DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NHÌN LẠI BA CUỘC TRANH LUẬN TRONG GIỚI VĂN NGHỆ TRUNG QUỐC 10 NĂM QUA

                                         (Phần 1)

 

 

 

Du Chương Hoa

 

Hùng Nguyên Nghĩa

 

Gần 10 năm trở lại đây, giới văn nghệ Trung Quốc đã triển khai ba cuộc tranh luận khá lớn, xung quanh vấn đề lựa chọn giá trị tinh thần của văn học. Cuộc thứ nhất là vấn đề tinh thần nhân văn của văn học, cuộc thứ hai là “sự thông minh” của nhà văn, cuộc thứ ba là tinh thần phê phán của văn học. Ba cuộc tranh luận này, nhìn bề ngoài đã trải qua ba giai đoạn khác nhau, về lý luận xem ra có sự phát triển và tiến bộ khá lớn, song thực chất, về tư duy lý luận cả hai bên lại giẫm chân tại chỗ. Cũng có thể nói, hai bên đối lập trong cuộc luận chiến đã không vượt qua được những hạn chế của bản thân, để hướng tới sự phát triển ở giai đoạn cao hơn, mà chỉ dừng lại ở sự lặp lại ở trình độ thấp trên cùng một tầng thứ.

 

 

 

Ba cuộc tranh luận này mặc dù câu chuyện của mỗi cuộc khác nhau, song tiêu điểm đều là sự xung đột và đối lập giữa lý tưởng (yêu cầu) với hiện thực (tồn tại).

 

1. Vấn đề tinh thần nhân văn của văn học

 

Vấn đề này do Vương Hiểu Minh và một người đề xuất đầu tiên vào 1993. Trái với khuynh hướng sáng tác xóa bỏ sự thần thánh, tránh né cái cao cả của Vương Sóc mà Vương Mông và một số người ra sức khẳng định, Vương Hiểu Minh và một số người đã kiên quyết phản đối. Trong bài viết có tiêu đề Đống đổ nát nơi hoang mạc – nguy cơ của văn học và tinh thần nhân văn, họ đã chỉ rõ, giọng điệu chính trong các tác phẩm của nhà văn Vương Sóc là “giễu cợt”. Lối giễu cợt này đã thủ tiêu bất kỳ tính nghiêm túc nào của sinh tồn, biến cuộc đời thành thú cười xòa, đằng sau nó là sự vô nại (chẳng thể làm khác) và vô nghĩa.

 

Vương Sóc giễu cợt cái giả tạo của đại chúng, đồng thời cũng giễu cợt những giá trị và tính nghiêm túc của kiếp người, để cuối cùng giễu cợt tất cả. Kẻ giễu cợt hoàn toàn khách quan, coi mình là người ngoài cuộc, xem ra dường như chẳng khẳng định cái gì, mà cũng không phủ định cái gì, cốt sao được thoải mái và khoái chí trong chốc lát, nhằm xóa bỏ toàn bộ sự thần thánh và cái cao cả mới là mục đích của Vương Sóc. Thái độ giễu cợt của Vương Sóc đã làm nhạt tính nghiêm túc và tính khốc liệt của sinh tồn. Nó thủ tiêu ý thức phê phán nơi con người, không gánh chịu bất cứ điều gì, cho dù là niềm vui hay nỗi đau, hơn nữa còn biến bản thân sự gánh chịu thành trò cười để châm chọc. Điều này có thể xem là biểu hiện của cuộc sống đê tiện và khiếp nhược. Trong sự giễu cợt, mọi người thông qua sự quên lãng và phương thức thủ tiêu sự sống của chính mình để trốn tránh trách nhiệm nặng nề đối với sinh tồn. Thế nhưng, hiện thực sinh tồn lại không vì sự trốn chạy đó mà có chút thay đổi. Qua đó ta cũng có thể thấy điều tệ hại trong cảnh ngộ sinh tồn của người dân trong nước và sự nhỏ nhoi của sự sống(1). Đó không phải là hiện tượng sáng tác cô lập.

 

Vương Hiểu Minh đã chỉ rõ, “từ năm 1987 trở lại đây, trong sáng tác tiểu thuyết luôn tồn tại loại khuynh hướng, đó là chuyển trọng tâm sáng tác từ “nội dung” sang “hình thức”, từ câu chuyện, chủ đề và ý nghĩa sang tự sự, cấu trúc và kỹ xảo, đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm được gọi là “Tiên phong” hoặc “Tiền vệ”. Sự ra đời của hiện tượng này, ngoài sự cách tân trong quan niệm tiểu thuyết, những thay đổi trong cảm thụ chủ quan của người sáng tác, phải chăng cũng ngầm hợp với trào lưu tư tưởng rút lui khỏi sự vươn tới mục tiêu lý tưởng những giá trị sinh tồn trong giới trí thức?

 

Còn như nói thái độ tự sự lạnh lùng vô cảm của cái gọi là loạt nhà văn “Tân tả thực chủ nghĩa”, quả đúng như lời một số nhà bình luận cho rằng, đó là thái độ có dụng ý? Phải chăng cũng đồng nghĩa với việc phản ánh sự sụp đổ tín ngưỡng tinh thần nơi nhà văn, anh ta đã đánh mất chỗ dựa phán đoán giá trị đối với nhân sinh? Còn việc hai năm qua lưu hành loại tiểu thuyết và thơ ca lấy sự châm chọc khinh miệt làm đặc sắc, lại càng bộc lộ trắng trợn sự phản bội tính thần thánh của loại văn học mà chúng ta đã nói ở trên.

 

 

Đương nhiên, tình hình văn học Trung Quốc mấy năm gần đây khá phức tạp, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên rất đa dạng. Thế nhưng, xét một vài hiện tượng tưởng chừng chẳng liên quan gì, tôi lại cảm nhận một cách rõ rệt về một khuynh hướng thoái lui chung, một kiểu thoái lui thiếu tự chủ về điểm tựa tinh thần, sự thoái lui khỏi lập trường mà ở đó “văn học cần phải giúp con người mạnh mẽ hơn và phát triển năng lực cảm ứng trước cuộc đời”, thậm chí là sự thoái lui khỏi lập trường trên đời rõ ràng vẫn tồn tại những giá trị tinh thần (Bài đã dẫn). Họ cho rằng đó là nguy cơ khô kiệt nhãn tiền về tinh thần nhân văn trong thời đại chúng ta.

