DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NHỚ TẾ HANH

                                                                                                                     Cao Huy Thuần

Năm ngoái, khi Tế Hanh mất, tôi định viết chút tưởng nhớ của tôi như thắp một nén nhang cho anh nhưng không viết được vì bài viết về anh đã nhiều quá rồi, mà ai viết cũng hay. Năm nay, ngày giỗ đầu, tôi lại định viết, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, kỷ niệm của tôi về anh có bao nhiêu đâu, viết e vô duyên.

Nhưng không viết thì lòng không yên. Giữa anh và tôi, dù sao cũng có chung với nhau một con sông ấy, con đường ấy, nhà ga ấy, trường học ấy, người cũ ấy, tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng đã từng như nhau vương vấn một đời. Bởi vậy, đọc thơ anh từ thuở "Nghẹn ngào" cho đến những bài cuối, tôi cứ có hoài những cảm xúc cũ, tuồng như cái nghẹn ngào ngày trước cứ theo tôi đi suốt thơ anh. Nếu tôi có chủ quan ở đây thì cũng mặc kệ, anh Tế Hanh nhé, tôi cứ đọc thơ anh như vậy, bởi vì "cánh buồm giương to như mảnh hồn làng" trong tôi không giống bất cứ cánh buồm nào trong lòng ai khác. Nhà ga cũng vậy. Tế Hanh cũng vậy.  Anh cho phép người em nhỏ này đọc những bài thơ bình dị của anh nhé, như bài thơ nổi tiếng của anh đã được bao nhiều người trích dẫn rồi.

Nhà ga ... thế hệ tôi, thế hệ sau tôi, ai mà chẳng thuộc lòng "Những ngày nghỉ học"? Nhưng có ai tiếc với tôi chăng cái nhan đề nguyên thủy của bài thơ thân thương ấy: "Vu vơ"? Có ai nghẹn ngào với tôi vì cái chi tiết này không: ga của Tế Hanh chỉ có tàu đi, không có tàu đến:

Những ngày nghỉ học tôi hay tới

Đón chuyến tàu đi đến những ga

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh: NLD
Anh có đi đón thật, nhưng anh đón những chuyến tàu đi. Nhà ga của anh không phải là chỗ đến, chỉ là chỗ đi. Chỗ để anh xem tiễn biệt. Chỗ bơ vơ. Nhà ga Châu Ổ - Bình Sơn của tôi quả là vậy. Mà nhà ga Huế cũng vậy. Chỉ có những chuyến tàu đi. Và tàu đi rồi thì ga trống trơn, nằm buồn thiu nghe gió thổi mông lung trên mấy bông cỏ may hiu hắt. Nhà ga ấy sinh ra chỉ để tiễn biệt con tàu. Con tàu sinh ra chỉ để tiễn biệt linh hồn Tế Hanh. Sau này, dù đi khắp cùng các nhà ga lớn trên thế giới, dù mỗi tuần hai lần phải lên xe lửa đi dạy, nhà ga, đối với tôi, dù tấp nập mấy đi nữa, vẫn vương vương buồn, cái buồn ga xép của hồn Tế Hanh. Chẳng vu vơ sao.

Ngày tôi  bắt đầu đi học, Tế Hanh đã rời con đường ấy rồi, con đường dẫn từ Châu Ổ đến trường huyện Bình Sơn. Mấy ai đọc "Có những con đường" mà thấy trước mắt như tôi cái "nhà người yêu mến" ấy và đôi má quá có duyên của chị? Tế Hanh hồi trẻ rất đẹp trai, nhưng ai dám nói đẹp trai thì không thất tình? Cho nên tôi lại thấy rõ trước mắt cái "trung tâm điểm" mà anh chàng si tình kia đi qua đi lại, mắt chỉ liếc ngang mà không dám liếc vô:

Ta gửi tình ta ở khoảng đường

Bước này tưởng nhớ, bước này thương

Tay đưa ngượng nghịu, hàng mi chớp

Ngực đánh dồn thêm, chân vấn vương.

Đi mãi không hề biết mỏi xa

Đi suông không dám ngó vô nhà

Đường thường bỗng hóa trung tâm điểm

Lắm cớ xui mình phải bước qua.

