DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
MỘT VÀI GHI NHẬN VỀ THƠ TRẺ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

                                                 - Nguyễn Đức Phú


(THAM LUẬN CỦA NHÀ THƠ TRẺ NGUYỄN ĐỨC PHÚ THỌ TẠI HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII)

 

Sự xuất hiện của thơ trẻ ĐBSCL trong những năm gần đây đã phần nào thể hiện sinh động, rõ nét những nét đẹp văn hóa, tinh thần đặc sắc ấy và đã hòa vào dòng chung của văn học trẻ cả nước như một dòng chảy lặng lẽ, lấp lánh vẻ riêng và ăm ắp phù sa…

 

Đội ngũ những nhà thơ trẻ chuyên nghiệp của vùng ĐBSCL không đông đảo bằng lực lượng các nhà thơ trẻ ở các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, nhưng mỗi người một cá tính, một phong cách, mỗi sự xuất hiện ít nhiều đều để lại ấn tượng. Có thể nhắc đến: Huỳnh Thúy Kiều, Võ Mạnh Hảo, Trương Trọng Nghĩa, Quân Tấn, Nguyễn Đăng Khương, Vương Huy, Trần Sang, Nguyễn Giang San, Trần Huy Minh Phương… Gần đây, sự “lấn sân” của nhà văn trẻ tài năng bậc nhất ĐBSCL Nguyễn Ngọc Tư cũng đã đem đến cho bạn yêu thơ những bất ngờ, thú vị.

 

Nhìn chung, thơ trẻ ĐBSCL không nhiều đột phá trong lối pháp, hình thức thể hiện, nội dung cũng chưa mới. Chủ yếu xoay quanh những cảm nhận, nỗi niềm về thân phận, tình yêu thương, về vẻ đẹp trầm tích của con người và vùng đất mang đậm dấu ấn dân dã, quê kiểng phương Nam mà ta có thể bắt gặp trong tác phẩm của những lớp nhà thơ trước như Lê Chí, Kim Ba, Trịnh Bửu Hoài, Song Hảo, Đinh Thị Thu Vân, Hồ Thanh Điền, Trúc Linh Lan, Thai Sắc... Điều làm nên sự khác biệt đầy cuốn hút trong các tác phẩm của họ so với lớp người đi trước, chính là thông qua những góc nhìn tinh tế, đầy chất suy tư, nhưng cũng không kém phần hào hởi của tuổi trẻ mà những hình ảnh, những lớp tình cảm tưởng chừng như quen thuộc lại hiện lên hết sức sống động, mới mẻ, độc đáo và không ngừng làm nới rộng thêm những chiều kích liên tưởng nơi người đọc.

 

"Sau nhiều lần hạ sinh mùa màng
Cánh đồng như một con vật hiền lành dưới chân cha cứu rỗi
Từng giọt mồ hôi
Hóa kiếp những vì sao về trời
Trong một đêm tôi trở thành người lớn
Mang đôi mắt phù sa dòng họ
Biết thắt bụng khi nhìn cánh đồng
Nhìn mặt nước sông
Vỡ òa giọng trẻ
        
(Cánh đồng – Võ Mạnh Hảo)

 

 Thơ của Võ Mạnh Hảo- một nhà thơ trẻ 8X, tác giả tập thơ Bụi cám bay (2008),  từng gây bất ngờ với giải Nhì cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long năm 2006- là những dấu lặng ngân dài ám ảnh. Tất cả như được nén lại, ẩn giấu chìm khuất bên dưới những trường ảnh lấp lánh thi vị. Thơ anh nhẹ nhàng như một câu chuyện kể mơ hồ từ đâu vọng lại. Màu sắc thơ đẹp và gần gũi như bước ra từ trong truyện cổ tích, nhiều nỗi niềm chân thật hiện hữu đến trong veo.

