Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_a6ipufdil3u1vumpao9lopejs0, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THƠ, NHỮNG ĐỤN CÁT BIẾN HÌNH

Nguyễn Chí Hoan

 

Nhìn lại một khoảng thời gian vừa qua và tính đếm những thành tựu của một khu vực hoạt động - phải chăng đó là một trong những tập quán bền lâu nhất của người ta; nhưng có lẽ vì thế mà nó cũng sinh ra tâm lý tiền lệ: bất luận thế nào cũng phải có thành tựu chứ?!

 

Mười năm vừa qua, có phải đã thành một đoạn trong phân kỳ văn học hay không thì chưa rõ, mà nhìn nhận những thành tựu về thơ ca thì còn nhiều bối rối.

 

 Nhưng chắc chắn một đặc điểm nổi bật từ khu vực thơ trong quãng thời gian đó là sự thành tạo một tâm lý tiền lệ khác: đã là thơ bây giờ thì phải “hiện đại”, phải “có đổi mới”, hoặc có thể mang những yếu tố gì “hậu hiện đại”.  Hầu như đồng thời và nhiều khi thâm nhập lẫn nhau trong những biểu hiện đương đại đó là việc lấy cảm hứng từ các biểu tượng văn hoá tâm linh và dân tộc tính - từ Phật giáo, đặc biệt mang phong vị “ theo Thiền”, một vài giọng điệu phiếm thần với “ chúa” hay “đấng” không xác định, cho đến các biểu tượng văn hoá tín ngưỡng dân gian.

 

Đặc điểm nổi bật nữa là việc mở ra một hoạt động có tính truyền thống mới – Ngày Thơ Việt Nam, do Hội Nhà văn Việt Nam khởi xướng và tổ chức trên qui mô cả nước vào ngày Rằm Tháng Giêng hàng năm, từ mùa xuân năm 2003.

 

Một hiện tượng khác biệt, bên cạnh nét chung - thơ cùng vươn ra những sàn diễn những không gian có tính lễ hội và đại chúng và thời thượng, ở cả  cả hai đặc điểm nêu trên - là chuỗi bừng lên trở lại những trường ca sử thi dài rộng tưởng niệm những hy sinh mất mát thời chiến , biẻu hiện cảm thức về các biến chuyển đương thời trong tâm thế chung. Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Thái, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Anh Nông v.v. cho thấy những cảm hứng và kỳ vọng thơ ca của kỷ nguyên chiến tranh và cách mạng vẫn tiềm tàng,  vẫn gắng giữ lấy một không gian thẩm mỹ của “ cái Ta” ước lệ trong hình thức của thơ tự do, của các hình ảnh tượng trưng được làm mới, của  một khát khao cổ xưa là nói lên thức nhận về cái thật và sự thật.

 

Tất cả trên cái nền chung thơ của muôn nhà gồm hai hệ ý tưởng căn bản: hoài niệm và tán thán việc người việc đời, hoài niệm và tán tụng tình yêu trai gái. Và dĩ nhiên luôn luôn có những mảng giao thoa khi  giản đơn khi lại cầu kỳ giữa hai dòng ý tưởng đó. Nhìn chung những sáng tác ở cấp độ này trước hết không đi đến những thái quá trong hình thức của diễn đạt, cho dù  một vài tay thơ điêu luyện có sử dụng những câu gọi là “thơ –văn xuôi” thì  vào thời buổi này điều đó không làm ai ngạc nhiên nữa.

 Những  người làm hay cổ vũ các biểu hiện cấp tiến trong thơ đương thời thường coi dạng thức vần điệu, dẫu có mở rộng hay biến thái, ở loại thơ nói trên là “thơ truyền thống” và thậm chí đôi lúc xem như là “cổ điển”.

Cách gọi ấy nhiều khi thấy như có vẻ  sát thực. Tuy nhiên không đúng. Chẳng hạn thơ ngâm vịnh thù tạc không ngừng sinh sôi, nhưng chỉ cần xem những bài gọi là thể tứ tuyệt, hầu như không thấy đuợc một câu “thực” nào cho nghiêm, cho đủ hàm súc gãy gọn, như ở thơ tứ tuyệt xưa; chưa nói đến phong vị đặc thù của những thứ cổ thể như thế.

Nhiều và rõ hơn những biểu hiện làm mới truyền thống có thể thấy ở thơ lục bát, nhất là lục bát mà ngắt chữ xuống dòng tuỳ hứng tuỳ thích. Thao tác có vẻ giản đơn như vậy lại ẩn chứa nhiều khả năng đảo lộn với một thể thơ vẫn được xem là “bản sắc” hơn cả. Tuy thế chưa có người viết nào thật sự đi xa trên hướng này như cách Trần Dần đã làm trong MÙA SẠCH (- Trần Dần, 2009.)

Hai điều dẫn trên nói lên rằng thực tế toàn bộ hoạt động thơ ca những năm đầu thế kỷ mới đã vẫn tiếp tục xu thế chung “đương thì cập nhật” , cái xu thế diễn tiến ngay từ những năm đầu Đổi mới và từng trải qua một cơn sốt vỡ da ngắn ngủi được gọi là “thơ văn chống tiêu cực” hồi những năm 1990s.