Con đường, nhà ga, cánh buồm... từ cái hồn mà anh gửi vào trong đó, tôi bắt chợt được hồn anh trong những vật rất tầm thường mà tôi cũng có chung với anh lúc nhỏ. Ôi, cái rổ may! Sao anh thấy được thơ trên cái rổ may hèn mọn ấy? Có phải vì anh đi học xa nhà từ nhỏ như tôi? Có phải vì anh cũng nên người từ trên cái rổ may ấy, từ sợi chỉ cây kim tằn tiện của các bà mẹ Đông Yên, Bình Sơn?

Lơ thơ chỉ rối sợi con con

Những cái kim hư, hột nút mòn

Tằn tiện để dành trong lọ nhỏ

Vải lành gói ghém mấy khoang tròn.

Già rồi, đọc lại bài thơ vẫn mủi lòng như thường. Nhớ mẹ, như anh từng nhớ:

Mẹ ơi! Chiếc áo con đã rách

Con biết làm sao trở lại nhà

Để mẹ vá giùm! Con thấy lạnh

Gió lùa nỗi nhớ thấm vào da.

Tầm thường hơn nữa là quyển vở nháp của học trò trường huyện. Anh yêu ai, tôi không dám nhắc, tuy biết với mắt trẻ thơ. Nhưng yêu quyển vở nháp thì chắc chắn là có cha tôi trong đó. Tôi là con ông giáo nên thấy hiện ra ngay quyển vở soạn bài của cha tôi và quyển vở nháp của anh:

Những vở soạn bài hay toán, luận

Địa dư, cách trí... dáng lo âu

Chỉnh tề, đầy đủ như ông giáo,

Vở nháp lôi thôi giống học trò.

Tôi thấy lại cha tôi cặm cụi gạch viết ngay hàng thẳng lối mỗi buổi sáng tinh sương, dưới ánh đèn dầu ở Bình Sơn, soạn bài với tất cả lòng yêu nghề,  đến nỗi bao nhiêu thế hệ học trò đi qua đều thương quý thầy như cha ruột. Bây giờ, lắm người thấy cái hồn trong "Quốc văn giáo khoa thư" mấy ai thấy cái hồn trong quyển vở soạn bài của cha tôi hay quyển vở nháp của Tế Hanh? Tầm thường mấy câu chữ học trò vậy thôi, nhưng đó là cái tầm thường của mấy quả táo vặt, đặt trên bàn thì vô tri, đặt vào tranh tĩnh vật thì toát ra hồn.

Hồn: đó là thi tứ của Tế Hanh. Bao giờ anh cũng muốn làm bật ra cái hồn trong mỗi tĩnh vật. Lắm khi anh phải gọi tên nó ra. "Những buổi mai trưa nắng chói xa / Hồn tôi lóng lánh ánh dương sa", ấy là anh nhìn con đường quê. "Đốt cháy bao la sánh mặt trời / Linh hồn mùa hạ hiện thân ơi", ấy là anh nhìn hoa phượng. Không gọi, hồn vẫn kín đáo rộn rã. Con đường si tình của anh chẳng hạn, thương quá, nó đang "sầu tủi" cùng anh:

Ấy lúc lòng ta hết với người

Hay là yêu mến đổi dời nơi

Con đường bị bỏ trong quên lãng

Sầu tủi nằm thương dưới bụi đời.

Sau này cũng vậy, dù  là đi đánh Tây, đánh Mỹ, xây dựng chủ nghĩa, chế độ, thơ của anh bao giờ cũng chú trọng đến cái hồn, lắm khi giữa một bài khô rốc, tôi cũng vẫn có thể giật mình vì một câu khêu gợi cái hồn cũ. Hoa phượng thì tôi đã nói rồi, những vẫn nhắc lại, vì cái hồn của phượng Huế không rời anh:

Không một cành riêng hay một khóm

Mà như tất cả sáng trên đầu

Hồn trưa rạo rực trong ai đó

Suối đỏ lan tràn đến tận đâu?

Hoàng hôn là cái buồn muôn thuở trong thơ, nhưng mấy thơ bắt chợt được cái hồn của hoàng hôn trong tiếng gà con lạc bầy kêu mẹ:

Một con gà nhỏ lạc trong thôn

Mất mẹ bi thương gọi đứt hồn

Có phải lòng tôi đau quạnh quê

Kêu tim lòng bạn giữa hoàng hôn?

