DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG CA KHÚC VỀ TÌNH YÊU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

                                       Minh Nguyên

 
 
 
 

1. Về mặt nội dung

 

 

 

      Trong các ca khúc viết về tình yêu của Trịnh Công Sơn, biện pháp tu từ so sánh giữ một vị trí  quan trọng, nó góp phần đắc lực vào việc làm cho ca từ của Trịnh trở nên độc đáo. Những hình ảnh, sự vật hay hiện tượng được đem ra so sánh cũng nhờ thế mà phong phú. Người am hiểu nhạc Trịnh sẽ nhìn vào đó để có nhận xét hay bình phẩm từ nhiều góc độ, giúp cho ý nghĩa và giá trị ngôn ngữ của Trịnh trong từng lời ca được hiểu đầy đủ hơn. Nổi bật lên trong nội dung lời ca của Trịnh Công Sơn là các chủ đề: thân phận – quê hương – tình yêu. Ranh giới giữa các chủ đề không phải lúc nào cũng phân định rõ ràng. Chẳng hạn: trong quê hương có “Em”, trong tình yêu “Em” có tình yêu xứ sở. Trong tình yêu cho riêng “Em”, cũng như trong tình yêu nhân thế luôn có “Tôi”, gắn liền với thân phận “Tôi”, thân phận một đời người, và đôi khi thân phận một đất nước. Thân phận làm cho ca khúc Trịnh Công Sơn độc đáo khác thường trước hết là nhờ nhân vật “Tôi”.

 

 

 

      Mỗi sáng tác của Trịnh Công Sơn không đơn thuần là nhạc mà đó còn là thơ, là điểm nổi bật của nghệ thuật sáng tạo ngôn từ. Tính nhạc trong thơ  là một hình thức làm cho bài thơ đi vào cảm nhận của người nghe hay người hát (người ca thơ). Câu chữ trong thơ giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà chính ngôn từ đó miêu tả, song cách sử dụng từ ngữ cùng cách tạo vần điệu làm ra tính nhạc cho câu chữ . Đặc trưng cơ bản của phép tu từ so sánh là sự đối chiếu giữa hai sự vật, hiện tượng có cùng một điểm chung nào đó. Ở đây vế so sánh (A) chưa được bộc lộc rõ ý nghĩa và qua (B) thì nó được cụ thể hóa. Tình yêu là nguồn cảm xúc nhân văn nhất trong những nguồn cảm xúc của con người. Đó vốn là đề tài xưa cũ nhưng lại luôn tươi mới, bí ẩn và hấp dẫn. Hầu như tất cả các sáng tạo văn hóa – nghệ thuật thuộc về con người đều có sự hiện diện của tình yêu! Đúng như A. Tolsstoi đã từng viết: “Tất cả rồi sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im vắng dần và những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn lại một bóng hình em dịu dàng, chan chứa tình yêu thương”. Và với Trịnh Công Sơn cũng vậy, hình ảnh so sánh đều mang giá trị biểu đạt nội dung về tình yêu một cách sâu sắc. Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho người và cho đời là vô tận. Ông đã từng nói: ta yêu đời dù đời không yêu ta. Trịnh Công Sơn đã buồn tha thiết khi "từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ". Dường như trong các ca khúc của ông luôn thấp thoáng những mối tình, khi thì như nắng như mưa, khi như sương như khói, khi lại hư ảo đến nao lòng: Khi cơn đau chưa dài thì tình như chút nắng (Tình nhớ), Tình gần như khói mây (Tình sầu),…

 

 

 

