DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CON NGƯỜI THƠ VÀ CON ĐƯỜNG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG

     Bùi Thị Cẩm Nhung

 

 

 

1.1.     Vài nét về nhà thơ Hoàng Trần Cương

 

1.1.1.     Tiểu sử và sự nghiệp

 

Hoàng Trần Cương sinh ngày 30 tháng 7 năm 1948, quê xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

 

Lên 7 tuổi, cậu bé Cương theo bố ra Hà Nội học tiểu học ở đình Hữu Tiệp, làng hoa Ngọc Hà, sát cạnh sông Hồng. Hết 4 năm tiểu học, sang cấp II, anh lại quay về học ở làng Đặng Sơn để rồi 3 năm sau đó, anh ra Hà Nội và theo cơ quan của ông cụ thân sinh (Tổng cục Thuỷ sản) sơ tán về Quế Võ, Bắc Ninh, nơi có con sông Cầu của các làng Quan họ để học cấp III.

 

Khi cuộc chiến tranh phá hoại do không quân Mỹ tiến hành leo đến những nấc thang khốc liệt thì đấy cũng là lúc bộ đội Phòng không-Không quân chúng ta đã trưởng thành mau chóng, quân số có lúc lên tới mười một vạn người. Nhiệm vụ nặng nề, hy sinh lớn, thách thức lớn, bề bộn những lo toan gánh vác. Với mỗi cán bộ chiến sĩ trong quân chủng, đó là những ngày đêm đòi hỏi nhiều nghiêm khắc, nhưng cũng đầy ân tình và cảm động. Và anh sinh viên họ Hoàng Trần, lúc này đang học tại Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội cũng kịp rời ghế nhà trường hoà mình lẫn vào đội quân đông đảo đó.

 

Những năm 70 Hoàng Trần Cương có mặt trên các ngả đường trong Trường Sơn tham gia chiến dịch Bản Đông - Đường 9 Nam Lào và trong giao thừa Tết năm 1971 tại ngã ba Tà Pình đường mòn Hồ Chí Minh, đại đội pháo cao xạ 37 ly của anh bị vùi trong bom. Nhiều đồng đội hy sinh, anh cũng bị thương trong trận đánh oanh liệt này. Mùa hạ 1972, Hoàng Trần Cương tham gia trận đánh ở thành cổ Quảng Trị. Tháng 12 năm 1972, anh có mặt trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Bắc Giang, Lạng Sơn, Đồng Mỏ. Đến đầu tháng 4 năm 1975, anh trên đường tiến vào Đà Nẵng, lúc đó anh đã là một Khẩu đội trưởng pháo cao xạ.

 

Từ sau 1975, nhà thơ là chuyên viên ngành kế toán kinh doanh, Bộ Tài chính. Hoàng Trần Cương từng là Tổng biên tập Thời báo Tài chính Việt Nam, sinh sống tại phường Thành Công, Ba Đình, Hà Nội, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên Hội nhà văn Việt Nam và cũng là Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.

 

  Tác phẩm chính đã xuất bản: Hạnh phúc hôm nay (tập ký sự, 1971), Bầu trời Quảng Trị (truyện ký, 1972), Nguyên vẹn (tập truyện ngắn, 1973), Chớp xanh (truyện ngắn, 1973), Dư âm (tập truyện ngắn, 1976), Đường chân trời (thơ, in chung,1989), Dấu vết tháng ngày (thơ, 1991), Trầm tích (trường ca, 1996), Quà tặng hành tinh (thơ, 1999). 

 

Hoàng Trần Cương đến với văn chương khá sớm và từng được giải A về văn xuôi đề tài lực lượng vũ trang (1970-1972) của Tạp chí Văn nghệ Quân đội với ký sự Hạnh phúc hôm nay, giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam (1989-1990) với trường ca Trầm tích và chùm thơ. Đến trường ca Trầm tích, nhà thơ Hoàng Trần Cương mới thực sự tìm được chính mình. Trầm tích còn đạt được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 1994-1999 về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, giải thưởng văn học (giải B, không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2000), nhà thơ còn đạt giải đặc biệt Giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Xuân Hương năm 1997-2002 của tỉnh Nghệ An.