Vật càng nhỏ, cái hồn càng lớn. Một sợ cỏ may của anh chứa cả mùa thu:

Tôi đi để mặc cỏ may

Hai hàng bờ biếc ghim dày quần tôi

Dừng chân dưới một quả đồi

Gỡ từng sợi cỏ, tôi ngồi nhìn thu.

Tôi ngồi nhìn thu... mấy sợi cỏ may chắc bỗng giật mình. Không có hồn thì thơ anh không yên, cho nên đôi khi anh phải đóng vai trò ông Tạo Hóa thổi hồn vào cảnh. Cô dân quân vai đeo súng tập lái máy cày giữa nông trường kia, cô oai dũng quá, khiến thơ tôi cũng oai dũng theo. Tôi gửi thêm chút hồn vào cô nhé. Thế là có một vết bùn trên má cô, khiến cô có duyên mà thơ cũng bỗng có duyên: Trông cô càng đẹp bên tay lái / Một vết bùn in giữa má duyên. Cũng vậy, anh đi sơ tán về, gặp lúc vợ đang thổi cơm, củi không có, chỉ có rơm với khói, anh gửi yêu thương tràn đầy vào đâu? Vào một vết nhọ đen trên má vợ:

Anh ngẩn ngơ nhìn vết nhọ đen

In trên gò má ứng thêm duyên

Đôi môi thắm mọng khi em nếm

Canh cá cần gia muối ớt thêm.

Cảnh thực đơn sơ tình vợ chồng. Rất thực. Nhưng mấy ai dám bỏ muối ớt vào thơ như thế? Mà ai dám nói câu thơ ấy thật thà? Có lẽ chỉ có ai vô phước không được vợ nấu canh cá cho ăn mới không rung động trước câu thơ vừa thực vừa tình như vậy.

Nhưng thực và thơ, thực và mộng, thực và linh hồn... đâu phải dễ gì cho ông Tạo kiếm được chút bùn hay chút nhọ đen? Hiện thực chủ nghĩa là ngọn đuốc soi đường đi cho thơ Tế Hanh sau buổi "hoa niên", nhưng đuốc cũng phải cần lửa như xác cần hồn. Nếu không thì chỉ như thế này:

Củ cải dài hơn tấc

Lợn nặng một tạ ba.

Anh giải thích: "Tôi muốn viết những bài thơ dễ hiểu / Như  những lời mộc mạc trong ca dao". Nhưng ca dao mộc mạc mà thơ mộng quá chừng. Thơ anh cũng vậy. "Bài thơ tình ở Hàng Châu" là một tuyệt tác. "Vườn xưa" là tuyệt tác. "Những con sông quê hương" cũng vậy. Khi đằng sau cái dễ hiểu chỉ có cái dễ hiểu thì thơ thành củ cải. Khi đằng sau cái dễ hiểu lóe lên thi tứ thì Tế Hanh hiện hồi. Chẳng hạn khi anh về thăm lại vườn cũ:

Hai mươi năm trở lại

Mảnh vườn cũ gia đình

Toàn những loại cây mới

Như bỡ ngỡ nhìn mình.

Cái "bỡ ngỡ" ấy là thi tứ truyền qua người đọc. Cây như biến thành người. Chúng lạ với anh và anh cũng lạ với chúng. Chúng không biết anh về lại miền Nam thân thương của anh sao? Cây vú sữa, cây trứng gà, cây mãng cầu xiêm, cây lạ mà tên tuổi gì cũng lạ hoắc; đâu rồi cây mít, đâu rồi cây ổi, đâu rồi cây chanh? Ồ, may quá, đây rồi, cái hồn của vườn cũ hiện ra:

Chỉ còn cây lựu già

Từ thời ông để lại

Đỏ chói một chùm hoa

Tuy từ lâu không trái.

Nhà thơ Tế Hanh (thứ 2 từ phải sang) cùng các nhà thơ Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn. Ảnh: thethao&vanhoa
Ôi chung thủy! Người cũ vẫn dai dẳng đợi chờ! Ai dám nói anh chỉ tả cảnh thực? Ai không thấy anh đang mộng? Mộng hương thơm cây mít. Mộng tay ai hái ổi. Mộng tóc mẹ thơm chanh. Nếu thực không đi đôi với mộng thì còn gì là thơ?