       Trong ca từ  nhạc Trịnh, tình yêu mang một vẻ đẹp siêu thực và ngoài cái đẹp của tình yêu người với người, những lời ca bật lên niềm yêu thương với quê hương và đồng loại. Thế giới tình yêu của Trịnh Công Sơn là một đóng góp thành công trong việc phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, nhớ thương, tương tư, mong chờ, giận hờn, trách móc, xót xa, biệt ly, thất tình, tình phụ... Điều đó làm nên tính chân thật, đa dạng trong các ca từ của ông. Lạc vào thế giới tình ca của ông, mỗi người đều bắt gặp thân phận tình yêu của mình, cũng có chia ly và tiễn biệt – tình yêu nào cũng có: Bên cạnh đời tôi đây/ Có chút tình thoảng như gió vội; Tình như nắng vội tắt chiều hôm (Như một lời chia tay). Biện pháp tu từ so sánh giúp ta nhận ra tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn buồn, đau một cách lặng lẽ: Tình tựa lá bỗng vàng bỗng xanh/ Em ra đi như thoáng gió thầm (Tạ ơn); Từng người tình cứ bỏ ta đi như dòng sông nhỏ (Tình xa),… Ông kể lể, thì thầm như tự an ủi chính mình. Không quằn quại, tuyệt vọng như tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử, không mặc cảm như Nguyễn Bính, không vội vã cuống quýt như Xuân Diệu. Vì tình yêu trong sáng tác của Trịnh Công Sơn là chiếc bóng lung linh, thấp thoáng, chập chờn: “tình không xa nhưng không thật gần...” (Như một lời chia tay), thoắt ẩn thoắt hiện: “rộn ràng nhưng biến nhanh...” (Tình sầu). Những mối tình “không hẹn mà đến, không chờ mà đi” (Bốn mùa thay lá), nghĩa là chẳng có hẹn hò, thề thốt, ràng buộc gì nhau. Tất cả chỉ là tình cờ: “Ta gặp tình cờ như là cơn gió (Hoa vàng mấy độ), “coi như phút ấy tình cờ” (Nguyệt ca). Tất cả điều đó chứng tỏ nhạc sĩ luôn tha thiết với đời, tình yêu cao đẹp đó xuyên suốt các tác phẩm làm nên giá trị vĩnh hằng cho từng lời ca. Biện pháp tu từ so sánh đã khẳng định vai trò của mình bằng cách diễn tả một cách tinh tế cảm xúc, tâm trạng của nhạc sĩ trong tình yêu.

 

 

 

- So sánh về việc sử dụng biện pháp so sánh, giá trị của biện pháp so sánh trong các ca khúc về tình yêu của Phú Quang:

 

 

 

Trịnh Công Sơn và Phú Quang đều là những nhạc sĩ  viết tình khúc hay hàng đầu Việt Nam, là những nhạc sĩ phổ nhạc từ thơ thành công nhất trong nền âm nhạc nước nhà, và sự thành công của tình khúc đã làm nên tên tuổi của hai nhạc sĩ tầm vóc này. Nhưng trong cái chung lại có cái riêng. Họ có phong cách hoàn toàn khác nhau về cách thể hiện tình yêu trong ca khúc. Nếu như tình yêu trong sáng tác của Trịnh Công Sơn thăng trầm, nhiều biến cố với những hình ảnh so sánh gân guốc, làm lòng người tất tưởi: Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu; Tình yêu như đốt sáng con tim tật nguyền (Tình sầu – Trịnh Công Sơn), thì tình yêu trong nhạc khúc Phú Quang lại bình yên và thanh thản: Có chiều nào chư chiều xưa/ Anh về trên cát nóng/ Đường dài vành môi khát bỏng/ Em đến dịu dàng như cơn mơ.... Đối tượng trong tình yêu của Trịnh không rõ ràng nhưng hẳn là rất bao dung còn đối tượng trong tình yêu của Phú Quang lại hướng về những người con Hà Nội, và nổi tiếng với tên gọi “người con của Hà Nội”.

 

 

 

Trong khi Trịnh Công Sơn lúc nào cũng khắc khoải với những câu hỏi:

 

                  Tình mong manh như nắng

 

                  Tình còn  đầy không em?

 

                                    (Tình sầu)

 

Thì với Phú Quang, tình yêu thật nhẹ nhàng và êm dịu, ngọt ngào và tha thiết:

 

                  Em hôn anh đắm say như gió

 

                  Và  ngã vào anh dịu dàng như mùa thu

 

                              (Mùa thu giấu em – Phú  Quang)

 

 

 

Nhưng, ở  tình khúc của Trịnh đôi khi ta còn thấy được hình ảnh so sánh dí dỏm, vui vẻ:

 

 

 

                  Tôi  đã yêu em như trẻ thơ

 

                  Đâu biết đôi khi có lìa xa

 

                  Yêu trong nỗi  đau tình cờ…

 

                              (Trong nỗi đau tình cờ)

 

 

 