 

Đối với nhà thơ Hoàng Trần Cương, những thành tựu đó đã giúp cho anh có thêm nghị lực, nhưng đồng thời, như có lần anh nói, kèm theo trong nó cả những nỗi nhọc nhằn và cả sự gửi gắm. Khi viết một tác phẩm, anh phải huy động vốn sống cả cuộc đời anh tích cóp được. Cuộc đời anh đã được đào luyện qua nhiều thử thách, khổ ải và nỗ lực, chính những điều đó đã làm nên số phận anh và tác phẩm của anh.

 

1.1.2.     Con người

 

Hoàng Trần Cương sinh ra và lớn lên ở mảnh đất miền Trung nhiều bão gió, lại trải qua một tuổi thơ sớm phải chịu đựng nhiều nỗi buồn. Anh nói: “Tôi luôn thấy mình may mắn vì được sinh ra ở một vùng đất khốc liệt và trong một gia đình có nhiều biến cố, từ khi tôi còn rất nhỏ tuổi” [91]. Không ai có quyền chọn cho mình một quê hương, một gia đình để sinh ra, cũng không ai chọn được ngày giờ tốt để có mặt trên đời, nếu được sinh ra một lần nữa thì Hoàng Trần Cương vẫn chọn làng quê nghèo khó, lấm láp của mình. Hoàng Trần Cương đã có lần tâm sự: “Nỗi buồn quá lớn đã đến với tôi quá sớm, khi tôi còn là một đứa trẻ nhỏ và nó đã đẩy tôi vào tận gốc của đời sống. Nhưng tôi có huyết thống tổ tiên trong mình, tôi đã sống không sợ hãi, không chối bỏ, không nửa vời” [43]. Con người gan góc ấy một mặt cảm thấy may mắn khi được trui rèn với nhiều khổ nhọc dữ dội từ tuổi thơ, nhưng mặt khác những ám ảnh từ tuổi thơ, từ quá khứ vẫn luôn day dứt trong tâm hồn anh. Tuổi thơ nghèo đói, khiến nhà thơ Hoàng Trần Cương luôn bị ám ảnh ngay cả trong cuộc sống thường nhật. Có lần, người bán ngô dạo đi qua nhà anh cứ rao đi rao lại: "Ai ngô luộc không?" khiến anh không chịu nổi. Anh gọi lại, mua hết cả nồi ngô ấy. Anh bảo, nỗi ám ảnh ngô, khoai, sắn của tuổi thơ khiến anh sợ cả tiếng rao! 

 

Trong những năm tháng tuổi thơ dữ dội ấy, lời ru của bà, của mẹ đã giúp nhà thơ hiểu hơn về đời sống của người xứ Nghệ, trước hết đó là đời sống tinh thần, rộng hơn là đời sống sinh hoạt của họ. Câu hát ru của bà, của mẹ được lọc từ năm tháng chua cay, câu ví dặm của người xứ Nghệ nằm nghiêng trên nắng và dưới cát, câu hát hai lần sàng lại, lọt lỗ tai rồi mà vẫn day dứt quanh năm… Có lẽ vì thế mà tâm hồn nhà thơ luôn gắn bó máu thịt với miền quê xứ Nghệ và con người nhà thơ luôn đậm đà “chất Nghệ”.

 

