DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM

                                   Nguyễn Thanh Tâm

 

     Trước hết phải trình bày ngay ở đây quan niệm của chúng tôi về hành trình theo chân Dionysos. Trong cái nhìn “song cực” của các “linh tưởng gia” (Nietzsche), Dionysos và Apollon - “Những vị thần Hy Lạp này tượng trưng cho các nguyên tắc sáng tạo khác nhau (suy tưởng và say mê mĩ học) (R.Wellek và A. Warren). Dù tính chất “song cực” khiến người ta nghĩ đến những nẻo lối khác nhau trong tư duy, mĩ cảm của con người nhưng bản chất của tồn tại luôn luôn là sự hợp nhất uyên nguyên, sự đan bện đến mức không thể tách bạch của hai đối cực này. Đối với người làm phê bình văn học, trực giác, ấn tượng và linh năng thấu cảm là rất quan trọng nhưng dứt khoát không thể tách rời các thao tác tư duy khoa học. Tính “lưỡng thê” của phê bình văn học cũng chính là sự nhất thể của “song cực” Dionysos và Apollon mà chúng tôi muốn gợi lên từ quá trình đọc lại một danh tác phê bình của Văn học Việt Nam là Thi nhân Việt Nam của hai tác giả: Hoài Thanh và Hoài Chân.

 

 

 


                

 

 

            Hành trình theo chân Dionysos là hành trình tìm đến với niềm mê say ngây ngất. Đó là “khao khát thoát ra khỏi cái vỏ thân xác của mình bằng sự xuất thần và trong sự lôi cuốn đầy hứng khởi…” (Jaen Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới). Từ ý nghĩ đó, đọc lại Thi nhân Việt Nam chúng ta nhận ra con đường của Hoài Thanh và Hoài Chân là hành trình theo chân Dionysos. Niềm thần khải mê man, sự lôi cuốn đầy hứng khởi chính là cái chóp đỉnh vươn lên cao nhất khi ta “nhìn nghiêng” vào phương pháp phê bình của hai tác giả này. Và hiển nhiên, một cơ cấu mang tính chất móng nền vẫn là sự hợp nhất trong phẩm tính “đỏng đảnh” của các phương pháp khác. Đó là điều làm nên sức sống, là “Bí quyết dưỡng sinh” của Thi nhân Việt Nam (Chu Văn Sơn).

 

            Thao tác mang tính chất nền tảng, cơ bản đầu tiên của phê bình văn chương chính là việc tiếp cận tác phẩm. Tác phẩm văn học là đối tượng của phê bình văn học. Mọi phát ngôn về văn chương sẽ trở nên hời hợt, thiếu căn cứ khi không có được thao tác đầu tiên và căn bản nhất này. Hoài Thanh và Hoài Chân đã đọc một vạn bài thơ khi bắt tay thực hiện công trình Thi nhân Việt Nam. Đó là một công phu hiếm có thể hiện nhận thức đúng đắn và nghiên túc của người làm phê bình. Điều đáng nói nhất ở đây chính là sự đọc của họ. Nếu cho rằng phương pháp của Hoài Thanh, Hoài Chân là phê bình ấn tượng thì chúng ta thấy ngay các phương pháp khác đã cộng thông, hợp nhất với nhau cùng tôn cao lên “đỉnh cô sơn” ấn tượng. Trong những nhận định về sức sống của Thi nhân Việt Nam, Chu Văn Sơn cho rằng: “Bản lĩnh sáng tạo của Hoài Thanh là xuất hiện trên trang viết như một cái tôi - tự nghiệm. Tất cả những điều học hỏi, những trang bị từ kiến văn đến lý thuyết… đã được đồng hóa thành chất Hoài Thanh, đã tan biến vào các giác quan để làm tinh nhạy hơn suy cảm của mình”. Chúng ta không thể phủ nhận rằng, chính đạo của thơ là trực giác. Thơ vốn dĩ không dung nạp những suy lí cứng nhắc. Nàng thơ vốn không ưa những kẻ đến với nàng bằng sự vũ trang những khái niệm, những định thức quy chuẩn hay những ràng buộc của một sự lạm phát trí não. “Sự bội dư của những khả năng luận lý”, “chính là nguyên do của sự xuyên tạc chứng cớ minh bạch của giác quan” (Friedrich Nietzsche). Tuy nhiên, trực giác sẽ bén nhạy hơn, chuẩn xác hơn, quá trình “khảo cổ học tinh thần” sẽ thu được những “di chỉ” thực sự có ý nghĩa văn chương, thẩm mĩ khi nhà phê bình có một nền tảng văn hóa, lý luận sâu dày. Đọc lại Thi nhân Việt Nam chúng ta thấy rõ nền tảng mang tính khoa học để ấn tượng thăng hoa chính là những khảo nghiệm sâu sắc về cấu trúc lịch sử xã hội, quy luật giao lưu, tiếp biến và tích hợp văn hóa, các vấn đề thuộc về tiếu sử học, phong cách học, sự vận động và phát triển của trường phái, trào lưu, khuynh hướng văn học, sự chuyển biến của loại hình, thể loại thơ ca. Quan trọng hơn cả là tác giả Thi nhân Việt Nam phát hiện ra những thay đổi lớn lao trong tư duy và quan niệm thẩm mĩ của thế hệ các nhà thơ mới Việt Nam. Thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ ca chính là một hệ quả đúc kết từ sự tham chiếu một hiện tượng thơ ca vừa mới xuất hiện với nền thi ca truyền thống “trên mảnh đất ngàn năm không di dịch này”.