 

"Những ký ức
Ngày bỗng trôi bềnh bồng như đám mây ủ mầm mắt trẻ nhỏ
Qua nhiều tháng sáu loài chim dậy muộn
Đôi cánh thiêng như một ngôi đền…

 

 Ký ức dần trôi
Đứa trẻ khởi đầu câu chuyện của riêng mình
Chỉ cơn mưa biết
Vây hãm ánh nhìn
Mưa len vào chiếc chân bằng gỗ
Lằn những đường tự do…
               
(Tháng sáu)

 

 Dù chọn một bối cảnh cũ, về một câu chuyện cũ như hình ảnh người mẹ quê hiện lên trong đêm thị xã leo lét, quạnh hiu ngồi mong ngóng đứa con xa nhà chưa trở về, thế mà thơ Hảo vẫn không sáo mòn, cũ kĩ, tứ thơ vẫn trẻ trung và xúc động khôn nguôi:

 

"Thị xã một ngày buồn nhiều gió
Sương thở lạnh từng dấu chân bò
Đường Hùng Vương gợi nghĩ về một thành phố khác
Bụi bám đầy trên nét mặt âu lo

 

 

Thị xã mùa dang dở
Người trẻ ra đi không hẹn buổi về
Nên gió lùa nỗi nhớ
Rơi giọt đèn buồn như mắt mẹ
Đêm đêm…
      
(Thị xã)

 

 Nói về thơ trẻ ĐBSCL mà không nhắc đến Huỳnh Thúy Kiều sẽ là một thiếu sót lớn. Chị từng đoạt giải Nhì cuộc thi thơ online trên website Thotre.com (2008), giải C cuộc thi thơ của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (2008- 2009), tặng thưởng Tác giả trẻ của Ủy ban toàn quốc LH các Hội VHNT Việt Nam (2009). Với hai tập thơ Kiều mây (2008) và Giấu anh vào cỏ xanh (2010), Huỳnh Thúy Kiều đã ít nhiều gây được tiếng vang cũng như đã gặt hái được một số thành công nhất định.

 

Thơ chị nữ tính, e ấp, dịu dàng mà cũng thật mãnh liệt, phóng khoáng. Sự trộn lẫn, hòa điệu tự nhiên ấy cộng hưởng cùng những nét đẹp chân phương, hồn hậu của tâm hồn, văn hóa xứ miệt càng làm cho tình ý trong thơ chị thăng hoa rạo rực, khó lòng cưỡng lại:

 

"Con rồng thiêng ngậm vầng trăng châu thổ hóa màu
Nhịp cầu tre tang tình chỉ còn âm ba nhói ký ức
Nương theo mái dầm với khăn rằn thả chéo cao chéo thấp
Thôn nữ ơi em có còn gội tóc nước tro không?
(…)
Khúc làng ngoái đầu ôm thổn thức gọi cố hương
Hồn phiêu bạt phương Nam hề dấu chân xuôi ngược
Sông Tiền, sông Hậu gợn từng nốt phù sa quẫy căng lồng ngực
Xanh miếng trầu quết câu chuyện thắm như vôi"
                 
(Châu thổ)

 

Thơ Huỳnh Thúy Kiều là nơi thỏa sức cho sự bay nhảy tự do của cảm xúc và ngôn từ, nhưng trong ý thức nhà thơ có lẽ đã có một sự “lập trình” sẵn trước đó. Mỗi bài  thơ của chị như một ngọn pháo sáng, mà những câu thơ khi cất mình bay lên vòm trời cao liền chẻ ra thành nhiều nhánh nhỏ, tưởng chừng như lạc loài. Nhưng đến khi bùng nổ chúng lại rực rỡ cùng một màu sắc, một hơi nóng cuồng nhiệt, mê đắm như nhau.

 

Về bút pháp có thể nói thơ Huỳnh Thúy Kiều rất mới, chị đã làm nên một bước tiến dài so với bạn thơ trẻ đồng bằng cùng thế hệ. Ấy vậy mà về nội dung thơ chị vẫn hết sức mộc mạc, nhuần nhị, thiết tha, không xa cách với tình đất, tình người đồng bằng. Vừa ngây thơ vừa táo bạo, phảng phất nét duyên dáng, chân phương của những tâm hồn thiếu nữ miền sông nước.

