DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
GIANG NAM TIẾT LỘ BÍ MẬT PHÍA SAU BÀI THƠ 'QUÊ HƯƠNG'

                                                                                            NGUYỄN XUÂN THỦY


Căn nhà số 46 – Yersin còn giữ nguyên thiết kế từ thời Pháp nằm giữa Thành phố Nha Trang yên bình. Không cửa hàng cửa hiệu, chỉ có những nan sắt của hàng rào suốt một đoạn vỉa hè dài như trước một công sở. Những giò lan, chậu cảnh choán hết không gian tạo thành một khu vườn nho nhỏ. Sau những giò lan ấy là thư phòng. Ông ngồi bình yên trước mái hiên với một kệ sách kê tận dụng ngay ở sảnh cùng một bộ bàn ghế mây giản dị. Cái khung cảnh ấy dễ cho một liên tưởng về một sự an nhàn của một nhà thơ đã từng giữ chức Phó Chủ tịch tỉnh. Và cũng dễ liên tưởng rằng đó là một ân lộc của những tháng năm làm quan cách mạng. Nhưng không. Đây là căn nhà mà bà mua lại của một viên chức chế độ cũ từ ngày mới giải phóng Nha Trang. Thì ra bà cũng là một chiến sĩ cách mạng đã từng bị địch bắt vào tù 2 lần và nguồn cơn để ông viết nên bài thơ “Quê hương” mà nhiều thế hệ học trò từng thuộc lòng từng câu từng chữ.

Ông bà gặp nhau tại Đá Bàn – căn cứ địa cách mạng của Khánh Hoà những năm kháng chiến. Gia đình bà khi đó có nghề làm mắm gia truyền tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia cách mạng. Còn nhỏ tuổi nhưng cô gái Phạm Thị Triều đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Đồng Bò, gia đình lo sợ cho người nhắn gọi cũng không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà được điều lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy. Còn ông lớn lên, từ huyện Ninh Hoà cậu bé Giang Nam ra Quy Nhơn học trường Quốc học bậc cao đẳng tiểu học. Khi Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, ông gánh theo sách vở trở lại quê nhà tham gia công tác của xã phụ trách công tác thiếu niên và thông tin tuyên truyền. Xã Vạn Thắng của ông ngày ấy trong tình trạng “ngày địch đêm ta”. Các anh trai đều đã lên căn cứ hoạt động cách mạng, cha ông khi đó đã nói với các con rằng chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên. Và cậu con trai út, em của Giang Nam được giao lãnh trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha ông đành gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng vào cứ với các anh. Cha ông bảo, thôi bay đi đi chứ ở nhà để tau trông thấy bay bị bắt lính cũng không đành. Thế là cả bốn anh em trai đều lên đi theo cách mạng. Riêng ông, khi làm trưởng ban thông tin của xã đã thường viết thơ văn gửi cho báo “Thắng” là tờ báo kháng chiến của Khánh Hoà, cũng là tờ báo kháng chiến đầu tiên của vùng Nam Trung bộ.

Cũng nhờ viết thơ thường xuyên mà tỉnh đã có công văn xin ông về Ty Thông tin tham gia làm báo “Thắng”. Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời Giang Nam. Cũng tại đây ông đã gặp bà. Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng nên ông bà quen biết nhau, tuy “tình trong như đã” nhưng chẳng ai dám ngỏ lời. Chuyện yêu đương trong tổ chức ngày ầy là một cấm kỵ. Khi ông có tên trong đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thành lập sắp lên đường ra Bình Định tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết hiệp định Giơnevơ giữa ta và Pháp, tổ chức mới gợi ý để ông bà làm đám cưới để có sự ràng buộc mà “giữ được nhau”. Ở với nhau được hai đêm thì ông lên đường ra vùng tự do theo thoả thuận, bà từ căn cứ trở về Nha Trang. Từ đó là những tháng ngày ly biệt mặc dù sau đó ông được giao nhiệm vụ trở lại hoạt động trong lòng địch với bí danh Tư Gương.

Khi chia tay, ông bà và đồng đội hi vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần hiệp định, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày về. Ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang, được đưa vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động. Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng ông bà vẫn hoạt động ở 2 tuyến khác nhau không được gặp mặt, ông luôn phải cảnh giác giữ bí mật, ngoài lính tráng, công an mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang, dưới vỏ bọc một công nhân xưởng cưa ông đều đặn viết bài tuyên truyền cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên...

Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. Đây cũng là lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau ông bà mới có điều kiện ở bên nhau. Hai vợ chồng thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo, ông làm công cho một tư sản thầu khoán người Việt, bà buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chờ lệnh của trên, nhiệm vụ lúc này là dựa vào quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt, bị hi sinh. Đó cũng là thời gian bà sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất của ông bà. Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút ông về lại Khánh Hoà. Bà ở lại một mình nuôi con, con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà phải lấy chiếc áo của ông để đắp cho con đỡ khóc theo lời bà chủ cho thuê nhà tốt bụng. Nghe bà chủ nhà hỏi về người chồng bỗng dưng vắng mặt, bà phải nuốt nước mắt vào trong nói dối rằng ông lên Buôn Mê Thuột làm vì nghe nói trên đó trả lương rất hậu để chủ khỏi nghi ngờ về sự biến mất đột ngột của người thuê nhà.