 

Bài tiểu luận xuất sắc: Một thời đại trong thi ca đã giải quyết vấn đề manh nha của thơ mới, sự hình thành, cuộc tranh chấp mới – cũ, các trào lưu khuynh hướng trong thơ mới, các nguồn ảnh hưởng và mức độ, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Nghĩa là những điểm quyết yếu khi nghiên cứu một thời đại văn học đã được hai tác giả này đề cập đến và cố gắng giải quyết trong những nỗ lực của bản thân mình. Ai đó cho rằng, thơ mới Việt Nam diễn ra trong vòng hơn mười năm(1932 - 1945) mà gói gọn một trăm năm thơ Pháp thế kỉ XIX là cách nói ví von để thấy được diễn biến mau lẹ của quá trình vận động văn học. Thực ra, Hoài Thanh, Hoài Chân đã lưu ý điều này từ ngay trong lòng thời đại thơ mới. Chúng tôi nhận thấy, những người nghiên cứu thơ mới sau các ông đều dường như không để ý đến việc: Thơ mới “là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát nhập đế quốc Pháp và, xa hơn nữa từ hồi Nguyễn Trịnh phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn thứ nhất mới đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ nảy nở thành thơ mới”. Có lẽ, suy nghĩ về nguồn gốc của thơ mới từ điều hai tác giả này đề cập đến không phải là quá xa xôi. Việt sử  xứ Đàng Trong (Phan Khoang) đã nói rất cụ thể về tình hình buôn bán và sự giao lưu thương mại của các thế lực phong kiến, các tập đoàn chính trị trên đất nước ta thời cát cứ Trịnh – Nguyễn với các công ty Đông Ấn của Hà Lan, Anh và Pháp, các thương gia của Nhật Bản và Trung Hoa,…cùng những tác động nhiều mặt của quá trình giao lưu này. Mầm mống của một đô thị mang dáng dấp phương Tây đã hình thành cùng với đó là sự biến chuyển của cấu trúc xã hội về tất cả các phương diện, trong đó đáng lưu ý là sự manh nha ra đời con người thị dân với cung cách sống khác con người truyền thống mang hồn cốt phương Đông. Tính chất cách mạng của Thơ mới phải được nhìn nhận từ sự trượt lui của điểm nhìn tới nguồn cội của nó thiết nghĩ là một tư duy khoa học triệt để của hai tác giả này.

