DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG CA KHÚC VỀ TÌNH YÊU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

                     Minh Nguyên

1. Đặc điểm hình thái – cấu trúc của phép tu từ so sánh trong các nhạc khúc viết về tình yêu của Trịnh Công Sơn

      Để  đi sâu hơn về hình thái – cấu trúc của biện pháp tu từ so sánh trong các ca khúc về tình yêu của Trịnh Công Sơn cần phải hiểu chi tiết từng thành tố trong cấu trúc so sánh của các tình khúc. Một hình thái – cấu trúc của phép so sánh cần phải có đầy đủ các thành tố. Nếu một câu trong tiếng Việt có chủ ngữ, vị ngữ thì cấu trúc so sánh cũng có những nét đặc trưng của mình, có ba thành tố chính  là: vế so sánh, từ so sánh, vế được so sánh.

 

- Đặc điểm hình thái –  cấu trúc của vế so sánh: khảo sát cho thấy, (A) - vế so sánh được sử dụng với ngôn từ giàu hình ảnh. Ta thường thấy vế so sánh bắt đầu bằng những từ “em là”, “ta là” hay “biển là”, “tình yêu như”,  “trời như”, “mặt trời như”, “tình như”, “bình yên như”, “buồn như”,… rồi đến hình ảnh cuộc đời cũng xuất hiện nhiều trong vế so sánh “đời như là”, “đời là” như một sự ám ảnh mà người La Mã đã có câu phương ngôn: “Đời người là giấc mộng ngắn ngủi chứ không phải tự vui sướng, sự bồng bột của tuổi niên thiếu” để nói lên tính vô thường và hữu hạn của đời người. Vế so sánh (A) trong tình khúc Trịnh thường là những phạm trù hay những hình ảnh, những biểu tượng cố định. Đó là những danh từ chỉ người, chỉ vật, hay danh từ chỉ trạng thái, cảm xúc vô hình của con người (có 222 danh từ chỉ người, sự vật/ hiện tượng, trạng thái cảm xúc con người trong 96 tình khúc chúng tôi tiến hành khảo sát). Không ai hình dung được bình yên, cũng không ai vẽ lên được hình hài của nỗi buồn, không ai cân được cuộc đời,… khi mà tất cả các phương thức nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc trở nên bất lực thì âm nhạc và ngôn từ lên tiếng và gọi tên những cảm xúc của con người, biến những vật vô thức thành vật có thức  để làm tâm điểm cho (B) xuất hiện:

             Ví dụ: 

            (1) Từ  đó em    sương, rụng mát trong bình minh

                      A     tss   B

             (2) Từ  đó ta    đêm, nở đóa hoa vô thường

                     A      tss   B

                                          (Đóa hoa vô thường) 

            (3) Mặt trời như trái cây tuyệt vọng

                  A       tss       B

                                          (Níu tay nghìn trùng)

              (4) Tấm lòng em như  kia còn xanh

                  A       tss     B

                                          (Vẫn có em bên đời)

              (5) Buồn như giọt máu

                  A       tss         B

                                          (Lặng lẽ nơi này)    

 

Từ đặc điểm hình thái cấu trúc của vế so sánh, đến từ so sánh và vế được so sánh, chúng tôi thấy được biện pháp tu từ so sánh được sử dụng rất thành công trong ca từ viết về tình yêu của Trịnh Công Sơn. Trịnh đã gọi tên được những cảm xúc mà trước ông chưa ai có thể viết nó thành tên được: chưa ai so sánh mặt trời như trái cây; cũng chưa ai gọi buồn như giọt máu như TCS đã viết… Với nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ so sánh bậc thầy cùng cách dùng những ngôn từ giàu hình ảnh, người nghệ sĩ tài năng Trịnh Công Sơn đã làm cho cảm xúc của con người được cụ thể hóa một cách thần tình. Qua đó, chúng ta thấy được trái tim của Trịnh Công Sơn mang trong mình sự bao dung của  tình yêu thương với một tâm hồn đa sầu đa cảm chất chứa những ưu tư phiền muộn muôn thủa của cuộc đời.