 

"Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm
Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi
Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại
Đêm phương Nam buồn
Phím nhạc cũng chùn rơi

 

 Hơi thở tôi mang bùn đất quê nghèo
Nuôi khôn lớn từ tán bần, nhánh ổi
Rặng trâm bầu
Rứt lòng bổi hổi
Dòng sông thơ chảy dọc tháng năm dài…
                
(Hơi thở tôi mang mùi bùn đất)

 

Với Quân Tấn, sinh năm 1978, một cây bút thơ trẻ sung sức của ĐBSCL nói chung và Cần Thơ nói riêng, thơ anh lại là những gì thuộc về bản chất lưu cửu sâu lắng nhất của văn hóa Nam Bộ. Những bài thơ anh viết ra hết sức tự nhiên, chất phác, không nề hà, không ngại ngần bộc bạch mọi nghĩ suy, mọi tâm tư tình cảm dẫu có khi là những gì vô cùng nhỏ nhoi, vụn vặt. Bản tính đôn hậu, khẳng khái, phóng khoáng của con người đồng bằng thấm đượm trong thơ anh.

 

Rất dễ dàng kiểm chứng điều này qua tập thơ Chuyến hành hương vô định xuất bản năm 2008 và một số tác phẩm của anh đã đăng rải rác trên các báo, tạp chí và diễn đàn văn học mạng.

 

Có cảm giác thơ Quân Tấn vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc lối thơ của lớp nhà thơ tiền nhân. Nhưng mọi thứ từ hình ảnh, nhịp điệu, cấu trúc… trong thơ anh đều diễn ra rất tự nhiên, không sượng sạo. Có người rốt riết cách tân, khát khao chinh phục và khám phá những điều mới mẻ. Thì cũng sẽ có người cứ đeo miên man một nỗi hoài niệm cũ, sống với những không gian, vẻ đẹp cũ, chắt chiu qua từng tháng từng ngày... Tôi nghĩ sự đa diện như thế là hết sức cần thiết. Như vậy sẽ làm cho dòng chảy thơ trẻ ĐBSCL thêm sinh động, biến ảo và phong phú:

 

"Sóng rằng:
Ta là sóng
Con sóng đồng bằng ngàn năm chẳng mỏi
Con sóng đồng bằng phù sa đắp bồi
Hãy trở về đi ruộng đồng đang đợi
Bến nước đình làng tháng ngày mòn mỏi
Sóng gió vô chừng biết đâu may rủi
Hãy trở về đi mái ấm thân thương
Cau trắng hiên nhà tóc mẹ pha sương
Đời thương hồ tương lai mờ mịt lối
Ha… ha…
Đời thương hồ tương lai mờ mịt lối
Sá gì một kiếp rong chơi!"
              
(Thương hồ ca)

 

 Những câu thơ của Quân Tấn bất chợt làm tôi nhớ đến thơ Phạm Hữu Quang với cái tâm thế của kẻ trai giang hồ lang bạt tha phương đầy ngạo nghễ mà trong lòng cứ luôn đau đáu một nỗi lòng cố quán, đọc xong cứ thấy chua lòng xót dạ biết bao:

 

"Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hóa rừng
Chân sẵn dép giày trời sẵn gió
Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung…

 

 Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta khóc mới hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà"
                
(Giang hồ)

 

 Tình hoài niệm như một sợi dây nối kết vô biên giữa những mối quan hệ: quá khứ - hiện tại, kẻ ở - người đi, cái còn – điều đã mất… Và thơ trẻ ĐBSCL nói nhiều về những nỗi hoài niệm.