Mà chính anh, anh cũng thú nhận lẫn lộn giữa mộng và thực. Biển, mà anh nhớ như nhớ người yêu, là thực hay mộng? Cái chấm xanh trên Thái Bình Dương ấy, cát trắng, nắng vàng, trời biếc, tiếng sóng vỗ hoài trong giấc ngủ của anh đó, mộng hay thực?

Nơi rất thực mà cũng là rất mộng

Của đời tôi yêu biển tự bao giờ

Tình yêu cũng vậy, nếu không có mộng trong thực, làm sao anh yêu được?

Ta đã yêu em

Như yêu sự sống

Ngày hiện trong đêm

Thực hòa với mộng.

Bời vậy, anh cần gì phải lý thuyết nhiêu khê với liễu trong thơ Đường, liễu trong tranh Tống,  hỏi làm gì chúng nó thực hay mộng? Nếu chúng là thực, chẳng lẽ lá liễu nơi mắt người yêu cũng là thực chăng? Ôi thôi, còn gì là mắt em tôi! Còn gì là thơ khi thiếu chiêm bao?

Nhưng nếu chẳng thơ Đường

Nếu không màu tranh Tống

Không huyền ảo chiêm bao.

Chắc gì trong cuộc sống

Liễu đã mang thơ vào

Chắc gì mắt em như lá liễu

Đã cắt lòng anh một nét dao?

Biết vậy, sao lòng anh vẫn không yên? Cứ hỏi lui hỏi tới:

Sao không làm cho

Nghệ thuật phải giống cuộc đời

Mà lại làm cho

Cuộc đời phải giống như nghệ thuật?

Cuộc đời phải giống như lý tưởng của nghệ thuật chứ! Phải Đẹp hơn chứ! Phải Tốt hơn chứ! Phải Chân Thật hơn chứ! Phải đem lá liễu vào con mắt chứ! Và phải đem cả chiêm bao vào nữa thì thơ mới thực và mới bay lên. Như khi anh về Huế, Huế hoa niên của anh, sau mấy chục năm xa cách: đêm đầu tiên chăn gối với Huế, anh đâu có ngủ với con lợn tạ ba, anh vỗ cánh như bướm Trang Chu, bất biết anh là chàng trẻ ngày xưa đang mộng hay đôi lứa thực nào đó ngoài đời đang mượn mộng của anh để trùng phùng với nhau:

Trở lại Huế đêm đầu tiên

Chiêm bao lại thấy gặp em thế này

Mười lăm, mười tám thơ ngây

Mắt đầy cả nắng, hồn đầy cả trăng

Con đường đi học sương giăng

Lung linh hoa phượng kết bằng lưu ly

Lòng như tiếng sóng rầm rì

Câu thơ trong giấu nói gì yêu thương.

Diệu kỳ thay giấc mộng xuân

Bốn mươi năm lẻ đã ngừng không trôi?

Hay đôi bạn trẻ ngoài đời

Gặp nhau trong giấc mộng tôi, tình cờ?

Thực và mộng cứ vậy mà gặp nhau, hỏi han nhau, sóng đôi với nhau, đôi lúc gây nhau. Cũng như buồn và vui, im và nói, chúng ẩn rồi hiện như một nỗi lòng khắc khoải không nguôi. Tuồng như khi anh thực là anh phải thực. Khi anh vui là anh phải vui. Khi anh hùng hồn là anh phải hùng hồn. không phải anh dối lòng đâu! Có ai thật với thơ như anh! Thật đến não lòng. Nhưng rồi cũng tuồng như khi anh buồn thì anh rất sâu, khi anh im là anh rất thực. Buồn, anh không cần biện minh. Vui , anh phải tuyên bố. Nói, anh phải tìm chữ. Im, ấy là lúc anh sống với mình.

Đây, buồn vui, đậm đà trong câu thứ nhất, nghe sao sao ấy trong câu thứ hai:

Đôi lúc lòng tôi cũng ngậm ngùi

Nhưng mà cái chính vẫn là vui.