 

Sự phê phán này trước tiên bị Vương Sóc và một số người phản kích lại. Vương Sóc và một số người cho rằng, trong xã hội mà cơ hội lựa chọn và phương thức lựa chọn ngày một nhiều, yêu cầu phải trọng thị không còn là vấn đề tinh thần nhân văn thất lạc hay không thất lạc, mà là vấn đề nên hay không nên tôn trọng sự lựa chọn của người khác. Hiện giờ phải xác lập lại một chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ giao tiếp, đó chính là không ai có quyền can thiệp vào sự lựa chọn của người khác, có người có thể lựa chọn làm triết nhân, có người lại lựa chọn làm ẩn sĩ, song cũng có người lại chọn làm tiểu thị dân. Cần phải tôn trọng quyền lợi của thiểu số người, cho dù đó là quyền được phạm sai lầm, trước đây chúng ta chỉ nói đến “kiên trì chân lý, sửa chữa sai lầm”, song có lúc lại cần phải kiên trì những cái gì mà người khác xem là sai lầm, và trong một tình trạng nào đó, kiên trì sai lầm còn khó hơn là kiên trì chân lý, nó đòi hỏi phải có dũng khí hơn, và cũng có ý nghĩa hơn.

 

Trong vấn đề sống ra sao, không có mô thức nên thế này không nên thế kia, không ai có thể ép buộc được ai. Chớ biến thành những “Đảng vệ quân” về tinh thần nhìn ai cũng là người Do Thái, hiện giờ “nạn phát xít” trong tinh thần và văn hóa dường như không phải ít(2).

 

Ngay sau đó là lời biện hộ của Vương Mông. Vương Mông đã lý luận hóa những kiểu nói đó của Vương Sóc và một số người đề xuất quan niệm sinh tồn thô tục.

 

Trong bài viết có tiêu đề Ngẫu cảm về vấn đề tinh thần nhân văn, Vương Mông cho rằng: “Vương Sóc chỉ là một nhà văn, anh ta sẽ chẳng bao giờ trở thành kiểu mẫu cho các nhà văn hoặc làm chiếc cọc tiêu cao nhất. Yêu cầu mọi nhà văn trở thành kiểu mẫu sẽ chỉ đưa đến kết quả là làm tiêu diệt phần lớn con người họ”. “Mà tiền đề cho sự tìm kiếm hoặc kiến lập loại tinh thần nhân văn kiểu Trung Quốc, chính là sự thừa nhận con người. Chúng ta đã nghe mãi đến thuộc lòng những điều thiên kinh địa nghĩa như: “Trên đời không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể”… Con người cụ thể cũng là người, điều đó giống như bảo bạch mã cũng là mã. Việc kiên trì lý luận cao siêu bạch mã phi mã và kiên trì con người cụ thể không phải là con người cũng như nhau cả thôi. Xét theo ý nghĩa này, “lưu manh” hoặc bị coi là lưu manh hay tự mình làm lưu manh vẫn là con người. Có lưu manh thật và cũng có lưu manh giả, giống như có cái cao cả thật và có cái ngụy cao cả.

 

Mao Trạch Đông thường rất hăng hái biện hộ cho “Phong trào lưu manh”, kỳ thực là phong trào nông dân. Động một tý là gạt một vài người nào đó ra khỏi “con người”, điều này quả quá thiếu tinh thần nhân văn. Chúng ta đã quá quen thuộc thứ logic này. Nếu quả thực chúng ta muốn dồn sức vào việc tìm kiếm hoặc xây dựng tinh thần nhân văn, e cần phải bắt đầu từ việc thừa nhận sự tồn tại của con người”. “Tinh thần nhân văn cần phải thừa nhận sự khác biệt của con người và cũng phải thừa nhận sự bình đẳng của con người, thừa nhận sức mạnh của con người cũng phải thừa nhận nhược điểm của con người, tôn trọng “cái vĩ đại” của thiểu số, đồng thời cũng phải tôn trọng cái hợp lý và những nhu cầu dù tầm thường của đa số”(3).

 

Rõ ràng, chúng ta cần phải tôn trọng quyền được tự do lựa chọn của người khác, song nhất quyết không thể bỏ qua những phán đoán chân giả và phán đoán giá trị đối với những lựa chọn tự do khác nhau.

 

Ngay nhà triết học Hiện sinh Sartre chủ trương tự do lựa chọn, cũng yêu cầu mọi người phải chịu trách nhiệm về kết quả sự lựa chọn của mình. Trong luận văn nổi tiếng: Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân đạo, ông chỉ rõ: “Chỉ cần tôi chịu trách nhiệm, tôi sẽ phải đồng thời coi sự tự do của người khác là sự theo đuổi tự do của chính mình.” Sartre cho rằng, khi chúng ta nói con người chịu trách nhiệm với mình, không có nghĩa là chúng ta cho rằng anh ta phải chịu trách nhiệm với cá tính của mình, mà còn phải chịu trách nhiệm với tất cả mọi người. Cho nên, “khi con người đưa ra sự lựa chọn cho mình, cũng là đưa ra sự lựa chọn cho tất cả mọi người. Bởi lẽ trên thực tế, trong toàn bộ các hành vi mà con người lựa chọn để biến mình thành loại người anh ta mong ước, không có hành động nào không đồng thời sáng tạo ra một hình tượng con người mà anh ta cho rằng mình cần phải như vậy. Đồng thời với việc đưa ra những lựa chọn giữa hình tượng này hay hình tượng kia, anh ta cũng sẽ khẳng định những giá trị hình tượng mà mình lựa chọn; Bởi vì chúng ta không thể đưa ra những lựa chọn tồi”. Theo Sartre, “Những gì chúng ta lựa chọn phải thật tuyệt; còn đối với chúng ta, nếu không thật tốt với mọi người, thì còn có điều gì tốt hơn đây”?