Giáp mặt hàng ngày với gió nóng, nắng lửa và mưa lũ đã hình thành nên tích cách của người xứ Nghệ là mạnh mẽ, dữ dội, quyết liệt, biết chịu đựng, biết vươn lên trong khốn khó. Một nghị lực phi thường vẫn hiện hình trên gương mặt buồn như đá của người con xứ Nghệ Hoàng Trần Cương. Anh  tâm sự: “Ngày còn là một đứa trẻ sống trong cảnh khổ cực, oan ức, tôi đã nhiều lần đến bên Ba-ra (đập nước) của làng để hét thi với tiếng sóng. Tôi gào lên và nhớ tiếng mình vang vọng trong nước” [43]. Anh nhiều lần tự nhận mình có giọng nói oang oang, giọng nói đã khó nghe nhưng vẫn hay nói. Hét thi với sóng nước sông Lam thực chất là để cho nỗi oan ức, uất nghẹn trong lòng Hoàng Trần Cương vơi đi. Anh như sắt lại, cứng cỏi hơn, quyết liệt hơn khi cha bị bắt và mẹ phải dẫn bầy con rời làng. Nỗi oan của gia đình rồi cũng được giải nhưng nó làm cho con người anh rắn lại như đá tảng. Bên trong cái vỏ gai góc, quyết liệt, cực đoan, sòng phẳng, tận bờ sát gốc của anh chính lại là trái tim mềm yếu, dễ rung cảm. Không ít lần nhà thơ rớm nước mắt nghẹn ngào khi đọc lại những lời thơ về quê hương, về mẹ, về những đồng đội đã khuất của mình,… Anh rất hay khóc khi đọc thơ. Anh nói:

 

Nói chính xác ra thì tôi hay nghẹn ngào lúc làm thơ, khi những thi ảnh vụt đến. Điều này cũng có thể xem như cái “gót chân Asin” của người làm thơ. Bạn bè hay thấy tôi nghẹn ngào là vì tôi có thể làm thơ ở bất cứ chỗ nào… Trong chiến tranh, vừa đánh trận xong, chôn cất tử sĩ xong, tôi kê lại pháo và ngồi làm thơ, mặc cho máy bay địch gầm rít trên bầu trời. Đọc lại những câu thơ ấy tôi không kìm được xúc động… Có lần đọc thơ trên truyền hình, tôi cũng nghẹn ngào đến nỗi ống kính phải lia đi chỗ khác. Sự vỡ òa ấy không phải chỉ tự thân những câu thơ, mà nó là sự trở về của hàng chuỗi những thi ảnh trong quá khứ [91].

 

Trái tim nhiều rung cảm Hoàng Trần Cương luôn dành những tình cảm thiêng liêng nhất cho Người Mẹ. Dễ hiểu tại sao ngôn từ, hình ảnh khi nhà thơ nói về Mẹ lại phong phú, dạt dào đến thế. Những câu thơ đầy cảm động, thương nhớ đến xót xa: “Ngấn nước mắt của Mẹ rẽ vào nỗi nhớ của con/ Lật đật suốt đời nỗi nhớ lon ton...” (Khoảng vắng). Những bài học sâu sắc từ lời mẹ dạy: “Mẹ dặn con ra đường nhìn thẳng/ Nhưng đừng quên ngoái lại phía sau...” (Trầm tích). Và anh đã “ngộ” ra từ Người cách sống để thêm nghị lực mà vượt qua hoàn cảnh:“Mẹ ơi/ Sau những nhọc nhằn mê lú/ Sau những trận đụng đầu nát ngấu với gió mưa/ Phút bình yên con mới tỉnh ra/ Thôi thì đành tính đường sống chung với lũ/ Thôi thì đành nhịn nhường nhau mà dỡ rào mở lối...” (Trầm tích). Để mãi trong tâm hồn mình nhà thơ luôn thầm nhủ thật da diết, chân thành:“Em gắng về/ Đừng để mẹ già mong...” (Miền Trung).

 

Song song với tình cảm với mẹ là tình nghĩa đậm đà với quê hương. Tình yêu quê hương sâu nặng là động lực để nhà thơ viết những câu thơ như rút ruột gan mình: “Ôi quê hương / Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước/ Gió bão thù chi với mảnh đất này/ Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển/ Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến/ Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh/ Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh/ Ngẩng mặt nhìn trời xanh nhức mắt/ Dằng dặc dải làng quê thưa thắt…” (Trầm tích). Hoàng Trần Cương yêu quê đến quặn lòng mới có cái nhìn đằm thắm, tinh tường: “Lặng lẽ phù sa trôi giữa đôi bờ co thắt/ Hạt bụi nào làm nhặm bóng tháng năm?”(Đất).