      Còn với Phú Quang, nỗi buồn kéo dài hầu hết trong các tình khúc, không niềm vui vì quá buồn. Các bài thơ của Thái Thăng Long (Mơ về nơi xa lắm; Heo may; Chiều phủ Tây hồ,…) và Phan Vũ (Em ơi Hà Nội phố),… được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc nói về một con người cô đơn thầm lặng với những nỗi buồn sâu kín da diết hay những khát khao dữ dội, cháy bỏng, mà không sao thoả nguyện.  Nó ám ảnh trong lòng người con Hà Nội mà ta cảm nhận được mỗi khi ta nghe những giai điệu đầy chất tự sự từ những ca khúc trữ tình bất hủ vang lên như: Em ơi Hà Nội phố, Đâu phải bởi mùa thu, Hà Nội ngày trở về, Nỗi nhớ, Biển nỗi nhớ và em, Mơ về nơi xa lắm, Lãng đãng chiều đông Hà Nội...Càng nghe nhiều, càng cảm thấy day dứt, xót xa, vì dường như cái khoảng trống trong lòng người nghệ sĩ muôn đời chẳng thể lấp đầy! Thở than nhưng không hề bi luỵ, muộn phiền nhưng không hề gục gã, bởi những điều cay đắng ấy đã là quy luật, là phải biết chấp nhận để vươn lên, để sống đầy tin yêu: "Hội ngộ rồi chia ly cuộc đời vẫn thế/ Dẫu là mặt trời nồng nàn khát khao/ Hay đêm mịt mù lấp lánh ngàn sao" - (Điều giản dị); "Thôi đừng hát ru, thôi đừng day dứt/ Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu" - (Đâu phải bởi mùa thu),... Đôi khi Hà Nội cũng là “em”, là “anh” trong tình yêu và nỗi nhớ vô hạn. Nếu như hình ảnh cuộc đời ám ảnh Trịnh Công Sơn thì hình ảnh Hà Nội lại là nỗi day dứt trong tình khúc Phú Quang suốt thời thơ ấu đến khi trưởng thành.

 

 

 

      Nhưng nỗi cô đơn cứ thế côi cút đi bên  đời cô độc, chỉ có nhạc sĩ họ Trịnh mới cảm nhận được hết giá trị của sự tròn đầy. Sự chia ly, tan tác trong tình yêu trong sáng tác của Trịnh Công Sơn hiếm ai có thể hiểu nổi cũng không ai có thể sống được cùng nỗi cô đơn nhiều thế và viết tình khúc hay thế. Ta là người đến sau, người chỉ có thể nghe mênh mang một nỗi niềm day dứt rất Trịnh mà không thể hiểu hết được nỗi đau của cố nhạc sĩ đã từng đi qua cuộc đời này!

 

 

 

2. Về mặt nghệ thuật

 

 

 

            - Giá trị về mặt nghệ thuật: Hai vế so sánh và được so sánh đều là những hình ảnh quen thuộc, không hề mới nhưng đi vào ca khúc của Trịnh nó lại có nét độc đáo riêng. Mọi hình ảnh đều giàu ý nghĩa, sâu sắc. Mỗi hình ảnh là một biểu tượng gì đó ám ảnh về tình yêu, kiếp người, phận đời. Đá là nỗi buồn của kiếp nhân sinh, biển – không gian của sự chờ đợi hoài vọng, nắng là thiên sứ của vui buồn hội ngội, đời người là thời gian hướng về cõi thiên thu,… Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ đặc biệt. Làm nên thành công của nhạc Trịnh, ngoài giai điệu âm nhạc chính là phần ngôn từ, đặc biệt là sự xuất hiện của các biện pháp tu từ ngữ nghĩa. Trong đó có biện pháp tu từ so sánh là một đặc điểm nổi bật trong tình khúc. Thế giới âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nói như Văn Cao, “với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi [...] đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, và ở cả bên ngoài biên giới nữa”. So sánh trong ca khúc về tình yêu của Trịnh Công Sơn là một biện pháp tu từ nghệ thuật mới mẻ nhờ sự giản dị trong cách dùng và sâu sắc trong ý nghĩa biểu đạt. Không phải mới ở cách dùng từ, câu chữ phức tạp mà ở cách sắp đặt những từ, những hình ảnh bên nhau một cách bất ngờ và rất không truyền thống. Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, hầu như những lời nhạc của ông đều mang đậm chất thơ. Ngoài những câu nhạc như thi ngữ, người nhạc sĩ tài hoa này đã có những sáng tạo ngôn ngữ vô cùng phong phú cho riêng ông, để diễn tả ý tưởng hay cảm xúc, với những hình ảnh thật nghệ thuật bằng chữ nghĩa. Những từ ngữ mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ cuốn tự điển tiếng Việt nào như:“Tóc chiều” (Dấu chân địa đàng), “Vết lăn trầm”(Vết lăn trầm), “Mắt đêm đèn vàng” (Biển nhớ), “Con tinh yêu thương” (Một cõi đi về) , “Tuổi đá buồn” (Tuổi đá buồn), “Hồn xanh buốt” (Diễm Xưa), “Tình đã nghìn thu” (Còn tuổi nào cho em), “Đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đá lên trong mình” (Du mục), “Vết buồn khắc trên da” (Yêu dấu tan theo), “Phơi tình” (Cỏ xót xa đưa), “Quỳ gối vong nô” (Ru em), “Một hồn thơm cây trái” (Ru Tình), …