Nói cách khác, thơ của muôn nhà chính là cái tiếng thơ của thời hiện đại mà ta chẳng phải nhọc lòng đi tìm ở đâu. Gìơ đây ai còn đủ sức viết ra một tập MÙA CỔ ĐIỂN ? và có ai viết ra được một PHẤN THÔNG VÀNG ? – Không ai cả.

          Thơ hiện đại không phải là đặc quyền của một người hay một nhóm người viết nào. Và trong bối cảnh “Dada” về tiêu chuẩn thẩm mỹ, thì tính dung tục gần như là cái tiêu chuẩn chung dễ thấy ra hơn cả.

Từ góc độ một người đọc yêu thích thơ ca nói chung, một người thích nghe những “tiếng thổi tâm tình” từ /của những trái tim cửa nẻo không khép chặt, thì có lẽ thành tựu rõ rệt nhất của thơ hơn mười năm qua chính là ở chỗ đó: đời sống xã hội biến chuyển mạnh mẽ khôn lường gây sức ép khôn kể lên mỗi con người và thời gian sống, nhưng luôn luôn đâu đó vẫn có những người làm thơ; bất luận thế nào thơ vẫn dường như không thể thiếu được; và do đó hẳn không ngẫu nhiên người ta chấp nhận để cho nó dễ dàng nói đến hay gắn vào không gian của các giá trị tâm linh.

          Quan tâm đến giá trị tâm linh, cũng như quan tâm đến môi trường, là một trong những biểu thị về tính hiện đại, nếu ta coi “hiện đại” là một thuộc tính tự thân của đời sống văn hoá đương thời. Theo đó thì những tìm kiếm cực đoan về hình thức của diễn đạt thơ ca cũng là một phần của cái tâm thế “hiện đại” đó vậy.

Nhưng từ phía khác, sự tìm kiếm cái mới lại đi vào một trong những lối dễ dãi hơn cả của việc kiếm tìm trong nghệ thuật, cũng là một lối xưa nay vẫn “mới” : lối xông vào các địa hạt cấm kỵ, đi ngược thói quen tập quán vốn vẫn chính thức lưu hành, tận dụng hết mình một cách hoàn toàn cảm tính cái tính chất cá biệt cá thể mà mỗi người đều riêng có.

          Cho dù cả những điều đó nữa cũng là các chất liệu văn học thì không phải vì thế mà chúng đủ tạo ra thơ và người làm thơ ở mức độ mà những người viết đó tìm kiếm sự khẳng định.

Phần lớn các “hiện tượng” thơ có lạ mà không mới, không mang đến gì khác hẳn về giá trị nghệ thuật so với thơ chung của muôn nhà ngoài một khẩu khí mạnh bạo hay táo tợn hơn.

Cái thách thức “vượt Vũ môn” đối với toàn bộ thơ ca chung ấy, xưa cũng như nay, là ở độ chênh ngôn ngữ : từ vựng hình ảnh, cú pháp đặc trưng, các tổ hợp tạo nhịp điệu, sức khái quát sinh động – cũng tức là sức khơi gợi trí tưởng tượng – của câu chuyện bên trong bài thơ; và tất cả các yếu tố đó phải hợp thành một hệ thống hữu cơ, cân bằng và nhất quán theo lối riêng – khi đó mới có thể nói đến cái đẹp tạo ra được hay không.

Và cũng chỉ khi đó người ta mới có thể nói đến ý tưởng mà bài thơ đề xuất.

Nhưng thực tế thì trong chúng ta suốt những năm gần đây “ý tưởng” gần như cụm từ cửa miệng khi nói về thơ ( cũng như văn chương nghệ thuật khác).

Chẳng hạn, có  chùm thơ của một nữ tác giả lần đầu ra mắt một diễn đàn lớn chỉ giãi bày xúc cảm thân phận éo le trắc trở tình duyên qua những chuỗi hình ảnh so sánh, gợi tả v.v., bố cục như một bài phát biểu cảm tưởng, tâm tình nỉ non bất tận, mà ưu thế duy nhất thấy được là tính nhạy cảm nữ giới trước sự vật hàng ngày; nhưng người giới thiệu – một nhà thơ dày dạn tuổi nghề - trân trọng gọi đó là có những ý tưởng “tươi mới”.

Trong khi bài học đầu tiên người xưa vẫn dạy là: Không có gì mới dưới ánh mặt trời (,tất nhiên, đặc biệt là về các ý tưởng).

“Ý tưởng”, theo cái cách mà những năm gần đây thường nhắc đến, chủ yếu là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển – của các chuyên ngành thiết kế và quảng cáo-tiếp thị, của các nhà quản lý và buôn bán thương hiệu, của mỹ thuật ứng dụng và nghệ thuật thị giác,…

Nhận lấy cái quan niệm “ý tưởng” đó, như thể trùng hợp với sự mở rộng tăng vọt của quá trình xã hội đất nước hội nhập thế giới đương đại đầu thế kỷ mới, thơ-thị giác và thơ-trình diễn xuất hiện, dù có chậm hơn đôi chút so với tạo hình “sắp đặt” và “trình diễn”.

