoạn thơ này, Thi sĩ đầy phấn khích, tạo dựng những âm thanh trong từng câu thơ với “Đoạn” dài, “Khúc” ngắn tung hứng, thể hiện rõ được một cuộc dạ hội tưng bừng Lý-tưởng độc nhất vô song với những câu thơ có cánh :

Anh em hỡi ! Những ai tay cầm đuốc,                                                                                               Giữa đêm khuya mờ mịt thẳng đường trông                                                                                             Y-Vĩ-Lịch, thần sơn cao chót vót,                                                                                                                       Vịn vai nhau, dấn bước tiến lên không…

                     Và :

Pháo nổ dậy, lệch chênh bầu vũ trụ,                                                              

Trống rung liền, loạng choạng bóng nhân gian.                                                

Đèn bựt chớp, miệng reo trời tưởng vỡ,                                                                 

Lửa vàng sao, tay vỗ đất hồ tan…     

     Thế nhưng, ôi thôi ! tất cả chỉ là một giấc mơ hão huyền ! Hồn Thi sĩ choàng tỉnh giấc cuồng say, bừng mắt nhìn một hiện tại phũ phàng, chua chát đang diễn ra trên trái đất khiến nhân loại lầm than, Thi sỹ vội kêu lên :

Nàng Thơ hỡi ! Ồ đâu mất ? Đâu mất ?                                                                       

Dãy bát ngát trường sơn, cảnh diễn đàn                                                             

Thế giới lạ của Loài Người hợp nhất                                                        

Đang say sưa, ngây ngất thú hân hoan ?                                                          

Nàng Thơ hỡi !Trời ơi! đây hiện tại !                                                               

Hãy chở ta đi ! Hãy chở ta đi !                                                                                

Về Tương-lai ! Tương-lai kia mãi mãi !                                                             Hãy chở ta đi ! Hãy chở ta đi …     

                Kết thúc một cơn mê, một hy vọng, một Tương-lai ảo mộng ! Kết thúc một trường ca của viễn cảnh xa xôi ….

               Nhà học giả Hoa-Bằng Hoàng-Thúc-Trâm có kết thúc lời “Tựa” mở đầu cho thi phẩm “Phấn đấu” của Thi sĩ Minh-Tuyền Hoàng-Chí-Trị  rằng :  

            “ Tác giả có những bước táo bạo và “mạo hiểm” : dám xông vào con đường gian lao, cô quạnh, tìm những vần thơ triết lý bao gồm quan niệm về Tạo-hóa, về Vũ-trụ, về Nhân-sinh… Và, một đôi khi hăng hái nhuộm thơ bằng màu sắc khoa học .                                       Nói tóm lại, tác giả tập “PHẤN ĐẤU” đã kéo thơ đi theo con đường “vị nhân sinh” để nâng nghệ thuật lên tuyệt đỉnh của lý tưởng .                                                                                          Tác giả đã thành công ?                                                                                                                      Trả lời câu ấy, tôi xin nhường quyền bạn đọc thân mến !  ” (“Phấn đấu”-trang15)

                       Thời gian vẫn không ngừng trôi, quá khứ vẫn còn đầy những dấu ấn, Tương lai sẽ đi về đâu ? Khi đang viết những dòng cuối này, tôi nhận được tin Hội nghị quốc tế vế biến đổi khí hậu tại Cancun ( Mexico) vừa kết thúc mà vẫn không đạt được thỏa thuận cần thiết giữa các cường quốc. Ôi, “Nhân loại” đang nghĩ suy gì ? Những cánh Thơ rút ra từ tâm can bao nhiêu Thi sĩ,  liệu bay về đâu ….  

                                                                     Hà nội, ngày 10/ tháng 12/ 2010

                                                                     ( Nguồn Phongdiep.Net )

 

 (*)  Trả lại tên cho một nhà thơ tiền chiến đất Thăng Long ;  Việt-nam có “Triết thi” ? ; “Hồi âm về nhà thơ tiền chiến Minh Tuyền – Phongdiep.Net                                                                                                      

 (**) Hồi âm ngắn xung quanh tác giả Minh-Tuyền   Lại-Nguyên-Ân – Phongdiep.Net

(***) - Phạm-Thế-Ngũ là tác giả cuốn “Việt nam văn học sử” – Sài gòn 1960 .

         -  Nguyễn-Tấn-Long là tác giả cuốn “Việt nam thi nhân tiền chiến” – Sài gòn 1967.

 

Phụ lục :

HỒI ÂM NGẮN XUNG QUANH TÁC GIẢ MINH TUYỀN  

                                                                                      Lại Nguyên Ân

         Tôi vừa đọc trên phongdiep.net một bài của Hoàng Thư Ngân nhan đề ‘Trả lại tên cho một nhà thơ tiền chiến đất Thăng Long’, nói về nhà thơ từng có nhiều tác phẩm, bài viết đăng trên báo chí trước 1945 với bút danh Thanh Tuyền hoặc H. Thanh Tuyền.