 

            Thi nhân Việt Nam có phải là một lâu đài lung linh, tráng lệ được xây cất nên bởi trực giác mà không có nền móng ? Ta chợt nhớ đến câu chuyện thú vị của George Ohsawa trong cuốn sách nhỏ Hoa đạo: “quầng sáng vô hình của sự sống tuy tôi không cắt nghĩa được nhưng cảm thấy rõ ràng”. Ấn tượng là thứ linh quang bao trùm lên toàn bộ kiến trúc của Thi nhân Việt Nam, tỏa ra thứ hấp lực “vô hình của sự sống” như chính men say tỏa ra trên bước chân hoan lạc của thần Dionysos. Quầng sáng mờ tỏ xung quanh những bông hoa trong vườn là chất sống, sự sống mà mọi nỗ lực mang tính kĩ thuật của người họa sĩ không thể làm nổi hay chính họa sĩ đã không đủ trực giác để nhận ra. Trước khi C.Monet vẽ những bức tranh ấn tượng về sương mù thành London, ai cũng cho rằng sương mù nơi đây có màu xám. Sau khi những danh tác kia ra đời, người ta bỗng nhận ra sương mù đôi lúc có màu đỏ thắm tựa như những bức họa của Monet. Tương tự như vậy, sau khi Thi nhân Việt Nam ra đời, người ta nhận thấy “Một thời đại trong thi ca” đang hiện hữu với “một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Thi nhân Việt Nam). Sự khái quát mang dấu ấn phong cách học khi tiếp cận thế giới nghệ thuật của các nhà thơ mới của Hoài Thanh, Hoài Chân cho đến nay vẫn là một sự hướng đạo quan trọng đối với người nghiên cứu thơ mới (Dĩ nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nhiều hướng phê bình, nghiên cứu mới đang ngày càng chứng tỏ sự vận động hướng tới một quyển văn hóa đa thanh và Thi nhân Việt Nam là một giá trị bên cạnh những giá trị khác làm phong phú cuộc sống của chúng ta).

 

            Trở lại với vấn đề thơ ca và bản chất của sự sống. Những ấn tượng mang tính trực nhận chính là con đường khai sáng tứ thơ của thi sĩ. Nếu triết gia tìm đến bản chất của thế giới bằng con đường suy lí, sự trầm ngâm mặc tưởng trước những vấn đề cơ bản của tồn tại thì thi sĩ dường như đến với điều đó bằng đường thẳng- trực giác. Khi Hoài Thanh, Hoài Chân tuyên bố “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” (Một sự “thông tri” giữa nhà phê bình và tác phẩm, không đơn giản là sự áp đặt cảm xúc, ấn tượng của cá nhân nhà phê bình vào tác phẩm và tìm kiếm, “khảo cổ” những ấn tượng đã có sẵn ấy trong tác phẩm. Nhà phê bình tựa một dây đàn và những tín hiệu, những âm vang trong tác phẩm dội vào làm rung lên, cộng hưởng thành một tổng phổ hài hòa của “hồn ta” và “hồn người”) ta hiểu rằng họ đã tìm ra con đường mà theo họ đó là chính đạo để đến với thơ ca, đến với bản chất của thế giới. Con đường đó chúng tôi gọi một cách hình tượng là theo dấu chân Dionysos. Tạng của tác giả Thi nhân Việt Nam như nhiều người chỉ ra chỉ phù hợp với mĩ cảm lãng mạn. Trong quan niệm về tính “song cực” giữa Dionysos và Apollon, Friedrich Nietzsche cho rằng “Con người dionysien không thể không hiểu bất cứ sự dẫn khởi nào, hắn thủ đắc bản năng thấu cảm và tiên đoán cao độ, giống như hắn thủ đắc đến cao độ nghệ thuật thông tri với người khác vậy. Hắn biết thấu suốt bất cứ vỏ bao bọc nào, đi vào bất cứ cảm xúc nào,…”. Con người luôn mê say và hướng tới sự tự do trong tinh thần, trong cách luận giải của Nietzsche là một “người dionysien” (con người mang tinh thần Dionysos). Trong trạng thái ấy, con người sùng mộ Dionysos “làm giầu tất cả mọi sự bằng chính sự phong phú của mình: điều hắn nhìn, điều hắn muốn, người ta đều thấy nó căng phồng, chặt chẽ, mạnh mẽ, chất chứa sức mạnh. Con người trong trạng thái này biến đổi sự vật cho đến khi chúng phản chiếu sức mạnh của hắn - cho đến khi chúng trở thành những phản ảnh của sự hoàn hảo của hắn. Sự cưỡng bách, biến đổi thành cái hoàn hảo này - là nghệ thuật. Tất cả đối với con người này đều là nguồn hân hoan trào vọt phát xuất tự trong mình” (Friedrich Nietzsche). Có người đã đặt dấu chấm hỏi bên cạnh những xác quyết về giá trị của Thi nhân Việt Nam (Thậm chí Nguyễn Vỹ còn cho rằng đây là một cuốn sách “vô giá trị” – Về một bài trong quyển Thi nhân Việt Nam). Những hoài nghi nảy sinh từ ý nghĩ cho rằng Thi nhân Việt Nam sử dụng phương pháp phê bình ấn tượng vì thế nó chông chênh và mong manh như chính trực giác của con người. Họ đâu biết rằng, cái mong manh, mơ hồ ấy lại mới chính là nơi bản chất của sự sống được hiển lộ. Còn điều gì ý nghĩa hơn khi với chút thoáng mong manh ấy ta đã tiệm cận được với chân lý trên hành trình đầy trăn trở. Quả thực, tính chất “khai tâm” của phê bình ấn tượng chúng ta đã tìm thấy trong Thi nhân Việt Nam (Trong bài viết Đi tìm văn phong của Thi nhân Việt Nam, Văn Giá cho rằng phương pháp xúc cảm mang phẩm tính “khai tâm” còn thực chứng mang phẩm tính “khai sáng”).