 

 

 

        - So sánh là một trong những quá trình của sự  nhận thức thế giới khách quan, để nhận thức sự  đồng nhất và sự dị biệt về thuộc tính của các sự vật. Có nhiều kiểu so sánh khác nhau nhưng trong các ca khúc của Trịnh hầu như sử  dụng hai kiểu so sánh: so sánh dựa trên nét tương đồng và so sánh dựa trên sự ngang bằng.

 

 

 

      Ngoài những ca khúc viết về tình yêu mà chúng tôi  đã khảo sát, các ca khúc viết về chủ đề khác của Trịnh cũng sử dụng nhuần nhuyễn biện pháp tu từ so sánh, đặc biệt là trong các ca khúc phản chiến (Ca khúc da vàng). Phản chiến ở đây là bày tỏ thái độ của mình không tán thành chiến tranh, và sự không tán thành này có nghĩa là một sự đồng cảm, chia sẻ với những con người đang phải gánh chịu những nỗi mất mát, đau thương trong chiến tranh. Đồng cảm nhưng không đứng ở ngoài, đứng ở một bên; mà đứng ở cái thế chung cùng một số phận, một định mệnh.  Nếu như hình ảnh so sánh của các ca khúc viết về tình yêu thuộc về ảo ảnh, hay vô thường, hay những gì khó gọi thành tên thì trong các ca khúc phản chiến, biện pháp so sánh được sử dụng với những hình ảnh cụ thể và những tên gọi cụ thể: quê hương, ruộng đồng, …. Trong chủ đề này, Trịnh Công Sơn thành công với nhiều tập nhạc: Thần thoại quê hương, tình yêu  và thân phận, ca khúc da vàng,… 
 

 

Ví dụ:

                      Người con gái Việt Nam da vàng 
                                     Yêu quê hương
    như yêu đồng lúa chín  

                ….

                      Người con gái ngồi mơ thanh bình

                      Yêu quê hương như đã yêu mình

                            (Người con gái Việt Nam)

          Nhưng hôm nay

          Quê hương tàu bay

          Quê hương đồng cháy

          Quê hương ruộng gầy

                      (Nhưng hôm nay)

           

      Nhìn từ các ví dụ trên, ta thấy sự khác biệt về biện pháp so sánh trong ca khúc tình yêu của Trịnh với các ca khúc da vàng. Trước hết đó là hình ảnh dùng làm so sánh. Nhạc phản chiến, hình ảnh so sánh gắn liền với quê hương, đồng ruộng ,… những gì gần gũi với người dân trong những năm chiến tranh. Điều đó nhằm cụ thể hóa một vấn đề - vấn đề hòa bình dân tộc. Những ca khúc của Trịnh nổi tiếng vào những năm 65, 66, 67 đã trở thành “hiện tượng” trước hàng ngàn sinh viên cuồng nhiệt trong các giảng đường Đại học Sài Gòn và Huế, cổ vũ tinh thần đấu tranh của người dân Việt Nam trong những năm bom đạn. Biện pháp so sánh cũng góp phần làm rõ thêm tình yêu của Trịnh với con người, là tiếng nói của con tim đó với quê hương, dân tộc một cách trung thành và chân thực.

 

 

 

      - Về mô hình cấu trúc so sánh: lời ca được tạo nên trên cơ sở của phép so sánh tu từ thì những từ ngữ ở vế B bao giờ cũng giữ vai trò là những đơn vị mang tải trọng thông báo. Trong tình khúc Trịnh, mối quan hệ qua lại giữa (A) và (B) thông qua tss là rất quan trọng. Điều đó biểu hiện ở chỗ: Kiểu cơ cấu nghĩa của B phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của A. Nói chung, từ ngữ ở B bao giờ cũng là hình ảnh cảm tính gợi lên ở người đọc, người nghe biểu tượng về một thuộc tính nào đó của cái được so sánh.

