DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NHỚ NỮ THI SĨ 'BỨC TRANH QUÊ'

Bà kể: Tôi viết “Bức tranh quê” khi hay tin báo  “Ngày nay” có tổ chức cuộc thi và thời hạn chỉ còn một tháng. Bố tôi không cho tôi theo con đường văn thơ nên để canh chừng ông chị Sen phân công các em tôi mỗi đứa canh một bậc thang cào lúc bố tôi ngủ trưa trên gác hễ nghe tiếng động là báo ngay. Tôi viết bằng bút chì với quyển sổ nhỏ để dẽ dấu. Mỗi buổi trưa tôi làm xong một bài. Chưa biết yêu nên tôi không thể làm thơ tình như Xuân Diệu, hoặc làm thơ Bạch Nga mười hai chân như Nguyễn Vĩ, mà chỉ làm thơ tả cảnh quê hương mình đang sống. Nghĩ đến đâu, thích cảnh gì , tôi làm thơ về cảnh ấy. Làm rất nhanh. Đúng ngày hết hạn nộp tôi viết xong 30 bài. Trong cuộc thi đó tôi đã được giải cao (cùng Nguyễn Bính). Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc hân hoan của mình lúc ấy. Vừa tự hào, vừa lo sợ. Vì từ bé tôi có bao giờ rời bến sông Thương để đến chốn Hà Thành đô hội , giờ lại được mời lên tòa soạn báo Ngày nay nhận giải thưởng , được gặp các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Như từ dưới đất chợt bay bổng lên mây vậy. Số tiền thưởng lúc đó được trao là 30 đồng. Mà gạo lúc đó một tạ chỉ có ba đồng. Tức giải thưởng trị giá đến một tấn gạo.




Nhớ nữ sĩ  của “Bức tranh quê”


TRẦN HOÀNG THIÊN KIM


Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam  lại "vùng lên" mạnh mẽ như ở thế kỷ XX. Cả về số lượng lẫn chất lượng. Chỉ riêng thi ca, mở đường là những "bông hoa" của vườn Thơ mới thời tiền chiến tiêu biểu như Nguyễn Thị Manh Manh, Vân Đài, Ngân Giang, Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng tuyết, Mai Đình... Họ là những cây bút nữ tài năng, lúc lặng lẽ, lúc sôi động họ đã góp những tiếng thơ đầy nữ tính làm đẹp nền thơ Việt Nam đương đại. Trong đó Anh Thơ - bông hoa dại đến từ bến sông Thương ngay lần "khoe sắc" đầu tiên với Bức tranh quê đã lặng lẽ ôm giải thưởng danh giá Tự Lực văn đoàn trước sự ngẩn ngơ của bao chàng thi sỹ. 

Bà xuất thân trong một gia đình công chức nhỏ. Sớm được tiếp nhận những nguồn ảnh hưởng văn học dân tộc truyền thống, yêu thơ và sáng tạo thơ của ông ngoại, những chuyện cổ tích do bà nội kể, những vần thơ lục bát và khúc hát ru của mẹ nên ngay từ nhỏ bà đã có ý thức sáng tạo thi ca. Bà bồi hồi nhớ lại: Tuổi thơ tôi may mắn gắn liền với ruộng đồng sông nước, quê hương lại được nuôi dưỡng trong gia đình yêu thi phú âm nhạc. Người mà tôi chịu ảnh hưởng đầu tiên là ông ngoại. Vốn là một Phó bảng gốc Sơn Tây, ông được bổ làm đốc phó Sơn Tây, ông được bổ làm đốc học Bắc Giang. Cụ yêu quý một cậu học trò nghèo có chí ở địa phương, đem gả con gái cho. Đó chính là bố mẹ tôi. Vì ghét tây, cụ xin về hưu, đi lập ấp ở làng Lát thuộc huyện Việt Ngàn tỉnh Bắc Giang. Bề ngoài mộ dân lấp ấp khai hoang, nhưng bên trong hậu đồ làm hậu cần do nghĩa quân Đề Thám. Ông cụ cũng làm nhiều thơ bày tỏ nỗi lòng mình trước vận nước, thơ về đạo làm người. Nữ sỹ Anh Thơ kể lại rằng: hồi đi học lớp 3, cô giáo day văn hay kể chuyện cho cả lớp nghe thơ của Phan Bội Châu, Trần Tuấn Khải, nghe cô ngâm thơ của Nguyễn Phi Khanh … Cô kể truyện cổ tích Trương Chi, Mị Nương, Vua Hùng … mọi câu thuyện cứ thấm dần vào bà những lời thơ đầy hùng khí yêu nước lại thấm đượm  mạch nguồn dân gian. Năm 7 tuổi bà đã có bài thơ đầu tay, một bài thơ đầy chí khí yêu nước tả về một loài hoa hồng quê:
Hồng quế ơi, hồng quế ơi
Chết đi sống lại mấy canh rồi
Mầu hương vẫn giữ không thay đổi
Cũng đáng làm  gương để ở đời…