 

Hoàng Trần Cương còn là một người thương binh đi qua chiến trận, bàn tay anh từng vuốt mắt của bao đồng đội đã hy sinh. Hoàng Trần Cương đã là người lính trận. Anh đã biết thế nào là chiến tranh, thế nào là ranh giới giữa sống và chết, anh thấm thía nỗi đau mất mát trong chiến đấu, thấm thía tình đồng đội, tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước... Chất lính đã in đậm trong con người Hoàng Trần Cương từ khi anh nhập vào với lửa. Tất cả những điều đó, với anh, nó có sức nặng bom tấn để từ trong trái tim anh ngân lên những khúc ca bi tráng về những gì anh đã trải qua trong cuộc đời này và buộc anh phải cầm bút viết:

 

Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình / Những ký ức từng làm em xây xẩm/ Khi sốt rét quật anh ngã sấp / Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng/ Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng/ Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng/ Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại/ Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời / Nhiều lúc quá khứ bị chính anh lơ đãng bỏ rơi/ Ngước lên bàn thờ bắt gặp đôi nén hương đói lửa/ Những nén hương khắc khoải cong xoắn vòng vấn hỏi / Khói bay tìm trời xưa/ Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực/ Và nằm xoài anh ôm anh trên đất/ Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội/ Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang/ Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng… (Giải pháp).

 

Nhà thơ Hoàng Trần Cương còn được biết đến là “dân” tài chính “thứ thiệt”, là chuyên viên cao cấp và có thâm niên trên 15 năm làm kế toán trưởng Báo Nông nghiệp Việt Nam và Thời báo Tài chính Việt Nam, nguyên là Tổng Biên tập Thời báo Tài chính Việt Nam, Chủ tịch Liên chi Hội báo chí ngành Tài chính. Dù vậy, nhưng anh luôn thừa nhận, thứ giúp anh “sống” được đến ngày hôm nay lại chính là thơ.

 

Đi qua chiến tranh, trở về với cuộc đời, Hoàng Trần Cương là một người giàu bản lĩnh. Sự đeo bám của thi ca luôn khiến ký ức anh xù xì, đau đớn, như là một định mệnh của đất trời cứ gieo rắc vào anh. “Nàng thơ” đã mang lại cho anh nhiều thứ nhưng cũng đã lấy đi của anh không ít những hạnh phúc bình thường ở đời. Đôi lúc, thơ đã làm cho anh vật vã. Vớ được ngày nghỉ, gặp được bạn bè tâm giao ở một quán bia hơi nào đó là anh đọc thơ, đọc rất to, rất đắm đuối ở bàn nhậu. Anh thường xuyên vì bạn, vì thơ mà quên “vai vế” của mình. Và một khi thơ đã ngấm vào hồn là anh quên hết và có thể là... ngã khi vung tay, nhắm mắt lắc lư theo những vần điệu, cảm xúc. Hoàng Trần Cương là vậy, luôn như vậy, luôn được là chính mình với thi ca.

 

1.2.     Quan niệm sáng tác của Hoàng Trần Cương

 

Đối với Hoàng Trần Cương, thơ ca có thể nói là lẽ sống, nhưng không phải là thứ mà anh đeo bám theo để tô điểm câu chữ mà thành, nó phải là những cảm xúc được thăng hoa, những cảm xúc tận đáy lòng mình. Anh nói: “Thường trực trong tôi khi cất bút thành lời thơ, chính là những lúc cảm xúc hoặc là dâng đến tận cùng, hoặc rơi xuống đáy. Không có khoảng giữa”[81]. Theo đó, thơ luôn phải xuất phát từ cảm xúc chân thực chứ không phải là những trò chơi chữ nghĩa, không là nơi trau chuốt chữ nghĩa, không phải là thời trang hay là “mốt”. Anh từng bảo:

 

Theo tôi nghĩ văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung không bao giờ là thời trang cả. Tôi không dám coi thơ là thời trang. Vì thế nên chả dại gì mà tôi lại mất thời gian sắm sanh, soạn sửa. Không mấy khi tôi quan tâm đến việc người ta ngó ngàng mình ra sao. Tôi chỉ ngó ngàng chính tôi, xem có khi nào mình trở nên phô diễn không. Với tôi, những người coi văn chương là thời trang, đến với văn chương như đến với một thứ thời trang là những người thiếu bản lĩnh. Vì thời trang là thứ để người ta nhìn vào anh, chứ không phải những thứ tự anh. Nhà thơ có nhiều người yêu quý mình dĩ nhiên là tốt rồi. Nhưng với tôi, có khi chỉ có một người đọc mình cũng đã là rất mừng [91].