 

      - Đặc điểm hình thái – cấu trúc của từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh: Từ sử dụng làm so sánh nhiều nhất là “như” (186 lần), “là” (144 lần)  vừa mang sắc thái trung tính, vừa ngắn gọn, xúc tích. Dùng từ “là” làm từ so sánh – đây là loại so sánh ẩn dụ , “là” có chức năng liên hệ so sánh ngầm. Trịnh thường lấy thân phận tình yêu, con người hay chính mình để ví với sự vật này hay sự vật khác đôi khi cũng là so mình với người, so đời với vạn vật: em như gió, như mây; biển em; đời nhẹ như lá thu; ta thác đổ, đời ta đốm lửa hay núi cũng như đèo, …. Nguyễn Duy đã từng viết trong cuốn Trịnh Công Sơn – rơi lệ ru người rằng: “Âm nhạc Trịnh Công Sơn linh thiêng như tiếng gọi hồn đang truyền lan như sóng âm, như địa chấn làm loạn nhịp tim biết bao nhiêu triệu người hâm mộ”.

 

Ví dụ:   

            (1) Biển    em ngọt đắng trùng khơi

                  A     tss   B

                        (Biển nghìn thu ở lại)

            (2) Tình tựa lá bỗng vàng bỗng xanh

                  A     tss   B

                        (Tạ ơn)

            (3) Em    phấn thơm cho rừng chút hương

                  A    tss    B

                        (Cho đời chút ơn)

 

- Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế được so sánh: vế được so sánh (B) nhìn chung là hình ảnh của thiên nhiên sự vật tồn tại khách quan bên ngoài con người (có 203 câu hát có chứa từ so sánh được sử dụng với 215 lần trong 96 tình khúc). Đó là những cái hữu hình, dễ đến rồi dễ đi như gió: Em đã như ngọn gió quạnh hiu; như cái khoảnh khắc của màn đêm im lặng và bí ẩn: Ta biết em đêm đêm ru đời đã mất; như sự sống mong manh của chiếc lá: Đâu ngờ tình như lá úa; như cái thờ ơ của màn sương: Từ đó em là sương rụng mát trong bình minh rơi trong đêm chỉ để hơi lạnh ở lại, như tia nắng vội vàng tắt trong chiều hôm, như dòng sông nhỏ trôi qua đời người,…Tất cả những gì (B) thể hiện lại làm rõ thêm ý nghĩa của (A) . “Đêm” biểu tượng cho sự đau khổ, chìm lắng, lúc đó con người mới thực sự trở về đúng nghĩa là mình, ngổn ngang bất lực, cùng cực. 

 

      Ví  dụ:

                  (1) Từ đó em sương, rụng mát trong bình minh

                              A  tss     B

                  (2) Từ đó ta  là   đêm, nở đóa hoa vô thường

                            A    tss    B

                                    (Đóa hoa vô thường)

                  (3) Bình yên như kiếp đá

                          A       tss     B

                                    (Ngày nay không còn bé)

 

      Trong ví dụ (3), Trịnh Công Sơn ví “Bình yên”  như “kiếp đá” – đó quả thật là một phép so sánh hiện rõ sự đối lập: Nếu như bình yên là chỉ trạng thái yên ổn, nhẹ nhõm thì “kiếp đá” theo như cuốn “Hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn” của Nguyễn Thị Bích Hạnh lại chỉ ra rằng, “đá” là biểu tượng mang đậm nỗi buồn, mang mặc cảm tâm lý về thân phận con người – nỗi buồn của những kiếp nhân sinh vô cùng sâu sắc. Chính phép so sánh này đã giúp ta ngầm hiểu chẳng có sự bình yên nào trong ca từ đó, chỉ có sự bình yên trong nỗi đau, sự tan vỡ, chia lìa, xa cách.

 

            Ngày nay sao buồn thế

            Những sáng nay đêm về

            Vẫn thấy rất  ơ hờ

            Bình yên như kiếp đá

                  (Ngày nay không còn bé)

 

      2. Đặc điểm ngữ nghĩa của biện pháp so sánh trong các ca  khúc của Trịnh Công Sơn

 

      a. Đặc điểm ngữ nghĩa của các hình ảnh so sánh/ được so sánh:

 