 

Do đó, chúng không thể lảng tránh vấn đề chân giả và vấn đề giá trị cao thấp của sự lựa chọn tự do.

 

Trên thực tế, bất kỳ sự lựa chọn nào cũng đều tồn tại vấn đề có phù hợp với thực tế không, đó chính là vấn đề hiện thực. Đối với từng cá thể, không phải toàn bộ sự lựa chọn đều có khả năng thực hiện, đều có khả năng chuyển thành hiện thực. Điều này chính là vấn đề chân giả trong tính hiện thực của sự lựa chọn. Cho dù những lựa chọn khác nhau đều có thể được thực hiện, thì vẫn có vấn đề giá trị cao thấp hay dở.

 

Thủy hử truyệnĐãng khấu chí, nguyên tác Hồng lâu mộng và tục thư (bản viết thêm), lẽ nào không có sự phân biệt giá trị cao thấp, hay dở? Nguyên tác – tục thư, về tình tiết và cấu trúc rất khác nhau, một là từ hoan đến bi, một là từ bi đến hoan, nguyên nhân cơ bản của nó là ở cách nhìn khác nhau về tính chất xung đột chủ đạo và phương thức giải quyết nó mà tác phẩm đã thể hiện. Cho nên, giữa hai cách viết, hai loại quan niệm tồn tại sự khác biệt rất lớn. Rõ ràng ở đây đã có sự phán đoán giá trị chính xác và sai lầm, tiến bộ và lạc hậu.

 

Do đó đối với nhưng lựa chọn khác nhau, không đưa ra các phán đoán giá trị, hoặc bỏ qua các phán đoán giá trị, chẳng những đã thờ ơ với bước phát triển của lịch sử và tiến bộ xã hội, mà còn thiếu trách nhiệm(4).

 

2. Vấn đề “Sự thông minh” của nhà văn

 

Quan niệm sinh tồn thô tục đó của Vương Mông, theo Vương Bân Bân là quá thông minh. Trong bài viết có tiêu đề Nhà văn Trung Quốc quá thông minh đăng trên tờ Văn học tranh minh, số 6 – 1994, Vương Bân Bân nêu rõ: “Một số nhà văn, văn nhân Trung Quốc đương đại quả thực quá thông minh. Sự thông minh ở đây là chỉ cái đạo làm người, một sách lược sinh tồn, một giá trị duy trì mạng sống, một kỹ thuật xử thế, là chỉ “thế sự động minh giai học vấn, nhân tình luyện đạt tức văn chương (ý nói hiểu thấu sự đời nhờ học vấn, có được tình người nhờ ở văn chương) là chỉ một loại thủ đoạn lập thân tầm thường…

 

 

Những nhà văn, văn nhân Trung Quốc đương đại cực thông minh ấy, tuy là thư sinh, song lại chẳng có chút chất thư sinh”. Vương Mông trở thành đối tượng phê phán số một của Vương Bân Bân. Vương Bân Bân nói, Vương Mông trong bài viết Tránh né cái cao cả đăng trên tờ Độc thư, số 1 – 1993 đã tán thưởng Vương Sóc. Trong đó có mấy câu nói về Vương Sóc: “Anh ta học vấn chẳng có là bao, song chỉ số thông minh lại rất cao, rất có trí, dám phang người này kẻ kia, song lại biết dừng lại đúng chỗ… anh ta giỏi gây cười, song về cơ bản anh ta không viết về bất kỳ nhân vật lớn nào (dù là một bí thư chi đoàn hay trưởng phòng), có chăng chỉ viết về đám bạn hữu của họ, mà cũng không hề tỏ ra bất kính vô lễ”. Vương Sóc dám khinh thường tất cả, song kỳ thực, anh ta rất biết mức độ, rất giỏi điều chỉnh ngọn lửa, rất tài phân biệt đối tượng, biết lúc nào “dừng đúng chỗ”, biết lúc nào được thỏa sức tung hoành. Chẳng hạn, khi đụng phải cánh tri thức, đụng phải đám thư sinh, chẳng khác gì chú A.Q đụng phải Vú Ngò, liền chửi cho thật đã, khinh thường, chế nhạo, bới móc cho thật đã, bởi lẽ những người này “trói gà không chặt”. Việc Vương Mông khẳng định Vương Sóc, kỳ thực có thể xem như tình trạng của chính mình, bởi giữa Vương Mông và Vương Sóc quả có nhiều điểm tương thông, nội tại hoặc ngoại tại. Vương Mông đương nhiên cũng là người cực thông minh.

 

Đoạn văn Vương Mông nói về Vương Sóc vừa dẫn trên đây, chuyển sang bản thân Vương Mông, cũng gần như thích hợp, những lời đánh giá của Vương Mông về Vương Sóc trong bài Tránh né cái cao cả, về đại thể có thể dùng cho chính Vương Mông. Trong tiểu thuyết của Vương Mông và Vương Sóc, quả thực có thể tìm ra nhiều chỗ tương đồng, tương cận thông qua kiểu cơ trí, lối giễu cợt ranh mãnh, lời nói tự sự mở rộng đến cực độ…đều là bút pháp của hai người. Vương Mông trở thành tri âm của Vương Sóc, không phải chuyện ngẫu nhiên.

