|
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC PHÂN NGÀNH LỊCH SỬ VĂN HỌC, LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH
Trần Ngọc Vương
1. Phê bình văn học hiện thời ra sao?
So với chỉ vài chục năm trước đây, thì số lượng nhà văn “đã qua thẩm định chất lượng chính thức”, nghĩa là đã được kết nạp vào Hội Nhà văn, tăng lên hầu như gấp đôi. Số lượng tác phẩm được công bố, thì tuy không có con số thống kê chính thức, chỉ căn cứ vào sự quan sát “bằng mắt thường” cũng có thể nói mà không sợ xa sự thật bao nhiêu, là gia tăng với cấp số nhân. Nhưng số lượng nhà phê bình cũng như số lượng tác phẩm phê bình thì không được lạc quan như thế. Lại thêm nỗi, các tác phẩm được gọi là tác phẩm phê bình – điều kiện để được gia nhập Hội – trong thực tế đa phần là các luận văn, luận án hay kết quả của những đề tài khoa học nào đó, từng được “trả thù lao” ít nhất một lần rồi, nên thật khó mà coi là những tác phẩm phê bình original.
Cần nhận rõ một tình hình thực tế, nếu các nhà phê bình cũng nên được hình dung theo “thế hệ”, thì “thế hệ chống Mỹ” của các nhà phê bình văn học ở ta số lượng cũng không thật đông, nhưng dù sao, có được một số cây bút cũng có thể coi là “ra dáng”. Đa số các anh các chị đó vốn là sinh viên các khoa Văn của Tổng hợp hay Sư phạm cũ. Điều này, theo tôi có khác với “xuất xứ” của người sáng tác, và làm nên một nét có thể coi là đặc thù đầu tiên: thực tế là nếu không được đào tạo cơ bản – hay kể cả tự đào tạo đi nữa cũng phải theo hướng cơ bản, thì không thể làm phê bình đích thực được.
Kể từ thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc đến nay đã gần 30 năm. Hội Nhà văn đã kết nạp làm thành viên của mình có lẽ đến quá nửa là những người cầm bút sáng tác sau năm 1975 lịch sử ấy. Các anh các chị có trách nhiệm ở đây biết rõ hơn tôi, vậy xin hỏi, cũng trong thời gian ấy, có bao nhiêu người làm phê bình văn học được kết nạp?
Có lẽ có người sẽ thắc mắc ngay rằng tại sao lại cứ phải coi là hội viên chính thức thì mới là đáng kể, thì mới sáng tác hay phê bình được? Người không vào Hội thì không làm được gì đáng kể sao? Điều tôi tin là thế này: có những người không vào Hội mà vẫn làm được thật, làm tốt là đằng khác, nhưng những người như thế thì thường là đại gia đích thực, Hội cần họ hơn là họ cần Hội, còn với đa số, việc được là hội viên mới giúp họ tự tin hơn khi viết lách, nói năng. Điều đó là bình thường, là “chân lí đời sống”.
Mấy năm trở lại đây, một số nhà giáo ở các trường đại học, cá biệt là nhà giáo phổ thông, các cán bộ nghiên cứu và một số rất ít người từ môi trường khác được bổ sung vào đội ngũ phê bình. Đặc điểm chung của đội ngũ những người này (dĩ nhiên có ngoại lệ) là họ được bằng cấp hóa, hàm vị hóa. Cũng khó mà khác thế: làm sao có thể tưởng tượng ra kiểu nhà phê bình “ít học” mà “phán” lại có người tin?

Nhưng như đã nói, các thầy cô giáo và các “viện sĩ” vốn được đào tạo bài bản nhưng lại chỉ quen với các dạng làm văn nghị luận. Phải nói thẳng rằng một trong những điểm “yếu mãn tính” nhưng lại cũng khá hiểm nghèo của hệ thống giảng dạy văn học trong nhà trường (ở mọi cấp, và hầu như ở rất nhiều nước chứ không riêng gì ở ta) là không dạy cho người học môn văn tư duy theo kiểu đặc thù của tư duy nghệ thuật, tức tư duy hình tượng, (trong khi học sinh, sinh viên của các trường nghệ thuật khác thì lại chú trọng kiểu tư duy này, và thậm chí còn tuyển theo năng khiếu – thế mà không ít người lại bảo văn chương nói chung, thơ ca nói riêng là thứ nghệ thuật bậc nhất!). Theo sự chiêm nghiệm của cá nhân tôi, thì đây chính là cội nguồn sâu xa khiến cho người sáng tác thường thể hiện ra thái độ không chịu, không phục: mỗi chủ thể chỉ tư duy theo kênh riêng của mình!