 

Những ai đó hoài nghi về sự vững chãi của tòa “lâu đài kiến trúc hài hòa, đầy chất thơ”(Đỗ Đức Hiểu) Thi nhân Việt Nam dường như muốn khai tử những yếu tố “khai sáng” trong tác phẩm này. Nghiêng lệch về bên nào đều là dấu hiệu của một sự phiến diện: “…nếu mới chỉ thấy thi phẩm là một tiếng lòng, một điệu hồn không thôi, không đủ. Còn phải thấy văn bản như một kiến trúc ngôn từ. Mà lí tưởng nhất là phải thấy ra cái tiếng lòng ấy, điệu hồn ấy trong kiến trúc ngôn từ ấy như  một sinh thể. Vì vậy, người đi vào thơ không thể không đồng thời phát huy: vừa dùng hồn ta để hiểu hồn người, vừa phải nắm được cấu trúc thi phẩm” (Chu Văn Sơn). Một “sinh thể” nghĩa là một sự sống. Và như thế, những tách bạch “điệu hồn” và “cấu trúc” thiết nghĩ cũng chỉ là những phân chiết có tính chất thao tác luận. Tương tự như thế, bất kì một sự “khai tâm” nào cũng là một sự “khai sáng” và ngược lại. Vấn đề đặt ra ở đây là đâu là sinh lộ của thơ và công việc phê bình thơ? Phương pháp là con đường, là cách thức thực hiện công việc, hướng tới một mục đích nhất định. Trong ý nghĩ ấy, với thơ, phê bình ấn tượng tỏ ra có hiệu năng ưu việt hơn so với những phương pháp khác (Dĩ nhiên, quan điểm này không mang tính loại trừ những xác tín của các trường phái, chủ nghĩa và tính ưu việt của các phương pháp khác). Ấn tượng ở đây là sản phẩm của một sự thể nghiệm, nảy sinh trên nền tảng của vốn sống, vốn văn hóa, một kiến văn sâu rộng, sự thâm nhập vào tác phẩm và quan trọng đến mức quyết định chính là linh khiếu thấu cảm của người phê bình.