 

 Hoàng Trần Cương chú trọng nhiều đến những cảm xúc thơ lắng đọng, chất chứa, sàng lọc qua thời gian. Có lẽ vì thế mà thơ anh luôn day dứt ảm ảnh về quá khứ, về tuối thơ, về những giá trị đã kết tinh thành “trầm tích”. Anh nói rằng:

 

Theo tôi nghĩ, một nhà thơ, để có được những câu thơ tâm đắc, phải là sản phẩm của tư duy và đời sống sau những va đập đã được lắng lại qua thời gian. Tôi chỉ có thể đặt bút làm thơ khi nhịp tim đã trở lại bình thường, sau khi những choáng ngợp, hồi hộp qua đi. Thơ, với tôi, không bao giờ là thời sự. Cuộc sống chảy qua tôi và thơ giống như phù sa, qua năm tháng mà đọng lại. Tôi là người vừa đi vừa ngoái lại nhìn quá khứ. Nói như nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, thì tôi là người luôn “đấu thầu” quá khứ [91].

 

Thơ ca chính là nơi Hoàng Trần Cương lưu lại những cảm xúc, những rung động mãnh liệt đến tột cùng từ sâu thẳm tâm hồn mình. Anh cho rằng nhà thơ cần sự từng trải và chỉ nên viết về những cảm xúc mình trải qua hay những gì mà mình đã chứng kiến, đã am hiểu và đã gắn bó, đã xúc động thật sâu xa,… Anh nói: “Tôi chỉ viết về con người và mảnh đất mà mình am hiểu và gắn bó… Tôi luôn tự nhắc mình “đừng thấy người ta đào được củ mài thì cứ vác mai vào rừng”…” [43].

 

“Vũ khí lợi hại” nhất của nhà thơ là trường ca, điều này ai cũng nhìn thấy.  Phải chăng chỉ trường ca mới đủ sức dung chứa con người ào ạt Hoàng Trần Cương? Anh cũng khẳng định điều này, tuy với anh, việc làm thơ không cần chú trọng nhiều đến việc gọt giũa câu chữ nhưng chọn hình thức thể loại hợp với cá tính sáng tạo của mình là điều cần thiết. Anh từng nói: “Tôi vẫn làm thơ ngắn. Nhưng thực ra tạng của tôi là ở thể loại viết dài. Ở trường ca tôi có thể ngụp lặn thỏa thích trong con sông xúc cảm, tư duy của chính mình.” [91]. Và anh đã chọn thể loại trường ca. Thành công của Trầm tích đã chứng tỏ nhà thơ đã chọn cho mình một hướng đi đúng.

 

Nhà thơ cũng luôn chú trọng đến việc phải tạo cho mình một phong cách riêng: nhà thơ cần sự khác biệt.

 

Thơ ca Hoàng Trần Cương không dễ dãi xuôi tay, không chịu lặp lại những gì đã quá quen thuộc. Bài nào cũng chắt lọc ý, hầu như trong bài nào ta cũng tìm thấy một cái gì lấp lánh của riêng anh. Dải đất miền Trung khô cằn và khắc bạc với những con người vật lộn dai dẳng cùng thiên nhiên và giặc giã. Một số nhà thơ đã viết về miền Trung khá thành công. Hoàng Trần Cương cũng lại viết về đề tài đó. Anh đã dựng lên những hình ảnh lột tả được cái nghiệt ngã của thiên nhiên mà chưa một nhà thơ nào viết:

 

- Gió bão thù chi với mảnh đất này

 

Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển

 

Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến

 

 (Trầm tích)

 

- Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa

 

- Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ

 

 Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ

 

 Không ai gieo mọc trắng mặt người.