Đi liền với những tác phẩm nghệ thuật đương đại đó là (khái niệm và thực thể) những “nhà tài trợ”.

Do vậy, chưa kể không có gì để nói đến phương diện ngôn ngữ , thật bối rối nếu muốn tính những tác phẩm trình diễn và thị giác như vậy vào bảng liệt kê thành tựu của thơ ca.

Ít nhất thì cũng bởi chỗ trong số những bài thơ được đem trình diễn hầu như chẳng có bài thơ nào cho thấy một sức mạnh đặc trưng về nhịp điệu và âm điệu mà sự trình diễn đòi hỏi.

Một nhánh đi mới đây của xu hướng thơ cấp tiến là “thơ tân hình thức”, được xem là một sản phẩm mang tinh thần “hậu hiện đại” rõ rệt nhất của ngôn ngữ thơ ca, ít ra cũng là thơ ca tiếng Việt đương thời.

Nguồn gốc thơ “tân hình thức” cũng được trình bày rõ là một trào lưu trong thơ ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, mà một nhóm nhà thơ người Việt sống ở bên đó đã tiếp thu về căn bản phương pháp nhằm mở một hướng mới cho thơ tiếng Việt.

Nhưng những bài thơ “tân hình thức” tiếng Việt trong nước cho đến nay tỏ ra không mấy thuyết phục, không phải vì nó mới quá, mà vì nó quá tếu táo hay khô cứng. Nếu sự tếu táo còn dựa được vào yếu tố trào lộng gây cười thì sự khô cứng lại không thể dựa gì vào nghệ thuật kể chuyện thô sơ và ngôn ngữ quá thông thường, thậm chí còn gò bó.

 

Trong khi đó kể chuyện bằng thơ là một truyền thống lâu đời ở người Việt và trong số các giọng  thơ  hiện đại triệt để đổi mới vẫn có những người tiếp tục truyền thống đó một cách hiệu quả, như Nguyễn Quang Thiều, Mai n Phấn, Phan Thị Vàng Anh, Trần Quang Quý, Nguyễn Bình Phương,.. chưa kể một số người viết mà tác phẩm chưa được công bố cách thích hợp.

 

Có lẽ điều đáng nói trước hết trong những nỗ lực đổi mới thơ như vậy là ở chỗ đưa vào ngôn ngữ thơ Việt, bao lâu nay vốn thiên về các rung động tình cảm, một hàm lượng lớn và ngày càng lớn hơn các rung động của việc suy nghĩ, hơn nữa là việc suy nghĩ có hệ thống, nghiêm cẩn và suy xét, không rơi vào việc diễn dịch những “ý tưởng” sẵn có nào đấy.

   

Thơ như vậy sẽ vẫn là tiếp nối truyền thống xưa nay: nó đòi người đọc “Hãy nâng tâm hồn mình lên”./.

 

 

 Bài đã đăng báo Văn nghệ Trẻ

 

Các bài khác:
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ CHUYẾN NGƯỢC DÒNG VỀ “CÕI LẶNG”
· GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG CA KHÚC VỀ TÌNH YÊU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
· ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG CA KHÚC VỀ TÌNH YÊU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
· SƯƠNG NGUYỆT MINH - BÍ MẬT ĐỂ ĐỜI CỦA MỘT NHÀ VĂN
· MỘT CÁI TẾT VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN THI
· THƠ – CÁCH TÂN VÀ CÁCH TÂM
· THƠ TÌNH TRONG KINH ĐIỂN
· THƠ HIỆN ĐẠI - TRĂN TRỞ VÀ THOÁT XÁC
· NHỚ NỮ THI SĨ 'BỨC TRANH QUÊ'
· NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN - MỘT TẬP TỤC ĐẸP
· NGÀY THƠ VN Ở QUẢNG NGÃI: NHỮNG DÒNG SÔNG THƠ VIỆT ĐỀU CHẢY
· “HỘI THỀ” – TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ HAY PHẢN LỊCH SỬ ?
· VÀI ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
· LÂM THỊ MỸ DẠ - TRÁI TIM NHƯ DÁNG LƯỠI CÀY
· Ý KIẾN VỀ BÀI PHỎNG VẤN GÂY TRANH LUẬN CỦA NGUYỄN THANH SƠN
· 9 TÁC GIẢ 'ĂN NÊN LÀM RA' NĂM 2010
· CHÀO VALENTINE: CHÙM THƠ TÌNH ÁO TRẮNG CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
· TẬP THƠ 'BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE' CỦA MAI VĂN PHẤN
· DỰ CẢM VĂN HỌC VIỆT NAM NĂM TÂN MÃO

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_a6ipufdil3u1vumpao9lopejs0, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0