       Điều rất đáng khích lệ là bạn Hoàng Thư Ngân, qua một tư liệu là cuốn ‘Hương sắc Yên Hòa’  do phường Yên Hòa quận Cầu Giấy xuất bản nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Câu lạc bộ thơ (1995-2005), đã tìm thấy thông tin về nhân thân thật của con người từng viết ra và đưa đăng những bài thơ trong đó có bài thơ dài nhan đề ‘Tạo hóa và nhân loại’ (Tri tân, 1943). Theo nguồn này, nhà thơ Minh Tuyền có họ tên thật là Hoàng Chí Trị, sinh năm 1916, mất năm 2001, quê làng Cót tức Yên Quyết, Cầu Giấy, Hà Nội, là em họ của học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1901-77).

           Về tác phẩm của Minh Tuyền, bài của bạn Hoàng Thư Ngân mới chỉ nhắc đến bài thơ dài ‘Tạo hóa và nhân loại’ và bài bút ký ‘Thăm trại thanh niên Tương Mai’  (mà nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn và tôi đã đưa in vào sưu tập ‘Truyện và ký. Tạp chí Tri Tân, 1941-45’ , Nxb. Hội nhà văn, H., 2000). Nhân đây tôi xin nói thêm về các tác phẩm khác, cũng đã được sưu tầm và đưa vào các sưu tập do tôi tham gia thực hiện.

 1/ Trong sưu tập tư liệu ‘Phê bình văn học. Tạp chí Tri Tân, 1941-45’  (Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh sưu tầm, Nxb. Hội nhà văn, H., 1999), (tôi là người biên tập chính của Nxb HNV cho cuốn sưu tập này), có tuyển 1 bài của Minh Tuyền nhan đề ‘Triết thi’  (đăng Tri tân số 118, tháng 10/1943); chính bài báo này đã gợi suy nghĩ cho Nguyễn Đình Thi để cây bút trẻ này viết bài ‘Thơ triết học’  (đăng ‘Tri tân’, s. 135, tháng 3/1944) trao đổi và bổ sung quan niệm về khu vực mới mẻ này của sáng tác thơ ca.

 2/ Trong sưu tập ‘Thơ mới 1932-1945, tác giả và tác phẩm’  do tôi và nhà thơ Ý Nhi biên soạn (in lần đầu vào năm 1992, lần in gần đây nhất, lần thứ 6, vào năm 2004), có chọn in 5 bài thơ của Minh Tuyền từng đăng ‘Tri tân’ , đó là các bài: Hồn mộng; Hát Giang trường lệ; Sóng Bạch Đằng; Chơi thuyền; Hy vọng.   

        Đó là mấy thông tin gửi đến bạn Hoàng Thư Ngân và những ai quan tâm khôi phục tác phẩm và làm rõ nhân thân cùng sự nghiệp sáng tác, trứ thuật của những tác gia tiền chiến. Bạn Hoàng Thư Ngân nên tìm thêm tài liệu để viết thêm, làm rõ hơn về nhân thân và trứ tác của tác gia này.

       Nói chung, tôi mong là sẽ có thêm những bạn nghiên cứu trẻ đi vào khu vực ‘ôn cố’ này.

      Tiện thể xin nói thêm, tài liệu tạp chí ‘Tri Tân’  không phải là khó tìm. Gần đây, năm 2009, Viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ở Hà Nội đã thực hiện dưới dạng đĩa DVD sưu tập toàn bộ tạp chí ‘Tri tân’; tôi có giúp tìm những số cuối và viết lời giới thiệu chung về tạp chí này, in ngay trong đĩa DVD ấy. Bạn nào cần, xin đến liên hệ với trụ sở Viện này ở xóm Hà Hồi, Hà Nội.

                                                                                                                          29/8/2010  

 

 

 

Các bài khác:
· HOÀNG VŨ THUẬT VÀ T H Ế G I Ớ I 'M À U'
· BÓNG HỒNG HOÀNG LAN TRONG NHẠC TRỊNH
· THANH THẢO - NGƯỜI CHỞ SỬ THI BẰNG PHƯƠNG TIỆN HIỆN ĐẠI
· CHÙM THƠ 'GHI CHÉP THÁP MƯỜI' CỦA THANH THẢO
· NGUYỄN NGỌC TƯ - ĐẶC SẢN MIỀN NAM
· PHÙNG QUÁN VẪN SỐNG MÃNH LIỆT TRONG LÒNG BẠN ĐỌC
· ỨNG XỬ VỚI VĂN BẢN: TRƯỜNG HỢP PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA THỤY KHUÊ VÀ ĐOÀN CẦM THI.
· NGUYỄN DUY THI CHỈ
· THƯ NGỎ GỬI NHÀ VĂN TRẦN NGHI HOÀNG
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 5)
· CON NGƯỜI MINH TRIẾT TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
· THIỀN, TRIẾT VÀ SIÊU THỰC 'KHI NGƯỜI TA CÚI MẶT'
· NHỮNG CÁCH PHÊ BÌNH ĐỘC ĐÁO
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 4)
· NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN BỔNG: TRẦM LẶNG VÀ TINH TẾ
· THI SĨ NGUYỄN BÍNH VÀ... SỐ 4 KỲ LẠ!
· MỘT CÔNG TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC ĐƯỢC CHÚ Ý Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI
· ĐỌC TẬP THƠ 'NUỐT TRỘNG QUẠNH HIU'
· NHÀ VĂN SƠN TÙNG VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TÁC GIẢ QUỐC KỲ
· VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN

 

  
Gia đình Bích Khê