 

Tính nguy hại của việc Vương Sóc xóa bỏ sự thần thánh là rất lớn. Trương Đức Tường khi mổ xẻ những ngộ nhận của Vương Mông đã chỉ rõ, vấn đề của Vương Sóc không chỉ là “tránh né cái cao cả” hoặc “phơi bày bộ mặt giả dối của cái cao cả giả”, mà là ném cả “cái cao cả giả” lẫn “cái cao cả” vào một rọ, coi cái cao cả là cái cao cả giả để xem thường, chế nhạo, không thừa nhận trên đời có cái gọi là cao cả, cao thượng, giống như điều Vương Mông nói: “Không ca ngợi chân thiện mỹ, cũng không công kích giả, ác, xấu, thậm chí không hẳn thừa nhận sự khác biệt giữa chân thiện mỹ với giả, ác, xấu” đã thủ tiêu nguyên tắc thị phi, khác nào nhìn đời bằng cặp kính râm, chỉ thấy một màu đen ngòm, mọi người đều tối tăm cả. Nếu bảo rằng đó không phải chủ nghĩa hư vô che mất tầm nhìn, chỉ có thể là thứ chủ nghĩa loạn màu, không phân biệt phải trái, lẫn lộn trắng đen, nếu không sẽ là cái gì? Là chủ nghĩa “trẻ con lộn ngược” chăng?

 

Vương Mông nói với chúng ta rằng, “Lưu manh” cũng là con người, bởi lẽ trên con người “Lưu manh” cũng bao hàm bản chất (tính người) chung – “phổ biến và trừu tượng” như người khác, cái chung là tính chung cá biệt, là tính khác biệt cụ thể đồng thời lấy loại “bản chất trừu tượng” đó thay cho những phán đoán giá trị về tính khác biệt cụ thể. Bạch mã đương nhiên là mã, hắc mã cũng là mã, tuấn mã, nô mã đều là mã, chúng đều mang đặc trưng loài về mặt sinh lý của mã, song thừa nhận chúng đều là mã, lại không che đậy nổi những khác biệt “mã tính” nơi từng con ngựa cụ thể, không thể thay thế những phán đoán cụ thể về giá trị (giá trị mã tính) nơi con ngựa cụ thể, không thể do chúng đều là mã mà không thấy sự khác nhau cao thấp về giá trị.

 

“Nhân tính” cũng giống như “mã tính”, đều là một loại “Tồn tại” mang ý nghĩa trừu tượng, nó tuy là “cái chung” được trừu tượng từ bản thân con người cụ thể, song sự biểu hiện của “Nhân tính” trên từng con người cụ thể lại khác nhau, thậm chí rất khác nhau. Bất kỳ một giống người nào, một loại người nào, một cá nhân nào, đương nhiên đều là người, cũng giống như đám giặc cướp, bọn xâm lược, bọn phát xít, tên bạo quân, kẻ nô tài, người anh hùng, nho phu, người dân thường, tên vô lại, nhà khoa học, nhà nghệ thuật, kẻ tiểu nhân,…những con người cụ thể này đều là người, đều thuộc “loài người”, vì về mặt ý nghĩa sinh vật, động vật thì họ đều thuộc một loài, có đặc trưng sinh lý giống nhau. Thế nhưng đặc trưng “nhân tính” được biểu hiện trên từng con người lại khác nhau, giá trị và ý nghĩa của chúng cũng khác nhau.

 

Xét về mặt “giá trị”, thông thường có thể gạt một số người hoặc một loại người ra khỏi “con người”, bởi lẽ “nhân tính” của hắn là loại thú tính tàn bạo, gây tai họa cho người khác, cho xã hội và nhân loại. Do đó con người về mặt giá trị là có sự khu biệt, có sự khác biệt. Nếu như nói “cái cao cả giả tạo” là thông qua các thủ đoạn và phương thức “giả tạo”, thông qua việc lấy cái giả tạo làm nhiễu loạn cái chân, để rồi đánh đổ cái cao cả từ bên trong, vậy thì, những “gã lưu manh” trong tiểu thuyết của Vương Sóc chính là đã thông qua cái gọi là nói toạc “cái cao cả giả tạo” song lại lập lờ thọc một nhát dao vào lưng cái cao cả. Không còn cái cao cả, không còn lương tri, con người không thể hướng tới các mục tiêu của “con người” để mà thăng hoa, tất sẽ sa đọa trong dục vọng bản năng, ngoài “kim tiền” ra chẳng có gì đáng kể, bất kỳ sự tôn nghiêm về tinh thần, luân lý, nhân cách đều có thể bị giẫm đạp. “Một chút chính kinh cũng không có”, “Nghiền thật đã rồi chết” (tên các tác phẩm của Vương Sóc), đều thể hiện rõ sự phóng túng và ngạo mạn trong hư vô. Nếu như bảo “cái cao cả giả tạo” là một kiểu suy sụp nơi con người, thì “lưu manh thật” chẳng qua cũng đồng hành với “cái cao cả giả tạo” mà thôi, cho nên mới có chuyện nói trước: “Chớ coi tôi là người” (Tên một tác phẩm của Vương Sóc). Nếu bản thân không coi mình là người, tự hành hạ mình, tự chà đạp mình, kêu gọi “chớ coi tôi là người”, vậy thì, người khác cũng chẳng có nghĩa vụ coi loại người không coi mình là người ấy là người, đồng thời cũng cần phải hiểu rằng, kiểu không coi mình là người đó là một loại phương thức biểu hiện khác của kiểu không coi người khác là người, việc xem khinh người khác được biểu hiện qua phương thức tự xem khinh mình, chẳng khác gì sự suy sụp nơi con người(5).

 

Nếu bảo rằng Vương Sóc đã xóa bỏ sự thần thánh, thì Vương Mông quả thực đã thực sự né tránh cái cao cả. Sự nguy hại của loại tránh né cái cao cả này cũng lớn như vậy. Nếu một nhà văn do năng lực cảm thụ, lĩnh hội bị hạn chế, và bị trói buộc bởi loại thiên kiến và quan điểm nào đó, thì anh ta vẫn có khả năng giống như Banzăc, giành thắng lợi với chủ nghĩa hiện thực. Thế nhưng, nếu một nhà văn trong sáng tác văn nghệ, tỏ ra lõi đời hoặc quá thông minh, thì tuyệt nhiên không thể tạo ra được những tác phẩm bất hủ, chấn động lòng người.

 

 Hồ Thích, Lỗ Tấn đã có những phê phán sâu sắc về sự nguy hại mà các nhà văn Trung Quốc quá thông minh và “thành thục” gây ra cho sáng tác văn nghệ. Tuy loại phê phán đó của họ, có cái chỉ nhắm vào một vấn đề cụ thể nào đó (như đại đoàn viên), song cũng đánh trúng chỗ hiểm.