 

Khi chính bản thân những người viết là người trẻ phải sống trong cảnh tha phương cầu thực, mỗi phút rảnh rang cho lòng mình quánh lại, lại se sắt nhớ chuyện quê nhà:

 

"Những cánh đồng trải dài xa tít
Chị em tôi bì bõm lùa vịt chiều
Nắng cháy rụi
Phía xa bờ rạ cũ
Gọi mùa đi
Chao chát nỗi buồn trôi
(…)

 Vẫn đầy gió
Cánh đồng tăm tắp nuốt chửng tuổi thơ mùi nắng rạ
Vẫn mái lều tàn tạt gió bạt những chiều đông
Vẫn cái sào làm cọc neo ghe bến sông bồi lở
Nhớ váng phèn mỏng mảnh chênh chao…
          
(Ký ức cánh đồng – Trần Huy Minh Phương)

 

 Có khi nỗi hoài niệm lại hiện ra cùng với sự thảng thốt, bất lực trước bao nỗi chuyển dời, phai nhạt của thời gian. Lặng lẽ quan sát, chiêm nghiệm rồi đắng lòng khi nhìn những người yêu thân quanh mình sống trong bao nỗi cách xa, mỏi mòn, khắc khoải. Những hình ảnh về mẹ, về chị, về em, về hoa cau, chái bếp, về dòng sông, con đò, về cánh đồng, ngọn cỏ… bỗng rung lên vừa gần gụi vừa xa xôi, vừa hững hờ vừa ray rứt, như đã là máu thịt trong trái tim thơ của những người trẻ lớn lên giữa xứ sở miệt vườn:

 

"Tiếng chim lẻ giọng vườn sau
Thôi đừng trắng nữa hoa cau, tội gì?...
Những vòng trái đất thiên di
Xòe tay đếm dấu chân đi gập ghềnh.

 

Chị giờ gạn nhớ khơi quên
Sông thương chảy giữa hai bên lở bồi
Vui buồn như lá treo chơi
Đã vàng phai hết một thời vu quy"
               
(Nắng xanh một góc sân chùa – Nguyễn Giang San)

 

"Lật hết đời chân mẹ chơi với đất
gương mặt thằng Hai… thằng Cát, thằng Trần
bây thành đạt hay là bây phù phiếm
nhớ tụi mầy, tụi mầy còn nhớ tao

 

 Sống hết bình minh mẹ ngồi với cỏ
quấn chân làm gì hãy mọc xanh lên…"
                  
(Mẹ - Nguyễn Đăng Khương)

 

 Tính chất hoài niệm cũng hiện diện khá nhiều trong thơ Trương Trọng Nghĩa. Một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ trẻ ĐBSCL. Anh sinh năm 1983, đoạt nhiều giải thưởng của Hội VHNT Tiền Giang, báo Mực Tím, tạp chí Tài Hoa Trẻ và là tác giả của tập thơ Những mảnh ghép không lô-gic (2008).

 

 Thơ anh nhiều bài viết về tình yêu với những hoài niệm rất đỗi thân thuộc, trong sáng (Anh trở lại/ Tháng Giêng vàng sắc áo/ Lối cỏ xưa tìm lại dấu chân người/ Ngu ngơ gọi/ Em như thời trẻ dại/ Thuở tan trường che chung một lá sen) nhưng song song đó cũng có những nỗi hoài- niệm- rất- thực, rất- đời:

 

"Ông nói vui mà tôi nghe thật buồn
Bây giờ cha truyền
nhưng con cái chắc gì chịu nối”
Sông càng chảy càng xa nguồn cội
Con sãi ở chùa chẳng còn quét lá đa

 

 Những chàng trai bỏ làng lên phố
Khát cháy giấc mơ đổi đời
Nửa đêm giật mình
Câu “Nhất nghệ tinh…” vẫn còn đau."
           
(Viết ở một làng nghề)

 

 Không trốn tránh và can đảm đối diện với sự thật, đó mới là tâm thế của một người cầm bút chuyên nghiệp. Nhà thơ dù nâng niu quá khứ đến thế nào đi chăng nữa cũng cần phải biết đối diện với thực tại, tiếp nhận và phản ánh cuộc sống hiện sinh ở quanh mình. Nhất là trong thời điểm đô thị hóa đang không ngừng diễn ra với tốc độ chóng mặt, những bát nháo, ồn ào và phức tạp của đời sống đô thị đã từng bước ăn nhập vào đời sống nông thôn, vào vùng đất trẻ ĐBSCL.