Bởi chẳng chịu nhau, mới nảy ra một tình thế, xét cho cùng là giải pháp tình huống nhưng lại khả dĩ chấp nhận, và trong thực tế là đã được chấp nhận nên mới trở thành thực trạng ngày hôm nay, là người sáng tác “tự làm phê bình lấy”. Một loạt các nhà thơ, nhà văn mươi năm nay trở thành nhà phê bình, không những thế, một số trong họ tự coi mình là nhà phê bình có quyền uy, chẳng hạn như Trần Mạnh Hảo, công khai thách thức “hầu chuyện các giáo sư”. Dĩ nhiên, cái lối phê bình “tay ngang” như thế làm sao mà không phạm sai lầm cho được? Nhưng tôi xin nhắc lại, rằng theo tôi, để xảy ra tình trạng “cướp cờ” không thật chính đáng ấy, có nguyên nhân là hạn chế của chính những người được đào tạo để làm phê bình.
Tôi không nói rằng người làm phê bình thì cần học nhiều, cần có tri thức và phong cách tư duy toàn diện, phong phú mà người sáng tác thì không. Nhưng đòi hỏi về tính “toàn tri” (omniscience) thì rõ ràng nhà phê bình cần đáp ứng ở mức độ cao hơn so với người sáng tác.
Nghĩ đi nghĩ lại, thì dù muốn dù không, nền văn học đương đại dĩ nhiên cần nhiều, thật nhiều tri thức văn học sử, thật nhiều tri thức lí luận văn học, thật nhiều tri thức văn học nước ngoài, cần nhiều nữa các hình thức môi giới giữa các bộ phận của chính nó với nhau cũng như giữa nó với các loại hình nghệ thuật, và xa hơn, với các hình thái ý thức xã hội khác. Lao tác trên mảnh vườn hẹp nào thì cũng thuộc sở hữu của khu vườn văn học đương đại chung cả mà thôi. Thực trạng tách rời các bộ phận văn học sử, lí luận với phê bình văn học (được hiểu là công việc cập nhật, đương đại) và giữa phê bình văn học với sáng tác trong đời sống văn học hiện thời của chúng ta là điều khó chối cãi, dĩ nhiên cần tìm hiểu những nguyên nhân cả gần lẫn xa, nhưng hậu quả thì cần nói trước: đã rời thì rã. Và cái sự rã thì nhãn tiền.
2. Các lí thuyết văn học hiện tồn và phê bình văn học ở Việt Nam
Ta thử hình dung lại thời xuất hiện phê bình văn học kiểu mới trong lịch sử văn học. Trước sau năm 1930 trong đời sống văn học ở ta đã dần dần xuất hiện những bài phê bình văn học (chủ yếu trên báo chí) theo kiểu mới. Các nhà nghiên cứu, sưu tầm ở giai đoạn văn học này đã ghi nhận hiện tượng gần như là “bách gia tranh minh, bách hoa tranh khai” của chỉ riêng phê bình văn học. Rõ ràng, giữa các nhà phê bình tiêu biểu nhất của giai đoạn văn học 1932-1945 có sự đa dạng đáng kể về phong cách và trường phái. Không nghi ngờ gì rằng giữa họ tồn tại rất nhiều dị biệt về nhiều giác độ quan sát: họ khác nhau về nguồn gốc và trình độ học vấn (có nhà phê bình tiếp tục dựa trên nền tảng cựu học là chủ yếu, có nhà phê bình lại hầu như hoàn toàn “tân học”; có người đã có trình độ học vấn đại học hoặc tương đương nhưng cũng có người chỉ mới tới bậc thành chung; cũng có nhiều người có được một vốn liếng tri thức tổng hợp “thổ nạp Á Âu”), khác nhau về lập trường tư tưởng, thế giới quan và xác tín chính trị (có người là nhà phê bình macxit như Hải Triều, Đặng Thai Mai, có người là macxit không thuần thành như Trương Tửu, Phan Văn Hùm, có người lại chịu ảnh hưởng chủ yếu của tư tưởng dân chủ tư sản…), khác nhau về phong cách phê bình và trường phái phê bình mà họ lựa chọn (như Hải Triều lựa chọn nghệ thuật vị nhân sinh và phong cách phê bình xã hội- lịch sử, Hoài Thanh nghiêng về hơi hướng nghệ thuật vị nghệ thuật và phong cách phê bình ấn tượng, Vũ Ngọc Phan nghiêng về lối khảo chứng – văn bản kiểu Lanson, Đinh Gia Trinh đậm sắc suy tưởng – triết luận và văn hóa, Nguyễn Triệu Luật cố gắng mô hình hóa những tri thức văn học truyền thống…). Không chỉ sáng tác, mà phê bình văn học giai đoạn này cũng có sự đột biến cần tiếp tục phát hiện lại và ghi nhận.