 

 

 

      Nhìn chung hình ảnh, mô hình cấu trúc biểu hiện trong các ca khúc viết về tình yêu của Trịnh Công Sơn là  phong phú, có ý nghĩa gợi hình và biểu cảm cao. Những ngôn từ không hề mớin nhưng nó lại mang một tầm vóc tư tưởng mới của một con người mới, một dòng nhạc mới. Việc sáng tạo ngôn từ cùng với việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ trong các tình khúc đã góp phần vih danh cho nhạc sĩ thiên tài - Trịnh Công Sơn.

 

 

 

3 Về  góc độ văn hóa

 

 

 

      - Thể hiện nét độc đáo, riêng biệt của các nhạc khúc Trịnh Công Sơn  so với các dòng nhạc khác.

 

 

 

  Trong giới âm nhạc ca từ trong tình khúc của Trịnh Công Sơn có một vị trí đặc biệt không lẫn với ai, một mình nó làm nên một dòng nhạc – nhạc Trịnh, tồn tại song song độc lập với các dòng nhạc như: nhạc cách mạng, nhạc trẻ, nhạc dân gian, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, trở thành một hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử âm nhạc nước nhà. Trước Trịnh Công Sơn, chưa ai có thể so sánh được nỗi buồn như kiếp đá, rồi đời nhẹ như lá thu, rồi tình yêu như trái phá…. Vế so sánh thì quen thuộc đấy nhưng vế được so sánh lại trở nên lạ lẫm. Nếu nhạc thính phòng hấp thu các cách diễn đạt của các trường phái tân cổ điển, vô điệu thức, âm nhạc theo chuỗi, dân tộc chủ nghĩa và các trường phái khác của thế kỉ 20, trải qua vô số cấu trúc thử nghiệm nhưng rất ít nhà soạn nhạc lớn lấy thể loại này làm trọng tâm sáng tác. Nhạc Cách mạng được viết vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam nhằm cổ vũ tinh thần chiến đấu, phục vụ kháng chiến, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản. Nhạc trẻ xuất hiện phục vụ cho thị hiếu của độc giả, luôn đòi hỏi những ca khúc mới dẫn đến sự sáo rỗng, nghèo nàn về ca từ, …. thì nhạc Trịnh lại đứng vững vàng với những gì đã có. Từ khi xuất hiện lần đầu tiên trong các phòng trà hay giảng đường đại học, nhạc Trịnh đã lay động lòng người nghe ở đủ mọi lứa tuổi, giới tính và thành phần xã hội,… một cách mạnh mẽ, sâu lắng và bền bỉ bởi tính nhân văn của chính những nhạc phẩm mà ông đã viết.

 

 

 

  - Qua đó thấy được phong cách riêng, con người riêng và một dòng nhạc riêng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

 

 

 

      Trịnh Công Sơn là một hiện tượng âm nhạc hiếm gặp, một hiện tượng lạ. Làm nên cái lạ đó không chỉ  bởi âm nhạc, mà còn góp phần làm tên tuổi của Trịnh sống mãi một phần chính là việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ giàu hình ảnh, truyền cảm xúc. Qua đó ta có thể thấu hiểu sâu hơn tâm hồn, trái tim, nhân cách con người và cách mà ông tri ân với đời. Nhà văn Phạm Thị Hoài đã nói: “Thế kỉ vừa rồi hiếm khi cho chúng ta một nghệ sĩ đặc biệt như thế. Ông không phải là một trong những nhạc sĩ lỗi lạc nhất song hầu như không ai khác từ lúc sinh thời đã để lại một ảnh hưởng rộng rãi như vậy với người làm nhạc  và người nghe nhạc Việt Nam. Ông không phải là ca sĩ trứ danh song ông đã được so với Bob Dylan, và mang lại cho danh hiệu kẻ du ca một ý nghĩa hiện đại. Ông không phải là một trong những nhà thơ sáng giá nhất, song cách ông đặt lời bài hát đã thành một trường phái và dựng lên một phong cách ngôn ngữ xứng đáng được ghi nhận trong lịch sử văn học Việt Nam”. Nỗi buồn của Trịnh Công Sơn trong các ca khúc viết về tình yêu cũng không thể giống ai. Trong Thơ Mới, nếu như “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ. Ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư. Tta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, động yêu không bền, điên cuồng rồi cũng tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta buồn cùng Huy Cận” thì trong sáng tác viết về tình yêu của Trịnh  Công Sơn ta lại cảm nhận được hình ảnh một con người chấp nhận nỗi cô đơn. Quan điểm tích cực về cái tôi cô đơn trng các tình khúc đã quyết định chỗ đứng và điểm nhìn của ông trước cuộc đời. Trịnh cô đơn nhưng không trốn vào nỗi đau của riêng mình mà trải lòng với đời, đón nhận và chấp nhận:

 

 

 

                  Dù  đến dù đi cũng xin tạ  ơn người

 

                  Tạ  ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi

 

                  Còn những ngày quên kiếp sống lẻ loi

 

                  Dù  đến rồi đi tôi cũng xin tạ  ơn người

 

                  Tạ  ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi

 

                  Tình sáng ngời như  sao xuống từ trời

 

                                                   (Tạ ơn)

 

      Nhìn  ở góc độ văn hóa, Trịnh Công Sơn thực chất là một nhà nhân văn lớn của nước Việt. Nếu không bằng con đường âm nhạc, có lẽ ông cũng phải có một cách nào khác để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Là nhà văn, nhà thơ, hay là nhà yêu nước, nhà chính trị, xã hội,...ở vai trò nào, con người ấy phải là một anh hùng, một vĩ nhân. Nhìn ở góc độ ngôn ngữ, ông là một người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ Việt. Trịnh Công Sơn đã rất thành công trong việc sử dụng thủ pháp tu từ so sánh ở các tình khúc của mình. Điều đó cho ta thấy một nhạc sĩ giàu có về vốn từ, biết làm mới ngôn ngữ Việt bằng cách thổi vào đó những cảm xúc chân thành, mãnh liệt của mình và của nhân loại.

 

 

 

      Qua đó, biện pháp so sánh trong các ca khúc về tình yêu của Trịnh Công Sơn thêm một lần nữa làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Ngôn ngữ đa dạng, biện pháp tu từ phong phú, hình ảnh so sánh độc đáo và mới lạ. Trong lĩnh vực nghệ thuật, người ta đã dần quen với lối so sánh của Trịnh trong các tình khúc. Bởi những hình ảnh tưởng chừng như chỉ có thể diễn đạt được bằng văn xuôi thì ông đưa nó vào thơ rất nhẹ nhàng và sắc nhạy. Trịnh Công Sơn đã mở màn cho một dấu ấn lớn về nhân văn và cho thời đại./.

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG CA KHÚC VỀ TÌNH YÊU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
· SƯƠNG NGUYỆT MINH - BÍ MẬT ĐỂ ĐỜI CỦA MỘT NHÀ VĂN
· MỘT CÁI TẾT VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN THI
· THƠ – CÁCH TÂN VÀ CÁCH TÂM
· THƠ TÌNH TRONG KINH ĐIỂN
· THƠ HIỆN ĐẠI - TRĂN TRỞ VÀ THOÁT XÁC
· NHỚ NỮ THI SĨ 'BỨC TRANH QUÊ'
· NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN - MỘT TẬP TỤC ĐẸP
· NGÀY THƠ VN Ở QUẢNG NGÃI: NHỮNG DÒNG SÔNG THƠ VIỆT ĐỀU CHẢY
· “HỘI THỀ” – TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ HAY PHẢN LỊCH SỬ ?
· VÀI ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
· LÂM THỊ MỸ DẠ - TRÁI TIM NHƯ DÁNG LƯỠI CÀY
· Ý KIẾN VỀ BÀI PHỎNG VẤN GÂY TRANH LUẬN CỦA NGUYỄN THANH SƠN
· 9 TÁC GIẢ 'ĂN NÊN LÀM RA' NĂM 2010
· CHÀO VALENTINE: CHÙM THƠ TÌNH ÁO TRẮNG CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
· TẬP THƠ 'BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE' CỦA MAI VĂN PHẤN
· DỰ CẢM VĂN HỌC VIỆT NAM NĂM TÂN MÃO
· GIANG NAM TIẾT LỘ BÍ MẬT PHÍA SAU BÀI THƠ 'QUÊ HƯƠNG'
· NGUYỄN THANH SƠN: VĂN HỌC VIỆT NAM ĐANG PHẢI TRẢ GIÁ

 

  
Gia đình Bích Khê