Yêu thơ anh, ai cũng tin anh thật lòng tuyệt đối. Nhưng anh vẫn thấy cần nói thêm, xác quyết hơn:

Trong thơ tôi có câu đầy nước mắt

Nhưng tôi không chán nản đâu anh.

Nói vậy thì nói vậy, chứ anh lại lý sự, tuồng như anh chưa được hài lòng lắm với sức nặng tương đối của buồn và vui trên hai lá cân hiện thực của anh. Cân lui cân tới, tuồng như anh bực mình, vứt cái cân đi, vùng vằng triết lý:

Đời tôi thực hay mộng

Đời tôi buồn hay vui?

Đời tôi là sự sống

Đời tôi là đời tôi.

Nếu là sự sống thì đời ai lại chẳng có buồn vui? Ý anh muốn nói: sự sống thì cũng có buồn, cho nên tôi cũng có buồn? đương nhiên là thế, nói làm gì? Đời ai chẳng thế, đâu phải chỉ anh? Hay là ý anh muốn nói: Mặc tôi sống thật với tôi? Vui, thì tôi nói tôi vui, buồn, thì tôi nói tôi buồn?

Có một cách thứ ba nữa mà, lạ quá, dù ở ngoài đời hay ở trong thơ, Tế Hanh làm ai cũng chú ý, dường như đây mới là nét đặc biệt của riêng anh, cả tính của anh: anh ít nói, nói nửa chừng,  nói nhát gừng, chưa nói đã im, miệng nói mà đầu để ở đâu đâu, như không phải đang nói với người đối diện mà nói với cái suy nghĩ vừa hiện ra nửa chừng trong đầu. Đó là những lúc mà thơ anh quyến rũ lạ lùng, như chợt bắt gặp lại cái hồn muôn năm cũ trong anh:

Tiễn em trong cảnh thu này

Lòng ta muôn tiếng sao đầy lặng im?

Tiễn nhau, im đã đành. Gặp nhau cũng im:

Gặp em câu cuối cùng chưa nói

Buổi sớm qua rồi, sắp hết trưa

Góc sân, ánh nắng như lưu luyến

Dừng lại trên chùm hoa báo mưa.

Tiễn nhau, im. Gặp nhau, im. Đi bên cạnh nhau, cũng im:

Phố này đêm ấy có trăng

Đi cùng một quãng nói bằng lặng im.

Đi bên cạnh nhau, im. Sống cả đời với nhau, cũng im:

Em biết không? Giữa anh và em

Không nói được nhiều hơn là nói được.

Vậy thì thực - mộng, buồn - vui, im - nói, đừng bắt thơ phải mất công lý luận. Anh có lý luận đâu với cái nghẹn ngào ngày trước? Anh cứ  để nguyên cái cảm xúc thanh xuân rất thực ấy và trân quý đặt nó trên bìa tập thơ đầu tiên của anh. Chủ quan, rất chủ quan, tôi muốn thầm thì với anh: Anh biết không, thơ anh nghẹn ngào từ đầu đến cuối. Buồn nghẹn ngào với vui. Im nghẹn ngào với nói. Thực nghẹn ngào với mộng. Vô lý nghẹn ngào với vô lý, càng vô lý càng đúng với sự sống. Như khi anh thủ thỉ:

Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui

Những ngày vui sao lại thấy ngùi ngùi.

Nói lại thủ thỉ nữa - khi nào Tế Hanh thủ thỉ sao anh dễ thương thế:

Giống như, em nhỉ, tình yêu vậy

Nước mắt song song với nụ cười.

Tôi gọi Tế Hanh bằng anh trong mấy lời nhớ nhung này, như một người em nhỏ, vì anh là học trò cũ của cha tôi ở trường huyện Bình Sơn. Khi tôi lớn lên ở Quảng Ngãi thì anh đã ra Huế học, chưa bao giờ tôi gặp anh. Nhưng cha tôi - và cả mẹ tôi nữa - đều nhắc đến anh hoài, khiến tôi cứ tưởng như có lần đã gặp mà quên. Vì con đường ấy chăng? Vì "nhà người yêu mến" ấy chăng? Trẻ thơ tưởng tượng những chuyện trai gái mà người lớn không ngờ được đâu. Tôi cứ nghĩ "người yêu mến" đó phải là chị ấy, chỉ vì anh Hanh đẹp trai mà chị ấy có đôi má quá có duyên. Mà không chừng tôi có cơ sở thực. Anh Hanh là học trò của cha tôi mà gia đình chị ấy lại quá thân với gia đình tôi. Mẹ tôi có con mắt rất tinh không chừng lúc nhỏ mắt tôi cũng tinh như thế. Cho nên, khi đọc bài "Dễ thương" trong Nghẹn ngào, tôi cứ bắt tôi phải nghĩ rằng người trong thơ phải là người cũ của tôi, rất thực mà cũng rất mộng:

Người khách vu vơ nóng đợi thầm

Diu dàng thấp thoáng bóng giai nhân

Thói nhà khép nép trong cây lá

Thổn thức thầm xem truyện Tố Tâm.

Chị ấy có thổn thức không với Tố Tâm thì tôi không biết. Nhưng tôi biết: chị thầm xem Tự Lực Văn Đoàn và thường lén cha xem trộm ở nhà tôi. Chỉ chừng đó thôi, bài thơ thơm cả lòng tôi tử nhỏ cho đến bao giờ.

Lần đầu tiên tôi gặp anh Hanh là đầu năm 1990 khi anh qua Pháp. Anh Nguyễn Xuân Sanh phải dắt anh đi vì cả hai mắt của anh lúc đó không thấy đường nữa. Tôi bất chợt hỏi anh: "Anh Hanh, anh có nhớ một ông thầy cũ của anh có họ giống tôi không?". Không một chút nghĩ ngợi, anh thốt: "Thầy Cao Huy Hy hả?".

Sau đó, anh Hanh và anh Sanh đến ở nhà tôi một buổi chiều, một buổi tối, một buổi sáng. Tôi đắc thắng với chính tôi vì tôi ngầm thất vọng về anh từ sau năm 1975. Anh quý cha tôi như thế, cha tôi thương anh như thế, vậy mà sao anh chẳng ghé thăm thầy cũ một lần? Bao nhiêu học trò cũ của cha tôi từ Bắc vào Nam đều tìm đến thăm cha tôi, chỉ thiếu anh. Anh thương nhớ quê hương suốt đời thơ của anh, thương nhớ con sông, thương nhớ miền Nam, "nhớ cả những người không quen biết", vậy mà anh quên thầy cũ được sao? Tôi hận anh như bị tình phụ. Rồi tôi tìm cách biện hộ cho anh. Hai mươi năm xa cách, anh về thăm mẹ chỉ được hai ngày, rồi " lại xin đi". Rồi cũng vì công tác, lần đầu anh đi ngang qua Huế mà không dừng chân, tội nghiệp, anh phải nài nỉ chiếc xe:

Nếu vì việc gấp không dừng được

Xin đi chạm chạm hỡi xe ơi!

Trời, sao anh không hỏi thầy cũ một tiếng? Cha tôi biến mất trong mộng của anh? Cha tôi biến mất  trong thực của anh?

Thế là tôi đắc thắng! cha tôi ngủ yên trong đầu anh. Gọi một tiếng là kỷ niệm bật dậy. Như nghẹn ngào òa ra.

Còn một nghẹn ngào này nữa mà tôi cứ tiếc chưa có dịp đánh thức trong kỷ niệm của anh. Trước nhà xưa của tôi, ở bên kia sông Trà Bồng, xa xa trên một quả đồi nhỏ, thấp thoáng bóng ngôi chùa, ngôi chùa mà tôi cứ nghĩ là đã nằm trong những bài thơ đầu của anh. Sau này, khi anh đã được "trang bị" lại cho anh "một cách nhìn khác" về mọi sự mọi vật, anh tuyên bố từ giã "tấm lòng" của anh ngày trước, khi vu vơ say đắm trong những học thuyết của trường xưa.

Ôi cái thuở bao nhiêu học tuyết

Dắt ta đi vào cõi mờ hồ

Ngoảnh lưng thực tại đầy mâu thuẫn

Đi tìm ý nghĩa của hư vô.