 

Hồ Thích nói: “Những người viết sách hiểu rõ sự thật trên đời đa phần là bất như ý, anh ta hiểu rõ những chuyện trên đời, không là tráo trở, thì là chuyện sinh ly tử biệt”, song “nhắm mắt làm ngơ, không thấy những thảm kịch trong thiên hạ, không dám thành thực viết về những đảo lộn tàn khốc của tạo hóa”, mới là nói dối. Đó chính là văn học nói dối.

 

 Lỗ Tấn cũng nói: “văn nhân của Trung Quốc, đối với nhân sinh – chí ít là đối với các hiện tượng xã hội, xưa nay đều không có dũng khí nhìn thẳng”, “nhìn vào tác phẩm của họ, rõ ràng ban đầu cũng cảm thấy bất mãn, song cứ đến khi sắp bộc lộ nguy cơ khiếm khuyết, họ lập tức nói ngay “làm gì có chuyện đó”, đồng thời nhắm mắt lại. Nhắm mắt lại tất sẽ thấy tất cả điều viên mãn…thế là chẳng có vấn đề gì, chẳng có khiếm khuyết, chẳng có sự bất bình, cũng có nghĩa là không giải quyết, không cải cách, không phản kháng, bởi lẽ phàm việc gì cũng phải “viên mãn”, không cần chúng ta phải lo lắng”. Đó chính là thứ văn học “che dấu và lừa bịp”.

 

Thế nhưng, Vương Sóc, Vương Mông và một số người lại cho rằng lối phê phán này đã giết chết tính đa dạng. Vương Mông nói: “Thừa nhận tính đa dạng đôi khi cũng rất khó khăn. Bạn phát biểu cách nhìn của mình là xuất phát từ động cơ tốt nhất, muốn mọi người đều biến thành cái tốt nhất trong dạng thức của bạn, song trên thực tế điều đó lại thủ tiêu tính đa dạng.

 

Trong văn học thường có một loại lý luận như sau, loại lý luận này có thể rất chính xác: phàm những nhà văn kiệt xuất, phàm những tác phẩm lớn được lưu lại trong lịch sử văn học, đều quan tâm đến số phận của nhân dân, phản ánh tinh thần thời đại… Song chúng ta thử ngẫm lại xem, 4 ngàn hội viên Hội nhà văn Trung Quốc, liệu có thể đều trở thành những nhà văn kiệt xuất; Hiện giờ nước ta một năm xuất bản chừng 90.000 loại sách, trong đó sách văn học chiếm tỉ lệ rất lớn, những sách văn học đó đều trở thành những tấm bia kỷ niệm cả sao?… Cho nên tôi cho rằng động cơ dù tốt nhất cũng có thể bóp chết tính đa dạng, kết quả của việc bóp chết tính đa dạng cuối cùng lại bóp chế cái tốt nhất. Bởi lẽ cái tốt nhất lại vừa vặn xuất hiện trong điều kiện của tính đa dạng. Bạn muốn lấy cái tốt nhất làm tiêu chuẩn, muốn mọi người lấy cái tốt nhất làm gương, vậy tất sẽ dẫn đến giết sạch văn hóa thông tục. Nhà soạn nhạc hay nhất là Betthoven, ca sĩ hát hay nhất là Pavarốtti, Mao A Mẫn của bạn kém xa Pavarốtti, Thái Quốc Khánh lại càng kém xa. Muốn dùng lưỡi dao Pavarốtti để phạt bằng các ca sĩ của chúng ta, vậy kết quả sẽ ra sao?”(6).

 

Kỳ thực Vương Bân Bân và một số người không phủ nhận sự tồn tại của tính đa dạng, mà là nhằm khắc phục những hạn chế tồn tại của tính đa dạng. Rõ ràng Vương Mông đã cổ súy cho quan niệm sinh tồn thô tục, nhằm che đậy những hạn chế của bản thân, tức sự thủ cựu, tự đóng kín, chứ không phải hướng tới bước phát triển cao hơn và siêu việt hơn (…)

 

Trần Minh Sơn dịch

 

Theo:  Văn nghệ lý luận dữ phê bình, số 5 – 2001

 

CHÚ THÍCH

 

(1) Xem Sự va đập buổi giao thời thế kỷ – ghi chép cuộc tranh luận hiện tượng Vương Mông. Nxb Quang minh nhật báo, tháng 1 năm 1996.

 

(2) Xem Sự lựa chọn tự do và tình thế văn học. Thượng Hải văn học, số 4 -1994

 

(3) Xem Va đập buổi giao thời thế kỷ – ghi chép cuộc tranh luận hiện tượng Vương Mông.

 

(4) Xem Giễu cợt nhân sinh và phán đoán giá trị, Văn nghệ báo, ngày 14 tháng 1 năm 1995.

 

(5) Xem Va đập buổi giao thời thế kỷ – ghi chép cuộc tranh luận hiện tượng Vương Mông.

 

(6) Xem Đạo đức không tưởng và tiêu chuẩn giá trị. Va đập buổi giao thời thế kỷ – ghi chép về cuộc tranh luận hiện tượng Vương Mông.