Đến lớp Nhì bà nói một câu không đúng bị cô giáo xách tai lên bảng, tức cô giáo,bà bỏ học. Bố bà lúc ấy đang làm việc tại Thái Bình tưởng cô giáo xui bà bỏ học đã làm mấy câu đối: “Anh chửa làm nhà, em đã làm nhà/ Cô chỉ gây nên nề nếp mới/ Cháu chăm học cô khuyên bỏ học/ Công phu sao những tháng ngày qua”. Bố của bà đã bắt bà đi học lại nhưng bà nội và mẹ với tư tưởng của phụ nữ thời xưa đã đồng ý cho bà nghỉ học vì nghĩ con gái học cao chỉ tổ khó lấy chồng. Sau khi nghỉ học, tôi ở nhà phụ giúp mẹ chăm  sóc đàn em. Hầu như mẹ tôi luôn bụng mang dạ chửa, tôi là chị lớm nên lo mọi việc. Tôi thích nhất mỗi sáng đi chợ , qua đường cái quan trải đá, có hoa phù dung nở trắng tường gạch, rồi những hàng tre và một cánh đồng thẳng tắp trước khi dẫn đến chợ. Tôi có người cô có chồng vốn là lính khố xanh Pháp, sống cùng gia đình. Cô tôi đẹp người, học lớp nhì biết tiếng Pháp, thích đánh đàn và thơ . Lúc rỗi rãi tôi hay lôi sách của cô ra đọc. Từ Tái sinh duyên, Đông chu Liệt quốc, Song phương kỳ duyên … đến Bà Huyện Thanh Quan và nhất là thơ tả cảnh của Ngguyễn Khuyến. Tôi cũng trộm đọc của bố tôi tập Văn đàn bảo giám, thuộc lòng từ thơ Lê Thánh Tôn đến các nhà thơ Việt Nam  cuối thế kỷ XIX. Tôi chú ýđến bảng luật bằng, trắc và cách bố cục của bài thơ bát cú Đường luật. Những bài thơ đầu tiên tôi viết bắt chước theo thể thơ này. Nội dung thì thật lung tung. Hết làm thơ “nói chí” theo cách của bố, đến viết trường ca về chuyện con vua Hùng dong buồm gấm rong ruổi đầu non cuối bể hoặc chuyện chàng Trương Chi bị Mỵ Nương chê xấu…   Mạch nguồn đó cứ ngấm dần vào tâm hồn người con gái vốn nhạy cảm, bà bắt đầu có ý thức làm  thơ gửi các báo Bài thơ đầu tiên bà được in trên báo Đông Phương bài “Chiều Thu”: “Buổi chiều thu gió yên mây tạnh/ Em vẩn vơ ngắm cảnh bên hồ/ Trong xanh làn nước lặng tờ/ Tre vàng rủ bóng quanh bờ buồn im / Em  soi bóng cúi nhìn dòng nước/ Thấy mây trời tan bay đi / Nước mây hỏi có duyên gì?/ Mây bay bay mất nước kia chạnh buồn…”. Một thời gian sau, khi bà được đọc trên báo Phong hóa có đăng bài thơ của Thế Lữ “ Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát/ Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời / Gió nồng gieo trên hồ sưn rào rạt/ Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!…” giọng thơ thiết tha, với không gian náo nức vừa tự nhiên vừa trong sáng khác với cái nghiêm trang, nặng nề của thơ Đường luật đã khơi lên những cảm hứng thơ mới cho Anh Thơ. Rồi đến nhuẽng bài thơ tình nồng nàn, cháy cỏng của Xuân Diệu, thơ tả cảnh của Huy Cận, thơ về xứ Hời đau xót của Chế Lan Viên, thơ về cảnh xưa người cũ của Nguyễn Nhược Pháp … bà chuyển sang làm thơ mới từ đó.