 

(Miền Trung)

 

Xứ Huế cổ kính và thơ mộng quyến rũ biết bao nhiêu thi sĩ từ hàng năm trăm nay. Mãi đến năm 1992, Hoàng Trần Cương mới viết bài Về Huế với những cảm xúc như nhiều người khác: bước lặng thầm dọc bờ kỷ niệm, trầm mặc cố đô, dấu chân ai lưu bên thành cổ…Khó mà có cảm xúc mới lạ. Ta vẫn tìm thấy trong bài thơ nét rung động mới mẻ: “Tôi lặng vuốt bàn tay lên gò đá/ Gỡ mảng rêu mờ nghe buốt một thời qua”.

 

Khối nhà thơ viết về nông thôn. Khối bài thơ hay về nông thôn. Bâng khuâng quan họ. Bến nước trữ tình. Nương dâu, gốc đa, bờ mía…Trong bài Thời gian Hoàng Trần Cương đã khơi dậy một chi tiết rất chi là làng quê mà nếu nếu không có con mắt quan sát tinh tế thì không thể phát hiện ra: “Những lối mòn trườn xuống chân đê/ Lớp nấm mạ mọc dày cho chiều quê đỡ lạnh”.

 

Đi đúng theo quan niệm sáng tác của mình, Hoàng Trần Cương đã tạo cho mình một phong cách thơ ca thật độc đáo: một nhà thơ chuyên viết trường ca với những lời thơ xù xì, thô tháp như đá nhưng thu hút bởi cách chuyển tải những cảm xúc lay động lòng người.

 

1.3.      Hành trình thơ ca Hoàng Trần Cương

 

1.3.1.     Thơ ca Hoàng Trần Cương trước trường ca Trầm tích

 

Bài thơ đầu tiên Hoàng Trần Cương làm năm 17 tuổi có tên là Dư âm:

 

Ta như Đất lặng câm mà dữ dội

 

Yên lành trải bình nguyên

 

Thanh thản dựng núi đồi

 

Em đừng trách ngày thường anh nông nổi

 

Màu trời nào chẳng mang xác một dòng sông chết trôi!

 

Bài thơ cuốn theo suốt hành trình thơ, nó ám ảnh như một lời tiên tri, một định mệnh của đời thơ Hoàng Trần Cương.

 

Ngay từ năm 1972, Hoàng Trần Cương đã nhận được giải thưởng cao của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, không phải tác phẩm thơ mà là văn xuôi: Ký sự Hạnh phúc hôm nay(in năm 1971). Cùng năm ấy, Nhà xuất bản Lao động xuất bản tập truyện ngắn Dư âm (in năm 1976) của Hoàng Trần Cương. Văn xuôi của Hoàng Trần Cương hồi chiến tranh nhiều chi tiết chắt lọc, lạ lẫm, được thốt lên từ một giọng khá điềm tĩnh chứ không “hồi hộp quá” như thơ anh sau này.

 

Cho đến hết chiến tranh Cương vẫn chưa nổi tiếng. Văn xuôi và pháo 57 chưa phải là vũ khí tốt nhất của anh pháo thủ này. Vũ khí lợi hại của Hoàng Trần Cương là trường ca. Tập thơ Đường chân trời (in chung năm 1989) cũng chưa khẳng định thành công của thơ Hoàng Trần Cương trên thi đàn. Hàng trăm bài thơ ngắn Cương đã công bố trên báo chí dường như cũng để chuẩn bị cho trường ca.

 