(Phần 2)

3. Vấn đề tinh thần phê phán của văn học

Xuất phát từ tinh thần phê phán của văn học, Dư Kiệt, Cát Hồng Binh và một số người đã nhìn lại một cách kỹ lưỡng văn học Trung Quốc thế kỷ XX. Dư Kiệt trong bài Kundera và Javier – chúng ta chọn cái gì, chúng ta gánh chịu cái gì? chỉ rõ: Kundera là bậc “Trí giả”, Javier là bậc “Thánh nhân”. Kundera là người cực kỳ trí tuệ, sự lựa chọn của ông là phương thức quan sát nhân gian bằng con mắt lạnh lùng. Khi ông quan sát Tổ quốc mình cũng như vậy. Sau khi Kundera lưu vong đến Tây Âu, ông đã nhìn nhận toàn bộ những sự kiện phi lý đến tột cùng nơi Tổ quốc mình, do đó mà có được “Mỹ cảm cự ly”. Loại “Mỹ cảm cự ly” này khiến tác phẩm của ông ngập tràn tính hài hước và sự giễu cợt trở lại. Hài hước của Kundera là thứ hài hước làm mê đắm lòng người, lối giễu cợt trở lại của Kundera là lối giễu cợt khiến người ta sởn da gà, chúng đã chinh phục không ít các trí thức Trung Quốc, nhất là lớp trẻ còn đang hoài nghi lưỡng lự. Kundera đã nhìn thấu những biến thiên của lịch sử, lịch sử dĩ nhiên là vậy, ông rút ra kết luận: Không tham dự mới là sự tham dự đích thực. Do đó ông có thái độ cực kỳ mãnh liệt của kẻ “du hý” bên ngoài sự kiện.

 

Còn Javier lại là một “thánh nhân” tri hành hợp nhất, ông là người của phả hệ JeannedAre, Bruno, Gandhi. Đối ngoại, ông dùng hành động chứng minh lý luận của mình; đối nội, ông đi vào nơi sâu kín của thế giới tâm linh, khai thác cái cao thượng trong tâm hồn, gạt bỏ những điều tệ hại trong đó. Javier kiên trì cho rằng, tâm linh quan trọng hơn trí tuệ nhiều, gánh chịu quan trọng hơn nhiều so với tránh né, tham dự quan trọng hơn nhiều so với nằm ngoài sự kiện. Javier nhất quyết không xa rời Tổ quốc của mình, ông cùng với đồng bào mình gánh chịu mọi nỗi khổ đau của lịch sử. Ông cảm thấy, chỉ khi gánh chịu nỗi khổ đau của lịch sử, mới có quyền phát ngôn về tương lai Tổ quốc mình.

Dư Kiệt cho rằng “Linh hồn quan trọng hơn trí tuệ nhiều, tín ngưỡng được bừng dậy từ nơi sâu thẳm trái tim mình, là loại tín ngưỡng bất di bất dịch. Song cái mà các trí thức Trung Quốc còn thiếu lại chính là loại tín ngưỡng này. Sinh tồn là tín ngưỡng cao nhất của họ, để được sinh tồn họ có thể ném bỏ mọi nguyên tắc và mọi sự gánh chịu. Bởi lẽ để được sinh tồn, nên bất luận sự lựa chọn nào, dù trái với lương tâm đến mấy, đều không bị trách cứ, ai trách cứ sẽ bị coi là hà khắc, là không “nằm trong cuộc”. “Chúng ta ca ngợi trí tuệ, thế nhưng chúng ta lại ném bỏ tâm linh. Thập kỷ 90 thế kỷ XX, phần lớn trí thức Trung Quốc đã lựa chọn con đường “chuyên gia”, loại thân phận chức nghiệp hóa, không phát ngôn về các vấn đế xã hội nữa, không quan tâm đến tình trạng sinh tồn của đám đông trầm mặcnữa, đồng thời coi sự lựa chọn này là tiến bộ. Phải chăng đó là sự tiến bộ thực sự? Các trí thức Trung Quốc ném bỏ tinh thần gánh chịu (nghĩa vụ), cho dù có sản xuất được loại tri thức bắt kịp được với quốc tế, thì những tri thức như vậy đối với Trung Quốc trong điều kiện không gian và thời gian đặc biệt phải chăng là loại tri thức hữu cơ (gắn bó mật thiết)?”[1]. Thái độ của Dư Kiệt đối với trạng thái này là “không”, ông yêu cầu nhà văn hãy từ Kundera hướng tới Javier.

Cát Hồng Binh và một số người khi đánh giá lại văn học Trung Quốc thế kỷ XX, lại đưa ra kết luận hết sức bi quan.

Cát Hồng Binh trong bài Lời chia buồn với văn học Trung Quốc thế kỷ XX viết: “Trong cái khoảng thời gian gọi là thế kỷ XX này chúng ta có thể tìm được nhà văn nào thực sự hoàn hảo? Có thể tìm được nhân cách nào thực sự cao ngạo? Ai có thể khiến chúng ta thực sự khâm phục? Ai có thể trở thành bậc thầy tinh thần của chúng ta? Rất tiếc, tôi tìm không nổi. Tôi thà cho rằng nhà văn vĩ đại nhất của Trung Quốc thế kỷ XX là Vương Thực Vị, Ngộ La Khắc, Trương Chí Tân, Cố Chuẩn… cho dù trong số họ có người có thể cả đời chẳng viết một tác phẩm văn chương nào, song cuộc đời họ quả là một bài thơ hoàn mỹ, tác phẩm mà họ viết ra lẽ nào lại không được coi là bậc đại sư văn học? Nếu đem so sánh, thì những vị mặt mũi sáng choang trong đủ loại sách lịch sử văn học, lẽ ra phải biết hổ thẹn mà chết”[2].

Với logic này, Cát Hồng Binh đã buông lời phê phán các nhà văn hiện đại Trung Quốc như Lỗ Tấn, Tiền Chung Thư… cực kỳ hà khắc. Cát Hồng Binh cho rằng, Lỗ Tấn cứ cho là yêu nước, song vì sao ông lại cự tuyệt nhiệm vụ về nước tiêu diệt đám tay sai triều đình nhà Thanh? Từ Tích Lân, đồng hương của ông và Thu Cẩn, một cô gái trẻ làm được điều đó, thì tại sao ông ta lại không làm được? Phải chăng do ông ta hèn nhát? Tiền Chung Thư hiện giờ xem như đã trở thành “văn hóa Côn Lôn” của Trung Quốc rồi, thậm chí có người còn dày công gán ghép khiên cưỡng dựng lên hẳn một môn “Tiền học” thần thánh. Thế nhưng hạng người Tiền Chung Thư trong “cách mạng văn hóa” rốt cuộc đã làm được gì? Cái mà ông ta làm là thứ triết học con rùa và sách lược đà điểu (chỉ hành động co lại, giữ mình, tránh né hiện thực), ông ta giả vờ chuyên tâm làm học thuật, bàng quan trước thảm cảnh vô nhân đạo đang diễn ra xung quanh, trước cường quyền không chống lại, chính là đã đồng lõa, xét theo ý nghĩa này, nhân cách của ông có gì đáng gọi là cao ngạo? Ông ta với tư cách gì mà làm “văn hóa Côn Lôn”.