Một đêm, địch ập vào bắt mẹ con bà giải đi dù lúc đó đứa con gái đầu còn đỏ hỏn, đó là năm 1959. Sau khi vợ con ông bị bắt, tổ chức đã cho người dò la tung tích của bà cùng đứa con gái nhỏ nhưng không tìm ra manh mối. Một buổi tối của năm 1960, ông được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin dữ: vợ và con gái ông đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi, Sài Gòn. Đau đớn đến bàng hoàng, ngay đêm hôm đó, tại căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hoà đóng dưới chân núi Hòn Dù phía tây thành phố Nha Trang, bên ngọn đèn thắp bằng nhựa cây, trong xúc cảm của niềm đau đớn tột cùng ông đã viết nên bài thơ “Quê hương” lay động lòng người. Sau này bài thơ đoạt giải nhì giải thưởng thơ năm 1960-1961 của Tạp chí Văn nghệ và đã trở thành một dấu mốc trong cuộc đời ông cũng là dấu mốc lịch sử của gia đình.

Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng đã có một kết thúc có hậu cho câu chuyện của gia đình Giang Nam. Vợ và con gái ông vẫn còn sống. Năm 1962, sau 3 năm bị bắt, bà và con gái bất ngờ được thả về do không tìm ra căn cứ kết tội. Suốt 3 năm cô con gái nhỏ phải theo mẹ hết nhà giam này sang nhà giam khác, bà phải đấu tranh quyết không chịu xa con, vì thế mà mẹ con vẫn được ở bên nhau vẹn toàn. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt. Thế nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hoà điều ông lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Ông bà vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để Giang Nam về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắc Lắc và Tuyên Đức. Về Khu chưa được bao lâu ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó Giang Nam được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư ký Hội. Từ đó là quãng thời gian ông gắn bó với hoạt động văn nghệ giải phóng. Nhưng một lần nữa ông lại phải chia ly đầy sinh tử với vợ con, năm 1968 vợ Giang Nam lại bị bắt lần hai vẫn với cô con gái nhỏ do sơ xuất của người giao liên. Mãi đến năm 1973, sau khi hiệp định Pari về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết vợ ông mới được phía bên kia trả về. Sau bao năm ly biệt, lúc này cô con gái của Giang Nam cũng đã mười lăm tuổi, còn ông bà tuổi cũng đã cao nên không sinh thêm được người con nào nữa. Còn đứa con tinh thần mang tên “Quê hương” thì đã không còn là câu chuyện của riêng ông bà và gia đình, mà đã trở thành một người bạn thân thiết với nhiều thế hệ bạn đọc trong Nam ngoài Bắc.

Bây giờ thì mọi chuyện đã lùi xa. Sau bấy nhiêu dâu bể ông ngồi đó bên những giò lan vươn cành đu đưa trước làn gió biển. Vẫn gương mặt với đôi kính gọng đen mắt trắng bình thản trước thế sự. Cô con gái duy nhất của ông bà hai lần vào tù cùng mẹ nay đã là một phụ nữ ngoài năm mươi, hiện giữ cương vị Phó Giám đốc của một công ty vận tải biển. Trong ngôi nhà thân thuộc, phía sau ông già nhỏ nhắn bên bàn viết vẫn có bóng dáng người bạn đời thấp thoáng ở phòng trong. Bà năm nay cũng đã bước vào tuổi 81, mắt chưa mờ nhưng chân thì đã chậm. Cuộc đời đã cho ông bà chữ thọ để được ở bên nhau hưởng những năm tháng cuối đời an lạc.

Ngoài hàng rào căn nhà của ông bà bây giờ vẫn gắn một tấm biển nhỏ khiêm tốn giới thiệu sản phẩm nước mắm truyền thống của làng Vĩnh Trường do các cháu của bà nối nghề với những chum vại, những thố gỗ lớn ủ cá biển để chắt lọc ra thứ nước mắm gia truyền tinh khiết. Đứng ở sân nhà ông bà có thể nghe thấy tiếng sóng biển Nha Trang ì oạp vỗ về như rì rầm kể chuyện, những câu chuyện lịch sử bi thương mà hào hùng của mảnh đất này…

Nguồn: lethieunhon.com

 

Các bài khác:
· NGUYỄN THANH SƠN: VĂN HỌC VIỆT NAM ĐANG PHẢI TRẢ GIÁ
· BẾN THẤT TÌNH
· PHÊ BÌNH TRUYỆN 'DỊ HƯƠNG' CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
· CÓ MỘT KHO TÀNG TRANH TRỊNH CÔNG SƠN
· THƠ TÌNH VÀ NGƯỜI ĐẸP
· TRỊNH CÔNG SƠN - 300 BỨC THƯ TÌNH GỬI MỘT NGƯỜI
· CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ NGUYỄN TUÂN VÀ NỮ SĨ VÂN ĐÀI
· NHỮNG VA CHẠM HAI MẶT – XÉT TỪ CẢM THỨC THƠ HẬU HIỆN ĐẠI
· ĐÀO CẢNG - THƠ VÀ ĐỜI
· ĐOÀN CHUẨN VỚI NHỮNG GIỌT THU CUỐI CÙNG
· BÀI CHÒI NGÀY XUÂN XƯA VÀ NAY - ĐI TÌM LỜI GIẢI MÃ
· CHỢ QUÊ CHIỀU CUỐI NĂM
· TRUYỆN NGẮN 2010 : THIẾU NỖ LỰC BỨT PHÁ?
· TIỂU THUYẾT 2010 VÀ NHỮNG TIẾNG NÓI PHẢN BIỆN
· SÔI ĐỘNG THƠ VIỆT NAM NĂM 2010
· BÀN VỀ THƠ - phần 2
· THANH THẢO - NGƯỜI LẬP KỶ LỤC GHINET CHO THƠ VIỆT
· BÀN VỀ THƠ
· SỰ TRẢI NGHIỆM VÀ TÍCH HỢP CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA VÙNG MIỀN VÀ CẢM QUAN NGHỆ THUẬT NGUYỄN DU
· VŨ HOÀNG CHƯƠNG - 'THƠ TA CHẲNG VIẾT CHO ĐỜI'

 

  
Gia đình Bích Khê