Sự thu hẹp đáng kể các hệ quy chiếu của phê bình văn học sau Cách mạng tháng Tám là một sự thực lịch sử. Tình trạng đó có nhiều nguyên nhân, vừa chủ quan vừa khách quan, có mặt là tất yếu mà cũng có mặt là đáng tiếc. Một trong những lí do mà tôi coi là tất yếu chính là hoàn cảnh tồn tại không bình thường của đất nước buộc phải tiến hành hai cuộc chiến tranh lớn (chưa kể vài cuộc chiến “không lớn lắm” khác) giành và giữ nước kéo dài liên tục trong ba mươi năm – tình trạng quốc gia có chiến tranh và là chiến tranh khốc liệt kéo dài nhất so với mọi quốc gia – dân tộc khác trên thế giới trong thế kỉ XX. Chiến tranh, dĩ nhiên có ảnh hưởng phức tạp, nhiều chiều đến sự tồn tại và phát triển của văn học, và theo ý tôi, đối với riêng phê bình văn học, thì chủ yếu là tác động tiêu cực.
Trong suốt cả quãng thời gian đó, thậm chí còn kéo dài thêm nhiều năm sau, về mặt lí thuyết văn học, ta chủ yếu chỉ tiếp thu những thành tựu (và dĩ nhiên, chịu đựng cả những hạn chế nữa) của lí thuyết văn học từ các nước xã hội chủ nghĩa, mà cũng chủ yếu chỉ từ Liên Xô (nhưng lại hầu như không tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ Trung Quốc, như điều xảy ra trong lĩnh vực tư tưởng). Đối với mọi trường phái, mọi chủ nghĩa, mọi lí thuyết nghiên cứu và phê bình văn học của các nước phương Tây phi xã hội chủ nghĩa, thì chỉ riêng một việc giới thiệu để nhận dạng cũng đã không được tiến hành đến nơi đến chốn, chứ chưa nói là tiếp thu, chịu ảnh hưởng. Thậm chí có những trường hợp ta tiến hành phê phán mà không cần tìm hiểu. Lời tự bạch thành thực cay đắng của một trong những người thầy của chúng tôi, cố giáo sư Đỗ Đức Hiểu đủ để minh chứng cho sự bất cập của một cách làm như thế.
Nói cho thành thực và nghiêm khắc ra, thì ngay đối với các thành tựu nghiên cứu và lí luận văn học quan trọng của Liên Xô ta cũng chỉ tiếp thu được ở trình độ giản lược, toát yếu và cục bộ, chỉ chủ yếu là giáo trình hóa chứ ít chuyên luận hóa. Hầu như tất cả các công trình vận dụng các lí thuyết và thành tựu đạt tới trình độ chuyên luận hóa đều được thực hiện sau năm 1980, và một trong những người sớm nhất làm được điều đó là giáo sư Trần Đình Sử, gần đây là phó giáo sư Trương Đăng Dung và tiến sĩ Đỗ Lai Thúy.
Diễn biến cực phức tạp và đầy sự bất ngờ của tình hình thế giới trong chưa tới hai thập niên gần đây dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không khỏi khiến giới nghiên cứu, lí luận và phê bình văn học trong nước nếm trải những thách thức nghiêm trọng. Đối với nhiều trong số những tri thức và xác tín lí luận từng được biết tới và thừa nhận trước đây, không ít người xử sự như đối với những người quen nhưng đã bị tai tiếng. Quả trong nhiều trường hợp thì cũng khó mà xử sự khác. Nhưng cũng có những giá trị “kinh điển” bị coi nhẹ hay bị nghi ngại một cách thiếu sáng suốt. Những trạng thái hoang mang là có thật, cũng là tất yếu, nhưng đồng thời cần phải nhanh chóng vượt qua.
Một số nhà nghiên cứu có trình độ và có ngoại ngữ đáng tin cậy trong thời gian mươi năm trở lại đây có những cố gắng tuy âm thầm nhưng rất đáng được tôn trọng là dịch và tổ chức dịch được ra tiếng Việt, hoặc ít ra thì cũng giới thiệu để độc giả làm quen, một số công trình khoa học xã hội nói chung, lí thuyết văn học nói riêng. Tuy nhiên, nếu đối diện với những gì cần giới thiệu cho đồng nghiệp và bạn đọc hữu quan, thì những gì đã làm được của đội ngũ những người đó còn là khiêm tốn. Cá biệt có những bản dịch, hay thường gặp hơn là những bản toát yếu, xem ra độ tin cậy còn thấp. Con đường tất yếu để phát triển trình độ khoa học ở các nước kém phát triển là nâng cao nhanh chóng trình độ ngoại ngữ như là một trong những phương tiện hữu hiệu bậc nhất, trong giới chúng ta hẳn chưa phải đã được tuân thủ thật tốt.