Trương Chí Chung và một số người đã hoài nghi “Khuynh hướng phê phán” này. Trong bài Đạo đức không phải vạn năng, ông nêu rõ: “Nhu cầu của thời đại gồm nhiều phương diện, không nên chỉ hạn chế ở một kiểu nào đó để hạ thấp nhân tài, chúng ta vừa cần Thu Cẩn, lại cũng cần Lỗ Tấn, vừa cần Trương Chí Tân, lại cũng cần Tiền Chung Thư, chỉ trích Tiền Chung Thư không làm như Trương Chí Tân, cũng như phê bình Lỗ Tấn không làm như Thu Cẩn, đều quá đơn nhất và máy móc, tình cảm đạo đức mãnh liệt đã che lấp lý tính và trí tuệ”[3].

Trương Chí Trung cho rằng, cuộc tranh luận lần này là sự tiếp tục mấy cuộc tranh luận trước đây. Ông nói, mấy năm trước từng có người chỉ trích các nhà văn Trung Quốc “quá thông minh”, trước hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt, chỉ lo phòng thân, không dám nói thật.

 Sau này, có người khi đánh giá Tiền Chung Thư, đã đưa ra vấn đề “Triết học con rùa” và “Sách lược đà điểu”, phê phán ông không chống lại chính trị bạo ngược, mà mượn cớ học thuật để lánh đời, đồng thời phán rằng “Không chống lại nghĩa là đồng lõa”.

Gần đây, lại xuất hiện vấn đề “Chúng tôi có tội, chúng tôi sám hối”, cũng từ mạch nghĩ này mà ra. Trương Chí Trung cho rằng, con người ta cần dâng hiến cho chân lý, cần phải nói lên những điều chân thật tự đáy lòng mình, huống hồ là tầng lớp trí thức được mệnh danh là lương tâm của thời đại, là nhà văn phát ngôn cho dân. Đây là một tiêu chuẩn cực cao, sự lựa chọn vô cùng thánh thiện, yêu cầu như vậy, chỉ có cực ít các thánh đồ mới làm được; còn với đa số những con người cụ thể, là điều không thể cưỡng chế và cũng không nhất thiết phải ép họ như vậy. Bậc thầy chỉ huy dàn nhạc quá cố Karajan từng biểu diễn cho đám phát xít nghe, Heidegger từng dẫn đầu các giáo sư Đức quốc tuyên thệ trung thành với Hitler, Dostoievski từng đánh bạc như điên. Những điều tiếng và lỗi lầm bất tất phải kiêng kỵ, tỳ vết không che lấp được ngọc sang mới là lẽ thường, thành tựu và địa vị của họ không vì thế mà bị ảnh hưởng. Tiền bạc không phải vạn năng, đạo đức không phải vạn năng, nó chỉ thích dụng với những lĩnh vực hữu hạn, chứ không thể bá chiếm tất cả, không thể đong đo tất cả.

Kỳ thực, giá trị có cao thấp tốt xấu, có thị phi. Có cái cần phải phủ định. Lỗ Tấn trở thành chiến sĩ vĩ đại của giai cấp Vô sản, Chu Tác Nhân (em ruột Lỗ Tấn) lại sa đọa thành Hán gian, lẽ nào con đường và hành vi mỗi người lựa chọn đều do ngẫu nhiên? Lẽ nào lại không phải là kết quả tất nhiên của sự phát triển tư tưởng của riêng họ? Trương Chí Trung toan tính coi hành vi sa đọa của Chu Tác Nhân và một số người chỉ là phần bổ sung thêm cho cái ngẫu nhiên, để rồi “gột sạch”, hoàn toàn khẳng định các hành vi trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng của họ, e rằng khó được mọi người chấp nhận. Rõ ràng, có một số hiện tượng văn hóa không thể một nhát xổ toẹt. Thế nhưng, chúng có giá trị cao thấp, tốt xấu khác nhau, không thể đánh đồng làm một.

Vấn đề của Dư Kiệt, Cát Hồng Binh và một số người lại không phải ở việc họ đưa ra những yêu cầu quá cao đối với một số nhà văn và trí thức, chỉ ra mặt hạn chế của họ, mà ở chỗ họ thiếu chuẩn xác, thiếu toàn diện trong việc nắm bắt đối tượng phê phán, đồng thời đối với các đối tượng khác nhau lại không có những phân tích khác nhau. Chẳng hạn, khi họ đánh giá lại các nhà văn hiện đại như Lỗ Tấn, Tiền Chung Thư,… đã phạm sai lầm siêu hình này. Lỗ Tấn đã chiến đấu trong suốt một phần tư thế kỷ, từ một Nhị thần nghịch tử của giai cấp phong kiến trở thành người bạn và chiến sĩ của giai cấp vô sản. Cát Hồng Binh và một số người yêu cầu Lỗ Tấn vừa ra đời phải trở thành chiến sĩ ngay là điều khá nực cười và ấu trĩ. Lỗ Tấn sau khi trở thành chiến sĩ của giai cấp vô sản, chẳng những là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, mà còn là chiến sĩ trong cuộc đấu tranh hiện thực. Nếu không đã chẳng có chuyện Lương Thục Thu và một số người đã vu hãm Lỗ Tấn để đổi lấy những đồng Rúp. Tinh thần chiến đấu đó của Lỗ Tấn, bất kỳ lúc nào cũng có thể phải ngồi tù hoặc bị giết. Lỗ Tấn trong cuộc đấu tranh hiện thực nóng bỏng còn viết những bài hịch chiến đấu khiến phái phản động hồn bay phách lạc. Dư Kiệt, Cát Hồng Binh và một số người, chưa nói chuyện tham gia cuộc đấu tranh hiện thực chống các thế lực tàn bạo như Lỗ Tấn, e rằng viết một bài như các bài hịch chiến đấu của Lỗ Tấn cũng không làm nổi.