Trong tập thơ Dấu vết tháng ngày (in năm 1999), đất nước, quê hương, tình yêu, dĩ vãng, hiện tại… đều được nhào nặn và gạn lọc ra cái tinh chất tâm hồn Hoàng Trần Cương. Ba mươi sáu bài thơ sum vầy trong tám mươi trang sách như chùm quả sần sùi vỏ, mang vị ngọt riêng. Trong tập thơ này, bài viết sớm nhất năm 1985 và bài viết gần đây nhất 1992, như thế là những bài được chọn in vào tập trong khoảng bảy năm. Gần nửa số bài của tập thơ là viết về tình yêu. Nếu người đọc đọc một mạch từ đầu đến cuối tập thì đôi lúc dễ chừng khó phân biệt thơ tình yêu với những bài thuộc đề tài khác. Cùng một góc độ cảm xúc, một góc độ suy nghĩ, con người tác giả bộc lộ rất rõ trong mọi hoàn cảnh, mọi đề tài. Những bài thơ tình yêu trong tập này, không có nhiều bài đọc thật sướng, nhưng bài nào cũng có cách suy nghĩ riêng cách thể hiện riêng của Hoàng Trần Cương. Với không khí đổi mới của đất nước, ngòi bút của nhà văn được nới rộng tự do hơn. Người cầm bút được tung hoành trên mọi lĩnh vực đề tài. Tập thơ Dấu vết tháng ngày cũng được ra mắt bạn đọc trong bối cảnh đó, ra mắt bạn đọc cùng với hàng trăm tập thơ khác. Thị trường văn học bị nhiễu, nhưng tập thơ Hoàng Trần  Cương  vẫn có dấu ấn riêng trong tâm trí độc giả. Anh không hò hét kêu la, không than khóc vờ vĩnh, cũng không vội vàng hô hào bằng khái niệm. Như nhiều người khác, anh cũng lo toan cũng dằn vặt trước bao nhiêu nỗi bất hạnh còn phơi bày trong xã hội.

 

1.3.2.     Thơ ca Hoàng Trần Cương từ trường ca Trầm tích

 

Sau 2 tập thơ: Đường chân trời (in năm 1989), Dấu vết tháng ngày (in năm 1991),  tháng 10 năm 1999, Hoàng Trần Cương  đã cho ra mắt cùng một lúc 2 tập nữa là Trầm tíchQuà tặng hành tinh. Trầm tích là trường ca đã từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1989 - 1990 cùng với hai bài thơ Vết rạn chân chim và Dấu vết tháng ngày. Trước đó anh mới chỉ cho in rải rác một số chương. Lần này anh đã cho công bố trọn vẹn trường ca Trầm tích gồm 19 chương với gần 2000 câu thơ và một tập thơ lẻ Quà tặng hành tinh gồm 45 bài. Có những bài anh mới viết trước lúc bản thảo được đưa đến nhà in và cả những chương trước đây đã được công bố trên các sách báo, đến lần in này anh đã sửa chữa, bổ sung đáng kể và cấu trúc lại theo một ý tưởng mới và mỗi chương có một tên riêng.

 

Trường ca Trầm tích được khởi thảo từ những năm 80 và đã làm Hoàng Trần Cương nổi như cồn. Chỉ một trường ca ấy, Hoàng Trần Cương đã nhận được bốn giải thưởng đều là hạng nhất của bốn tổ chức văn học: Giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1989 – 1990, Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học viết về đề tài lực lượng vũ trang của Bộ Quốc Phòng và Giải A của quê hương anh: Giải thưởng Hồ Xuân Hương của tỉnh Nghệ An.

 

Từ giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1989 – 1990, đến nay, thơ Hoàng Trần Cương nhiều khoảng trống hơn, chập chờn hơn, có nhiều chỗ cất lên rất ngoạn mục. Về cái sự “cất lên” này, thấy có nhiều ở thơ ngắn hơn là trong trường ca. Sau Trầm tích, một sự ghi dấu đáng kể, Hoàng Trần Cương có thêm nhiều trường ca nữa. Cái mới của các trường ca này là yếu tố kể bớt đi, yếu tố cảm tăng lên. Và nhờ thế, không gian nghệ thuật được nới rộng, tính phức hợp của các hình tượng thơ đậm dần. Đến nay anh đã đặt bút viết 5 trường ca. Anh nói năm trường ca ấy là ngũ hành trong thơ ca của mình: Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ (Trầm tích, U Minh, Đỉnh Vua, Long Mạch, Nham Thạch).

 

Hồn thơ của Hoàng Trần Cương có sức đề kháng tốt với thời gian. Một loạt những bài thơ mới nhất của anh vẫn đầy ắp cái thảng thốt, bàng hoàng cộng với những cú “đảo phách” rất có hiệu quả. Đó là cách tự làm mới thơ của Hoàng Trần Cương. Trong Quà tặng hành tinh Hoàng Trần C­ương có những bước tiến mới. Những bài thơ ngắn, bỏ lối trần thuật, viết theo cảm hứng chủ đạo, có khi chỉ là một cảm nhận nội tâm bất chợt:

 

Có những chiều lửng lửng lơ lơ

 

Cỏ xanh đứng hững hờ với gió.