            - Hình ảnh so sánh:  trong những từ, cụm từ được Trịnh đưa vào sử dụng làm hình ảnh so sánh, xuất hiện nhiều nhất là “Tôi/ ta” xuất hiện 40 lần/ 14 tác phẩm = 28%, “Em” xuất hiện 33 lần/ 8 tác phẩm = 41% , “Đời”, “Tình/ tình yêu” – đó là phạm trù quen thuộc trong các tình khúc. Trịnh đã từng nói: “Tình yêu và thân phận con người là đề tài muôn thủa của người sáng tác nghệ thuật”, Trịnh không dùng phạm trù: anh – em để nói lên tình yêu của mình mà là tôi – em. Cách xưng hô đó chứa một điều gì như xa cách nhưng lại ẩn chứa đầy sự bao dung, ân cần và quan tâm. “Đời” là hình ảnh so sánh rất phổ biến trong các tình khúc, “đời” như một sự ám ảnh – trước hết đó là khoảng thời gian sống của một sinh vật, sau là cuộc sống, sự sống của con người. Đời như một dự cảm về một cái gì đó xa xa , đôi khi nó là hiện thân của cái chết, thế giới bên kia của đời người. “Đời” xuất hiện 19 lần/ 9 tình khúc, chiếm 21% hệ thống hình ảnh so sánh trong 96 ca  khúc viết về tình yêu của Trịnh. Với Trịnh, đời sống đầy u buồn vì nó tạm bợ “cõi tạm” (ở trọ)  và ngẫu nhiên, nhạc sĩ nhận ra mình chỉ là khách trọ tạm thời nơi chốn này. Tình yêu cũng vì thế mà chỉ sống đời nương tựa – thứ tình yêu tuyệt đẹp nhưng phù du, nó không phải là nơi nương náu vững vàng cho mỗi người.

 

                  - Hình ảnh được so sánh: xuất hiện chủ yếu là “cánh chim” xuất hiện 23 lần/ 11 tình khúc  = 19%, “lá cỏ” 10 lần/ 10 tình khúc  = 11%, “nắng” 9 lần/ 6 ca khúc =  15%, “ mây” 7 lần/ 6 ca khúc = 11%, “giấc mộng” 8 lần/ 3 ca khúc = 26%. Cánh chim -  mỏi mệt, yếu đuối lúc nào cũng cô đơn giữa trời như con người cô đơn, côi cút giữa  cuộc đời. Đó cũng là cái tôi yếu đuối của người nhạc sĩ đa cảm họ Trịnh. Lá cỏ - mong manh, hèn mọn như số phận con người lúc nào cũng có thể bị vùi dập bởi bão gió, mưa sa. Nắng – thiên sứ của những vui buồn hội ngộ (Nguyễn Thị Bích Hạnh), nó có hai hướng biểu tượng rõ rệt, thể hiện hai cảm xúc đối lập thường thấy của con người : vui – buồn, nắng cũng mang màu sắc linh hồn Trịnh. Mây – phiêu bạt, lang thang vô định, so sánh ẩn dụ với cuộc đời người nhạc sĩ / ca sĩ , đó là sự vô định trong trường đời, đó cũng là khúc độc hành vô bờ bến của người viết lên tình ca hay nhất thế kỉ này. Giấc mộng – chóng vánh, đến nhanh rồi ra đi cũng nhanh, ta lại nhớ một chân lý, dù giấc mộng hay giấc chiêm bao đó có đẹp hay xấu, nó có làm ta hạnh phúc hay khổ đau, sung sướng hay bất hạnh thì đó cũng chỉ là giấc mơ, là những ảo tưởng không có thật, rồi lại giật mình trong cái đời thường ô trọc, và trơn nhám. Điều đó làm tăng nỗi cô đơn, sự tuyệt vọng cùng cực trong tâm hồn người khách “ở trọ” trần gian. Để từ đó người ta thấy được “Nỗi cô đơn chính là vực thẳm của linh hồn mà nghệ thuật cần đạt tới, như đạt tới chân thân của mình, để từ đây biết ảo tưởng cuộc đời” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

 

       b.  Nội dung chính của các phép so sánh

 

      Các ca khúc tình yêu của Trịnh thường là nỗi buồn bởi chính nhạc sĩ đã từng nói: “Mình chỉ thấy bóng dáng của tình yêu trong sự thất bại, khi thành công thì lại không thấy” . Nói về tình yêu, với Trịnh đó là một trạng thái hạnh phúc kì diệu nhất của con người bởi “tình yêu nâng bổng con người” . Vì thế mà có khi Trịnh diễn đạt trạng niềm hạnh phúc đó bằng một sự so sánh mới lạ: “Lòng ta – trăm con hạc gầy vút bay” (Hãy cứ vui như mọi ngày) và gặp gỡ tình yêu là gặp được niềm vui: “Hãy chợt thấy em đi về bên kia phố/ Trong lòng bỗng vui như trời đất lạ” (Cho đời chút ơn). Với Trịnh Công Sơn, ông đã nhìn cuộc đời như “ảo ảnh” của “một kiếp rong chơi” thì tình yêu vẫn luôn hiện hữu cho dù “đến một ngàn năm nữa” để “đời gọi em biết bao lần”“vẫn thấy bên đời còn có em” để được “thấy em yêu đời” để Trịnh sẵn sàng: “Tôi xin làm mưa bay/ Tôi xin làm chút gió/ Tôi xin làm hôm nay/ Tôi xin làm nụ cười”. Trong cấu trúc so sánh thật khó để nhận ra đâu là tích cực và tiêu cực, nhưng ở Trịnh – ta luôn thấy có hai mặt trong một tình yêu, khi thì ngọt ngào, quyến luyến, khi thì bất hạnh, khổ đau vì tình yêu phụ rẫy.