Tiền Chung Thư trong điều kiện phê phán chính trị tàn bạo của đường lối bạch chuyên[4], vẫn kiên trì đường lối độc lập của mình, điều này những người bồng bột, xốc nổi như Cát Hồng Binh… làm sao có thể lý giải nổi? Đấu tranh có những phương thức khác nhau, cự tuyệt cũng là một kiểu đấu tranh.

Đồng thời, việc chúng ta yêu cầu các nhà văn và anh chị em trí thức trở thành người chiến sĩ thực sự và việc khi thực hiện lý tưởng đó họ đạt đến trình độ nào, là hai chuyện khác nhau. Chúng ta quyết không thể vì một số nhà văn và trí thức do không hoàn toàn đạt được yêu cầu đó, mà phủ định sạch trơn những nỗ lực của họ. Nếu không, sẽ sa vào khuôn mẫu có sẵn của chủ nghĩa hư vô lịch sử.

Dư Kiệt, Cát Hồng Binh và một số người khi đánh giá một số nhà văn và trí thức, chỉ thấy khoảng cách mà họ còn cách so với yêu cầu của lý tưởng, chứ không thấy nỗ lực mà họ phấn đấu để thực hiện mục tiêu lý tưởng và những thành tựu mà họ đã đạt được, cũng lại phạm sai lầm của chủ nghĩa hư vô lịch sử. Còn như một số cá biệt xuất phát từ nhu cầu chính trị hẹp hòi, mang tâm lý cực kỳ thâm hiểm, phủ định sạch trơn người này, đánh đổ người kia, hoàn toàn không có giá trị nghiên cứu về mặt lý luận.

Nhìn lại ba cuộc tranh luận khá lớn này trong giới văn nghệ Trung Quốc mười năm qua, có thể thấy rằng, bất luận là phê phán Vương Sóc và một số người, tìm kiếm tinh thần nhân văn của văn học, phê phán Vương Mông và một số người, phản đối chủ nghĩa thực dụng thô tục trong văn học, hay phê phán những tác gia và tác phẩm quan trọng của Trung Quốc thế kỷ XX, đề xướng tinh thần phê phán của văn học, đều hữu ích đối với sự phát triển lành mạnh của văn học. Đương nhiên, cũng tồn tại những vấn đề không thể coi nhẹ, chẳng hạn chủ nghĩa hư vô lịch sử của Dư Kiệt, Cát Hồng Binh và một số người, là điều không thể chấp nhận được.

Trần Minh Sơn dịch

Theo: Văn nghệ lý luận dữ phê bình, số 5 – 2001

Chú thích

[1] Xem Văn luận báo, số ra ngày 26 tháng 11 năm 1998

[2] Xem Trung Hoa văn học tuyển san, số 1 – 2000.

[3] Xem Văn luận báo, số ra ngày 15 tháng  4 năm 2001

[4] Cuối thập kỷ 50 thế kỷ XX, người ta hay ví “Bạch” với những người thiếu lập trường, nguyên tắc, phẩm cách và lý tưởng cách mạng; còn “chuyên” là chỉ những người chuyên nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tri thức văn hóa. Đương thời coi những phần tử trí thức chuyên nghiên cứu học thuật là đã đi “con đường bạch chuyên” – ND.

Bản vi tính Copyright © lyluanvanhoc.com 2011

 

Các bài khác:
· TRƯỜNG CA 'NGƯỜI VIỆT NAM' - 12 NĂM ĐỂ 1 LẦN BẬT KHÓC
· ĐÔI ĐIỀU VỚI ANH HUY THẮNG VỀ MỐI TÌNH PHÙNG QUÁN
· NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - CÔ ĐƠN HAY LỘNG GIÓ THỜI ĐẠI?
· NHỮNG NỖI ĐAU THỨC TỈNH
· ÁM ẢNH 'CÕI TẠM PHÙ HOA' CỦA NGUYỄN XUÂN HOÀNG
· NHƯ NHỮNG NGỌN GIÓ SANG THU
· VĂN XUÔI VŨ ĐÌNH GIANG – TÍNH CHẤT ĐA GIỌNG ĐIỆU
· NHỮNG NGHỊCH LÝ Ở MỘT NHÀ THƠ LỚN
· AI SẼ KẾ TỤC NHỮNG NGƯỜI THẦY VĂN HỌC CỦA CHÚNG TA?
· TRAO ĐỔI CHUNG QUANH BÀI BÁO VỀ MỘT MỐI TÌNH CỦA NHÀ THƠ PHÙNG QUÁN
· VI THÙY LINH MƠ ƯỚC ĐƯỢC 'CHU DU CÙNG ÔNG NỘI'
· NGUYỄN LÃM THẮNG VÀ SỰ SỐNG ĐƯỢC NUÔI BẰNG CÁI CHẾT
· BELINSKY: NGƯỜI ĐỒNG SÁNG TẠO “THẾ KỶ VÀNG” CỦA VĂN HỌC NGA
· NGƯỜI NHẬN ĐƯỢC 'PHẦN ÍT' TRONG TRÁI TIM THƠ TỐ HỮU
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NGHỆ THUẬT DỰNG CHÂN DUNG
· VẺ ĐẸP CỦA HOẠN THƯ TRONG TRUYỆN KIỀU
· CON NGƯỜI KHÁT KHAO HƯỞNG THỤ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
· LỤC BÁT TRẺ 'RỪNG ONG ĐỔ MẬT...'
· NHỮNG TIẾNG CÒI BÁO ĐỘNG GIẢ VỀ CÁCH TÂN
· “THƠ LÀ NHỮNG QUÂN CỜ” TRONG “ĐÊM VÀ NHỮNG KHÚC RỜI CỦA VŨ”

 

  
Gia đình Bích Khê