 

Mưa rào tránh rơi vào ngày hoa gạo nở

 

Hoàng hôn cũng sợ già vội vã trốn lên cây

 

Ta bất giác chằm tay úp mặt,

 

Không gió, không mưa mà mười ngón ướt đằm

 

(Cảm)

 

Nhiều bài thơ viết về theo lối kết cấu mở, tầng ý nhiều, gợi nhiều hơn khẳng định. Thơ anh trí tuệ hơn, khi nhận thức được dồn vào tính triết lý, sau những hình ảnh được sử dụng đúng độ cần thiết. Bài Di sản, viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, khá hiện đại trong cách kết cấu, lập ý:

 

Đã bao lần

 

Con bần thần tự hỏi,

 

Sao Bác Hồ thường đi rất nhanh

 

Và khi nói Người luôn nói ngắn.

 

Suốt đời con mãi băn khoăn,

 

Khi đọc lời kêu gọi,

 

Sao giọng Người bỏng rộp những lo toan

 

Chứa chất cả nỗi ăn năn của mọi linh hồn lạc lối…

 

 

 Thơm thảo bát cơm quả cà pháo tần ngần,

 

Bữa ăn của Người thưa dần và vội,

 

Lấy đêm làm ngày, kép mây làm gối,

 

Di sản cuối đời là biển rộng trời xanh…

 

Sao Bác Hồ thường đi rất nhanh,

 

Và khi viết Người hay viết ngắn.

 

Với Quà tặng hành tinh, Hoàng Trần C­ương đã tự khẳng định bước đi chắc chắn của mình. Tuy nhiên thơ ca Hoàng Trần Cương vẫn có một số bài thể nghiệm chưa thành công. Nhiều bài thơ viết về những thứ nhỏ bé vụn vặt như cái bật lửa, đôi đũa tre, cây diếp cá,… Đó là những hình ảnh gần gũi trong xu hướng về với đời thường của thơ ca đương đại, tuy nhiên nó chưa được anh thổi vào chất thơ cần thiết để có được những lời thơ sáng tạo và thu hút.

 

 

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ BIỂN
· CÂU CHUYỆN NHỎ TRONG ĐÊM KHÔNG NGỦ
· VẤN ĐỀ SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ VÀ TRƯỜNG CA THANH THẢO
· CHỦ NHÂN MỚI CỦA GIẢI NOBEL VĂN HỌC 2011
· “NHÓM LÊ QUÝ ĐÔN”: NHỮNG DỊCH GIẢ XUẤT SẮC
· THANH THẢO - TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI THƠ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC
· THẦN ĐỒNG THƠ NÓI VỀ 'THẦN ĐỒNG TIỂU THUYẾT'
· NHÀ THƠ CHIM TRẮNG: TÌNH TA RỒI CŨNG THẢ SÔNG THEO TÌNH
· NGUYỄN HUY THIỆP: ĐỜI HAY LẮM CHỨ!
· ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM NĂM 2010:THƠ CA VÀ VĂN HỌC DỊCH
· ĐÔI LỜI TRAO ĐỔI LẠI VỚI BẠN NGUYỄN VĂN DÂN
· KHÍ KHÁI HOÀI THANH
· NGẤT NGƯỞNG TƯỚNG CÔNG
· CÓ MỘT 'THẦN ĐỒNG TIỂU THUYẾT' VIỆT NAM
· CÁNH CHIM TRẮNG TỰ DO ĐÃ NGỪNG BAY
· TỪ HẢI - NGƯỜI ANH HÙNG SỐNG VỚI CHỮ TÌNH TRỌN VẸN
· CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI – TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI?
· NHÀ THƠ CHIM TRẮNG ĐÃ QUA ĐỜI
· THI NHÂN VIỆT NAM – DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
· TÍNH CHẤT LƯỠNG TRỊ TRONG KHỔ THƠ ĐẦU 'ĐÂY THÔN VĨ DẠ'

 

  
Gia đình Bích Khê