 

Thơ trẻ ĐBSCL vẫn còn thiếu những câu thơ khuấy động và chạm được đến đời sống, hơi thở hiện đại. Những đề tài, nội dung quen thuộc được lặp đi lặp lại khá nhiều trong tác phẩm của các nhà thơ trẻ. Sự bứt phá chỉ xuất hiện ở một vài tác giả hoặc một số tác phẩm ít ỏi. Đôi khi sự cách tân lại sa đà vào việc làm dáng chữ nghĩa, nửa vời, khiến thơ thiếu đi chất sống cần thiết, thiếu đi tâm hồn và tầm vóc của nhà thơ.

 

Tuy vậy tôi vẫn có niềm tin rất nhiều về thơ trẻ ĐBSCL và càng hết sức tự hào khi mình được là một trong những người làm thơ trẻ được sống và viết về vùng đất này. Các nhà thơ trẻ ĐBSCL bây giờ phần lớn đều có trình độ, học thức, lại tự tin, năng động. Cộng với vốn văn hóa bản địa được tích lũy qua từng ngày và sự học hỏi chân thành từ lớp người đi trước, chắc chắn trong một thời gian không xa sẽ có những tác phẩm giá trị, cất lên được nhịp đập mạnh mẽ của vùng đất chín rồng…

 

An Giang, 22.08.2011

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ VỀ HÀ NỘI CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
· PHÊ BÌNH TRẺ MIỀN TRUNG – TỪ MỘT GÓC NHÌN
· TIẾNG LỤC LẠC TRONG NGÂN
· VƯƠNG TRONG XIN DỊCH LẠI 'CHINH PHỤ NGÂM' CỦA ĐĂNG TRẦN CÔN
· TÔI VÀ NÀNG CHINH PHỤ XA XƯA
· THƠ VÀ HỌA – PHÊ BÌNH THUYẾT “THƠ HỌA DỊ CHẤT” CỦA LESSING
· SỐ PHẬN CÔ BA SƯƠNG QUA BÀI CA DAO 'CÒ TRẮNG ĐI ĐÊM'
· THƠ MẠNG VÀ CƠ HỘI CHO CÁ TÍNH TRẺ
· CHÙM TRUYỆN NGẮN CỦA LƯU QUANG MINH VÀ NHỮNG LỜI BÌNH
· VỀ MỘT BÀI TRONG QUYỂN THI NHÂN VIỆT NAM
· VŨ TRỌNG PHỤNG - BIỂU TƯỢNG ĐÁNG KINH NGẠC VỀ SỰ THỨC TỈNH LƯƠNG TRI VÀ TẬN HIẾN CỦA TUỔI TRẺ
· KHOA HỌC VĂN HỌC TIỀN HIỆN ĐẠI
· MAI VĂN PHẤN – NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TẠO THƠ…
· LÊ ĐẠT – NGƯỜI THIỂU SỐ
· HAI TRUYỆN NGẮN VỀ HÀ NỘI
· CHÙM THƠ THỜI CON GÁI
· THẦY LAZARO PHIỀN-KIỂU KẾT CẤU NGHỆ THUẬT ĐẦU TIÊN TRONG VĂN XUÔI HIỆN THỰC VIỆT NAM
· THỬ BÀN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHỮNG “NGƯỜI ĐI TRƯỚC” TRONG VIỆC TÌM KIẾM VÀ DÌU DẮT NHỮNG CÂY BÚT TRẺ HIỆN NAY QUA TRƯỜNG HỢP THƠ VÀ NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ THƠ CỦA VI THÙY LINH
· MỘT CUỘC GIAO LƯU VÔ TẬN
· JEAN FRANCOIS LYOTARD VỚI THỰC TẠI LUẬN VÀ TRI THỨC LUẬN

 

  
Gia đình Bích Khê