Trong những hư vô mà anh từ giã, có ngôi chùa của anh ngày xưa chăng? Tôi đọc lại bài "Chùa" và muốn nghĩ rằng không. Thứ nhất, không, vì nếu anh từ giã, sao  bài thơ lại nằm vinh quang như thế trong tuyển tập? Thứ hai, không, vì anh thương chùa không thua gì thương những con đường quê hay sông nước của anh. Thứ ba, không, vì anh nói rõ: chùa là nơi anh đã quay về sau khi chán nản với "gió lãng mạn""thuyết hoài nghi", nghĩa là những gì đã ám ảnh anh dưới mái trường thuộc địa. Vậy thì, giá như tôi có dịp nhắc lại chùa với anh, biết đâu anh cũng mừng rỡ như khi tôi nhắc lại cha tôi. Tôi nhắc lại cả bài nhé:

In rõ rệt chân trời quá khứ,

Chùa không thôi tình tự thuở xa xăm

Tuổi thơ tôi là cả một đêm rằm

Trăng to rạng sáng chầu quanh đức Phật

Hồn thanh thoát chưa hề vương vật chất

Đồng vọng xa cùng nhịp tiếng chuông bay

Này hai cây bạch lạc ánh hai tay

Đôi mắt chói này rung trong ngọn nến

Niềm tin cần tượng hình lên trái chín

Phút tâm thành ngào ngạt tỏa hương hoa.

Ôi buổi lớn khôn ! ơi buổi xa nhà

Tôi đâu biết cách xa chùa đến thế

Gió lãng mạn thổi qua buồn thế hệ,

Sóng thị thành tan giã cả lòng tin.

Thuyết hoài nghi mờ xóa những kinh nguyền

Buồn số kiếp đưa về cơn gió lạnh

Bước chán nản trên những đường hiu quạnh

Chiều hôm  nay tôi chạnh nhớ chùa xa

Tiếng chuông kêu như mẹ gọi chan hòa

Tôi ôm ngực tưởng chừng tim sắp vỡ

Bóng đêm xuống bao trùm trong tím mộ

Đường sương ơi, người chạy đến thời xưa?

Dắt ta đi trở lại viếng thăm chùa.

Cho đến cả bây giờ, mấy thơ thắm thiết với chùa đến thế như thơ Tế Hanh? Chẳng ai nhắc đến bài thơ này, chỉ hai anh em thôi nhé. Anh định nghĩa:

Một bài thơ hay như một tấm gương trong

Mình thấy mình trong đó.

Anh thấy anht rong đó. Tôi thấy cả anh lẫn tôi trong đó. Bao nhiêu người trong đó chắc cũng thấy cả họ lẫn anh.

Đất nước chiến tranh, chia cắt, cách mạng, xây dựng, thơ của anh đã mang sức sống cống hiến to lớn cho hiện thực vinh quang. Một chút quên trong bao nhiêu nỗi  nhớ, có sao đâu, chùa và thầy cũ của anh cũng vui vẻ sống " hiện thực" cùng anh. Mà quá hiện thực đi chứ! Xem nào:

Giặc phá hết nhà trường

Các em không chỗ học

Thầy giáo bàn với sư

Vào trong chùa mở lớp

Dưới gốc đa cổ thụ

Tiếng các em học bài

Xen tiếng kinh tiếng mõ

Nghe thật là vui tai.

Trên tòa sen đức phật

Nhìn bầy trẻ thơ ngây

Mỉm cười: - Nơi cực lạc

Có lẽ là nơi đây?

Đúng thế! Khỏi cần? ! Mà chùa còn hiện thực với anh cả trong triết lý nữa. Từ tim ai anh thốt lên câu này, tim của anh hay tim của chùa:

Ta không phải người đi tìm khổ đau

Nhưng đau khổ vẫn là sự thật.

Và từ mắt anh hay mắt của chùa, ai nhận ra luân hồi, trong tĩnh vật trái cây:

Cho  một ngày lúc rụng rơi

Hân hoan trái chín biệt ly đời

Vào trong tất cả, vào trong chết

Mang nặng mầm sinh buổi phục hồi.

Cây cối mà còn như vậy, huống hồ con người. Nhắm mắt rồi, sự sống vẫn còn. Sự sống đi tìm sự sống. Đâu phải chùa nói, anh nói đấy:

Khi ta vào trong vũ trụ mênh mông

Những nguyên tử đời ta còn hoạt động

Ta vẫn tin mãi nằm bên sự sống

Như đất trời như núi như sông.