Gần đây, có nhà phê bình gốc Việt định cư ở ngoài nước đã có nhận xét rằng nhìn tổng thể, căn cứ vào tính chất của đa số các bài phê bình văn học trên báo chí trong nước, thì nền phê bình của ta đang ở vào trình độ tiền lí thuyết. Tôi không nghĩ thế, nhưng quả không ít lắm những bài phê bình trên báo của ta, nhất là khi in ở các tờ báo chuyên ngành, như báo Văn nghệ chẳng hạn, cứ tiếp tục lối phê điểm, “rung đùi lắc vế” một chiều như lối bình (tán, thù tạc) của các cụ đồ Nho xưa, thật là đáng nản.
3. Tri thức văn học sử với phê bình văn học
Ngoài sự thiếu hụt về tri thức lí luận văn học, phê bình của ta trong nhiều trường hợp cũng thiếu khá nghiêm trọng những tri thức văn học sử.
Trong công việc giảng dạy văn học truyền thống, tôi nhiều lần phải nhắc đi nhắc lại với sinh viên, cần ý thức rằng văn học thành văn Việt Nam tuy có gần mười thế kỉ lịch sử nhưng đã sử dụng đến ba thứ ngôn ngữ văn học, và trên thực tế, ít nhất đã có sự chuyển đổi về hệ hình, khiến cho không thể chỉ dùng những phương thức tiếp cận văn học của ngày hôm nay mà mong hiểu đúng, hiểu sâu chín thế kỉ văn học trước đây. Tình hình còn đáng quan ngại hơn ở chương trình phổ thông. Về điều này, thậm chí tôi đã có bài “kêu cứu” in trên Tạp chí Văn học.
Với mặt bằng tri thức về văn học trung đại (tôi sử dụng ước lệ khái niệm này) như chương trình phổ thông trung học hiện nay, với vốn hiểu biết về chữ Hán văn học của đa số người viết như hiện nay, chẳng đáng ngạc nhiên về việc ai đó khi viết lách liên quan đến văn học trung đại dễ có sa sểnh.
Đa số văn hữu của chúng ta cũng không được trang bị đến mức tối thiểu cần thiết tri thức văn học sử thế giới. Ngoài chuyện có rất nhiều tác phẩm văn học thế giới, tôi chỉ nói các kiệt tác, được thừa nhận phổ biến hẳn hoi còn chưa được dịch (điều này đối với bất cứ cá nhân nào cũng là bất khả kháng, vì làm gì có ai đủ ngoại ngữ, thời gian, quan hệ và tiền bạc để mua và đọc các kiệt tác ấy trong nguyên ngữ!). Ngay văn học Trung Quốc, nền văn học vĩ đại, vả lại có quan hệ tương sinh đối với chín thế kỉ văn học truyền thống của ta, tôi dám chắc rằng nhiều “yếu nhân văn chương” của ta cũng không thể kể tên đúng và đủ, chứ đừng nói đọc được, những ai đã được liệt vào danh sách “Đường Tống bát đại gia” của họ.
Tuy văn học phương Tây, được coi là trục chính của văn học thế giới, thì hàng chục thế kỉ thời Trung cổ đối với ta là hoàn toàn xa lạ. Và bắt đầu từ những năm 20 của thế kỉ XX, đông đảo bạn đọc Việt Nam còn chưa có dịp làm quen với hai trong “ba cột mốc khổng lồ” mở ra thời hiện đại là M. Proust và Jame Joyce. “Đại nhân” thứ ba, F. Kafka, cũng chỉ mới được dịch và giới thiệu cơ bản trong thời gian gần đây. Theo cảm nhận của tôi, thì về văn học phương Tây cận hiện đại, độc giả Việt Nam chỉ biết “tương đối cơ bản” về các tác giả, tác phẩm từ Phục hưng qua Khai sáng – cổ điển – lãng mạn – hiện thực phê phán cổ điển.
Ta vẫn hi vọng, và điều đó là chính đáng, một ngày nào đó mang không chỉ các sáng tác xuất sắc của ta góp vào kho tàng văn học thế giới, mà còn các tác phẩm phê bình, nghiên cứu, thậm chí (tại sao không?) các tư tưởng về lí luận phê bình của ta đối sánh với trí tuệ nhân loại, khẳng định và khiến tha nhân “tâm phục khẩu phục”. Chắc đường tới đó còn dài, rất dài.
Nhưng đừng để lúc nào đó phải thốt lên: “Không bao giờ”./.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2004. Bản vi tính Copyright © lyluanvanhoc.com 2011.
|