Lúc đầu cũng bắt chước lung tung , rồi dần dần ý thức được lối đi riêng cho mình bằng những bài thơ tả cảnh về bộ tranh tứ quý trong phòng mẹ bà, đến cảnh làng mạc, xóm thôn, ruộng đồng, sông nước quê hương. Bà kể: Tôi viết “Bức tranh quê” khi hay tin báo  “Ngày nay” có tổ chức cuộc thi và thời hạn chỉ còn một tháng. Bố tôi không cho tôi theo con đường văn thơ nên để canh chừng ông chị Sen phân công các em tôi mỗi đứa canh một bậc thang cào lúc bố tôi ngủ trưa trên gác hễ nghe tiếng động là báo ngay. Tôi viết bằng bút chì với quyển sổ nhỏ để dẽ dấu. Mỗi buổi trưa tôi làm xong một bài. Chưa biết yêu nên tôi không thể làm thơ tình như Xuân Diệu, hoặc làm thơ Bạch Nga mưoiừ hai chân như Nguyễn Vĩ, mà chỉ làm thơ tả cảnh quê hương mình đang sống. Nghĩ đến đâu, thích cảnh gì , tôi làm thơ về cảnh ấy. Làm rất nhanh. Đúng ngày hết hạn nộp tôi viết xong 30 bài. Trong cuộc thi đó tôi đã được giải cao (cùng Nguyễn Bính). Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc hân hoan của mình lúc ấy. Vừa tự hào, vừa lo sợ. Vì từ bé tôi có bao giờ rời bến sông Thương để đến chốn Hà Thành đô hội , giờ lại được mời lên tòa soạn báo Ngày nay nhận giải thưởng , được gặp các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Như từ dưới đất chợt bay bổng lên mây vậy. Số tiền thưởng lúc đó được trao là 30 đồng. Mà gạo lúc đó một tạ chỉ có ba đồng. Tức giải thưởng trị giá đến một tấn gạo. Nhận số tiền ấy về tôi nhờ chị Sen mua cho mỗi người trong gia đình một bộ quàn áo . Riêng bố thì mua cái cặp. Không nói ra nhưng bố tôi có vẻ ân hận vì đã để con mình phải làm thơ một cách vụng trộm như vậy.

Từ một nữ sỹ sông Thương, Nữ sỹ Anh Thơ đã đến và gắn bó đời mình với sông Hồng, với Hà Nội ngàn năm văn hiến. Bà đã thấm hồn vào vẻ tĩnh lặng, cổ kính với đến chùa, miếu mạo với những truyền thuyết lịch sử của cha ông. Bà đã sống giản dị và nhiệt thành với một lòng yêu đời yêu nghề và yêu người. Bà viết hồi ký, làm thơ cũng là để ghi nhớ một thời, một đời, thế hệ bà đã sống.

Nguồn: lethieunhon.com

 

Các bài khác:
· NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN - MỘT TẬP TỤC ĐẸP
· NGÀY THƠ VN Ở QUẢNG NGÃI: NHỮNG DÒNG SÔNG THƠ VIỆT ĐỀU CHẢY
· “HỘI THỀ” – TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ HAY PHẢN LỊCH SỬ ?
· VÀI ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
· LÂM THỊ MỸ DẠ - TRÁI TIM NHƯ DÁNG LƯỠI CÀY
· Ý KIẾN VỀ BÀI PHỎNG VẤN GÂY TRANH LUẬN CỦA NGUYỄN THANH SƠN
· 9 TÁC GIẢ 'ĂN NÊN LÀM RA' NĂM 2010
· CHÀO VALENTINE: CHÙM THƠ TÌNH ÁO TRẮNG CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
· TẬP THƠ 'BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE' CỦA MAI VĂN PHẤN
· DỰ CẢM VĂN HỌC VIỆT NAM NĂM TÂN MÃO
· GIANG NAM TIẾT LỘ BÍ MẬT PHÍA SAU BÀI THƠ 'QUÊ HƯƠNG'
· NGUYỄN THANH SƠN: VĂN HỌC VIỆT NAM ĐANG PHẢI TRẢ GIÁ
· BẾN THẤT TÌNH
· PHÊ BÌNH TRUYỆN 'DỊ HƯƠNG' CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
· CÓ MỘT KHO TÀNG TRANH TRỊNH CÔNG SƠN
· THƠ TÌNH VÀ NGƯỜI ĐẸP
· TRỊNH CÔNG SƠN - 300 BỨC THƯ TÌNH GỬI MỘT NGƯỜI
· CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ NGUYỄN TUÂN VÀ NỮ SĨ VÂN ĐÀI
· NHỮNG VA CHẠM HAI MẶT – XÉT TỪ CẢM THỨC THƠ HẬU HIỆN ĐẠI

 

  
Gia đình Bích Khê