                  Ví dụ: 

                        Tình yêu như  thương áo quen hơi ngọt ngào

                        ….

                        Tình yêu như  nỗi chết cơn đau thật dài

                                                (Tình sầu)

      Cách định danh về tình yêu của Trịnh Công Sơn cũng thật phong phú:

                        “Tình yêu như trái phá con tim mù lòa…”

                        “Tình yêu như vết cháy trên da thịt người…”

                        “Tình yêu như trái chin trên cây rụng rồi…”

                        “Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài…”  

                        “Tình yêu như đốt sáng con tim tật nguyền…”

                                          (Tình sầu)

 

      Mỗi cách gọi tên cho tình yêu là một cách cảm nhận về  tình yêu. Trịnh Công Sơn cảm nhận tình yêu ở góc độ dữ dội và mãnh liệt cao độ: “trái phá”, “vết cháy trên da”, “như nỗi chết”, “như đốt sáng con tim”. Tình yêu đẹp đẽ là vậy, quý giá là vậy nhưng cuối cùng thì tình yêu cũng là bi kịch vĩnh viễn của con người. Trong cái hạnh phúc tận cùng thì đã xuất hiện mất mát, đắng cay trong tình yêu, Trịnh nhận ra rằng: “đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn”.

                  Tình yêu như  trái phá con tim mù lòa

                  Một mai thức dậy

                  Chợt hồn như  ngất ngây

                  Chợt buồn trong mắt nai

                              (Tình sầu)

 

      Sự  bội bạc trong tình yêu là khôn cùng, đau khổ là  ở chỗ những khao khát của con người là vô  hạn nhưng cái đạt được chỉ là hữu hạn.  Dù có là biện pháp tu từ so sánh hay là biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa đi chăng nữa thì tất cả không ngoài việc khẳng định nỗi buồn đau của Trịnh Công Sơn trong tình yêu. Cứ phải so sánh tình yêu với cái này hay cái khác: Tình yêu như biển/ Tình yêu như vô tận… gợi cái khoảng cách xa xăm, vô định như chẳng bao giờ với tới được.  Đó chính là nỗi buồn muôn thủa của Trịnh Công Sơn mà ở ca khúc nào cũng phảng phất niềm đau đó./.

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· SƯƠNG NGUYỆT MINH - BÍ MẬT ĐỂ ĐỜI CỦA MỘT NHÀ VĂN
· MỘT CÁI TẾT VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN THI
· THƠ – CÁCH TÂN VÀ CÁCH TÂM
· THƠ TÌNH TRONG KINH ĐIỂN
· THƠ HIỆN ĐẠI - TRĂN TRỞ VÀ THOÁT XÁC
· NHỚ NỮ THI SĨ 'BỨC TRANH QUÊ'
· NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN - MỘT TẬP TỤC ĐẸP
· NGÀY THƠ VN Ở QUẢNG NGÃI: NHỮNG DÒNG SÔNG THƠ VIỆT ĐỀU CHẢY
· “HỘI THỀ” – TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ HAY PHẢN LỊCH SỬ ?
· VÀI ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
· LÂM THỊ MỸ DẠ - TRÁI TIM NHƯ DÁNG LƯỠI CÀY
· Ý KIẾN VỀ BÀI PHỎNG VẤN GÂY TRANH LUẬN CỦA NGUYỄN THANH SƠN
· 9 TÁC GIẢ 'ĂN NÊN LÀM RA' NĂM 2010
· CHÀO VALENTINE: CHÙM THƠ TÌNH ÁO TRẮNG CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
· TẬP THƠ 'BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE' CỦA MAI VĂN PHẤN
· DỰ CẢM VĂN HỌC VIỆT NAM NĂM TÂN MÃO
· GIANG NAM TIẾT LỘ BÍ MẬT PHÍA SAU BÀI THƠ 'QUÊ HƯƠNG'
· NGUYỄN THANH SƠN: VĂN HỌC VIỆT NAM ĐANG PHẢI TRẢ GIÁ
· BẾN THẤT TÌNH

 

  
Gia đình Bích Khê