Anh Tế Hanh, anh đang sống hay chết? Mở tập thơ ra, ha ha, anh đã đầu thai ! Anh sống mãi mãi trong thơ tình của nh. Ha ha, sự sống đi tìm sự sống.

Phụ chú:

* Về con người của Tế Hanh, cá tính "nói nửa chừng" của anh, Vương Chí Nhàn kể lại rất hay: "Tế Hanh, Lời con đường quê" http://www.viet-studies.info/VTNhan/VTNhan_CayBut_doi_nguoi....

* Từ nói  nửa chừng đến làm thinh, Nguyễn Trọng Tạo thuật lại hai "Câu thơ" lý thú của Tế Hanh trong "Rớm lệ Tế Hanh" http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2009/07/16/vinh-bi%E1%BB%87t-nha-th%C6%A1-t%E1%BA%BF-hanh/ :

Người ta hỏi tôi làm gì

-         Tôi làm thinh

* Trong nét chữ quờ quạng của Tế Hanh tặng tôi, anh có nhắc đến  Tường Đông -  cũng là học trò cũ của cha tôi ở Bình Sơn. Tế Hanh có tặng Tường Đông một bài thơ rất hay, đầy tình cảm, bài "Vườn cũ", in trong Hoa Niên, đăng lại trong Tuyển Tập.

* Nói là từ giã nhưng sự thực nếu không có ngọn gió "lãng mạn", văn học Việt Nam sẽ không có những Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh ... Dịp qua Pháp, năm 1990, tuy hai mắt đã không thấy gì, Tế Hanh vẫn tìm đến thăm cho được mồ Lamartine, ông tổ của dòng thơ lãng mạn Pháp, tác giả bài thơ cực kỹ lãng mạn "Le la" (Hồ nước) mà cả thế hệ của anh đều thuộc lòng hơn cả thuộc Kiều ..Anh nhắc đến Tường Đông khi ddeenes thăm mồ Lamartine, trong trang thư ghuệc ngoạc chữ được chữ mất gửi tôi:

Tường Đông người bạn tuổi thơ

Anh em con cậu con cô với mình

Từng yêu thơ La-mac-tin

Cái hồ lãng mạn mối tình El-via...

Ai mà từ giã được cái hồn của  mình? Ai từ giã được chính mình? Tế Hanh có bài thơ "Qua quê hương Lamartine" đăng trong báo Đoàn Kết ở Pháp năm 1990.

Nguồn: Vietnam.net

 

Các bài khác:
· CÁI “TÔI” HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TRONG BÚT KÍ 'AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ?'
· SARTRE VÀ VĂN HỌC
· MỘT GƯƠNG MẶT ĐẶC BIỆT TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940-1945
· HOÀNG VŨ THUẬT VÀ T H Ế G I Ớ I 'M À U'
· BÓNG HỒNG HOÀNG LAN TRONG NHẠC TRỊNH
· THANH THẢO - NGƯỜI CHỞ SỬ THI BẰNG PHƯƠNG TIỆN HIỆN ĐẠI
· CHÙM THƠ 'GHI CHÉP THÁP MƯỜI' CỦA THANH THẢO
· NGUYỄN NGỌC TƯ - ĐẶC SẢN MIỀN NAM
· PHÙNG QUÁN VẪN SỐNG MÃNH LIỆT TRONG LÒNG BẠN ĐỌC
· ỨNG XỬ VỚI VĂN BẢN: TRƯỜNG HỢP PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA THỤY KHUÊ VÀ ĐOÀN CẦM THI.
· NGUYỄN DUY THI CHỈ
· THƯ NGỎ GỬI NHÀ VĂN TRẦN NGHI HOÀNG
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 5)
· CON NGƯỜI MINH TRIẾT TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
· THIỀN, TRIẾT VÀ SIÊU THỰC 'KHI NGƯỜI TA CÚI MẶT'
· NHỮNG CÁCH PHÊ BÌNH ĐỘC ĐÁO
· ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 4)
· NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN BỔNG: TRẦM LẶNG VÀ TINH TẾ
· THI SĨ NGUYỄN BÍNH VÀ... SỐ 4 KỲ LẠ!
· MỘT CÔNG TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC ĐƯỢC CHÚ Ý Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

 

  
Gia đình Bích Khê