 

Mĩ cảm của tác giả Thi nhân Việt Nam dù chưa vươn tới “chân trời” của các thi sĩ tượng trưng như Bích Khê, Đinh Hùng hay chớm Siêu thực như Hàn Mặc Tử, nhưng trong vòm trời của Thi nhân Việt Nam, độc giả và những thế hệ đi sau đã được hít thở bầu dưỡng khí quen thuộc nuôi sống tinh thần con người nơi đây suốt hàng ngàn năm qua. Đó là tinh thần cộng cảm, duy linh, duy mĩ của con người phương Đông. Căn tính này tạo nên cơ chế lựa chọn và kiến thiết vùng thẩm mĩ tương thích. Dường như, ngay tại đó, trong những khả thủ của phương pháp ấn tượng đã ẩn chứa những bất khả khi chạm đến những giới hạn khác của nhận thức và tư duy. Thực thể duy linh, duy cảm phương Đông, mang phẩm tính là một hiện hữu của cái “chủ toàn” không phải là sự nhận dạng để loại trừ, để phân định lằn ranh phương Đông, phương Tây nữa. Mỗi phương pháp đều có sở trường và sở đoản của mình, và trong trường hợp phương pháp này bất lực, phương pháp khác lại thể hiện ưu năng vượt trội. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa, làm phẳng thế giới với chằng chịt những tương tác, tâm thế hoài nghi và giải trung tâm đã làm con người e dè hơn trong việc sùng tín bất kì một giá trị - một đại tự sự nào. Là một sinh thể, Thi nhân Việt Nam không thể đứng ngoài bối cảnh ấy của lịch sử.

 

            Thi nhân Việt Nam là một đỉnh cao của phê bình ấn tượng trong văn học Việt Nam. Giá trị và sức sống của danh tác này sẽ còn là câu chuyện dài mà chúng ta chưa thể nói hết trong ngày hôm nay. Ưu tính của tác phẩm và cả những hạn chế chính là những dự phóng quan trọng để phê bình văn học Việt Nam tiếp tục đi lên. Chính sự vận động của phê bình cũng phản ánh sự vận động của đời sống văn học. “Xét cho cùng, lịch sử văn học cũng như lịch sử phê bình văn học, là lịch sử của những cuộc phiêu lưu của sự đọc” (Phạm Vĩnh Cư).

                              ----------------------------------------------------------

 

Bài đã đăng Vănnghệ Trẻ

 

Các bài khác:
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU
· PHẠM XUÂN NGUYÊN - KHÓC CƯỜI VỚI 'CHUYỆN ĐỜI VỚ VẨN'
· KHÔNG THỂ CÓ THƠ HAY, NẾU KHÔNG CÓ SINH HOẠT THƠ LÀNH MẠNH
· LẠM BÀN VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY
· NHỮNG CUỘC DỊCH CHUYỂN TRONG “NGÀY LINH HƯƠNG NỞ SÁNG” CỦA ĐINH THỊ NHƯ THUÝ
· NHÀ BÁO HOÀNG HƯỜNG - '1 MÌNH 1 NGỰA' ĐI TÌM 'VỢ CHỒNG A PHỦ'
· NGÔN NGỮ VÀ CÚ PHÁP NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO
· CON NGƯỜI THƠ VÀ CON ĐƯỜNG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· CHÙM THƠ BIỂN
· CÂU CHUYỆN NHỎ TRONG ĐÊM KHÔNG NGỦ
· VẤN ĐỀ SẮC THÁI NAM BỘ TRONG THƠ VÀ TRƯỜNG CA THANH THẢO
· CHỦ NHÂN MỚI CỦA GIẢI NOBEL VĂN HỌC 2011
· “NHÓM LÊ QUÝ ĐÔN”: NHỮNG DỊCH GIẢ XUẤT SẮC
· THANH THẢO - TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI THƠ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC
· THẦN ĐỒNG THƠ NÓI VỀ 'THẦN ĐỒNG TIỂU THUYẾT'
· NHÀ THƠ CHIM TRẮNG: TÌNH TA RỒI CŨNG THẢ SÔNG THEO TÌNH

 

  
Gia đình Bích Khê