DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ÁM ẢNH TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG

 Bùi Thị Cẩm Nhung

Những hình ảnh quen thuộc của trời đất, vũ trụ như mưa nắng, gió lũ, trăng tròn trăng khuyết khi vào thơ ca Hoàng Trần Cương lại như mang linh hồn của xứ sở, của con người, có tính cách của hồn thiêng tổ tiên và của cả những quái vật cuồng nộ. Chúng hòa quyện với nhau tạo nên một thế giới thơ đầy ám ảnh, đầy biến chuyển và đầy sự cuốn hút.

 

Hình ảnh mưa nắng trong thơ Hoàng Trần Cương hiện lên đầy ám ảnh, nó như một nỗi ám ảnh từ trong tâm cảm của một thi nhân miền Trung.

Hình ảnh mưa với nhịp gõ dồn dập của định mệnh đã ám ảnh triền miên, thưa nhặt trong thơ Hoàng Trần Cương. Khao khát mưa, ngóng chờ mưa, chống chọi với mưa, đối chiếu với mưa và hoà nhập vào mưa như một sự tha hoá, một sự dấn thân, biết bao nhiêu cung bậc và hình hài khác nhau của một niềm ám ảnh khôn nguôi: “Thầm mong trở lại thời trai trẻ/ Chống nạnh chờ mưa giữa ngã  ba”(Miên man), “Chiều nay mây trắng lại qua cầu/ Và những cơn mưa không về nữa” (Mưa không mùa), “Về đâu rồi cơn mưa của một thời/ Dâng hoa trắng lên trời làm mây bạc” (Hoa mưa), “Quá khứ tốt tươi như bông hoa nở sau mùa cưới/ Cuống nhúng mưa dầm ngấm lạnh đêm đông” (Chớp xuân),… Thế giới đảo điên, khát vọng mưa biến thành niềm kinh hãi và kỷ niệm se lòng: “ Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến”, “Mưa xói trắng đỉnh đầu,/ Nước chảy đứt đuôi rắn/ Tấm liếp cửa kết bằng cọng chuối khô con rút dần nhóm lửa/ Gió thốc vào dáng mẹ đứng che mưa” (Trầm tích), “Tôi thua em dáng mẹ/ Khom mình che mưa rơi” (Tiếng ve vách đá), “Mưa lút mặt người/ Em là cơn mưa rưng rưng” (Mưa không mùa),…

Mưa ám trong thế giới thơ Hoàng Trần Cương như ma ám, dai dẳng, len lỏi và bất chợt. Mưa len vào cấu trúc mọi bài thơ, mưa thành thước đo quái quỷ với những kích tấc lớn lao và những kích tấc mong manh để cho tình yêu và số phận: “Em cơn mưa không tạnh/ Ngấm lạnh suối đời anh” (Cơn mưa không tạnh), “Em là cơn mưa của phố/ Cơn mưa bóng mây/ Dụi mắt là tắt đấy/ Bây giờ thia lia nơi nao?” (Mưa bóng mây). Mưa như có linh hồn tận hưởng những niềm vui cuối bầu trời tuyệt sắc: “Mưa giao hoan trong bảy sắc cầu vồng” (Chiều xuống).

Và cũng như mưa, nắng ám ảnh suốt trong thơ ca của Hoàng Trần Cương, như một hoài niệm. Hoài niệm về cái nắng gắt gao cau có của quê kiểng nghèo, con người trong thơ Hoàng Trần Cương dám đối diện với nắng mà nắng không buông tha “Ngẩng mặt nhìn trời xanh nhức mắt/ Dằng dặc dải làng quê thưa thắt” (Trầm tích). Ánh nắng trong thơ ca Hoàng Trần Cương chiếm lĩnh bởi buổi chiều: ánh nắng hoàng hôn. Có thể nói Hoàng Trần Cương là nhà thơ của hoàng hôn. Dường như anh trở nên thi sĩ nhất, tinh tế và tài hoa nhất khi viết về ánh nắng buổi hoàng hôn: “Nắng cuối ngày chín mọng/ Rụng xuống đồng trống trơn” (Bóng cỏ), “Ai giam được nắng chiều dừng bậu cửa” (Miền Nam), “Tấp hoàng hôn thành đống rấm cuối chiều (…)Ráng có biết yêu đâu sao cũng dùng dằng/ Xui hoàng hôn nấp vào mái phố” (Nói với em), “Kìa, nắng bỗng dưng bừng sắc lá/ Mây trắng tuôn về loãng hoàng hôn” (Chiều xanh), “Phải vì anh đến muộn/ Nên chiều buông mất rồi/ Nói điều chi dữ dội/ Ráng bập bùng khôn nguôi” (Đường chân trời), “Năm tháng vèo qua rát cả ráng chiều/ Ngày tròn tháng thiếu/ Những mặn nồng bỗng chốc phiêu diêu/ Có thắm lại trong hoàng hôn màu gấc” (Hoàng hôn màu gấc),…

Dùng dằng, phấp phỏng và quyến luyến, nắng chiều trong thơ Hoàng Trần Cương nhuốm đầy tiếc nuối trong cái nghi lễ huy hoàng của cuộc chia tay. Cái “bóng tà như giục cơn buồn” trong thơ Nguyễn Du hay cái “nắng chiều không thắm không vàng vọt” trong thơ Thâm Tâm đều chỉ là kẻ tham dự vào cuộc chia ly của con người. Ánh hoàng hôn trong thơ Hoàng Trần Cương chính là kẻ được nhà thơ đưa tiễn: “Nắng cũng biết già đến thế Lân ơi/ Hoàng hôn đại ngàn dìu nhau về núi” (Chùm thơ chưa hái). Một cuộc tiễn đưa nhuốm màu huyền thoại và đầy nghịch lý - nghịch lý ở cái xốn xang quyến luyến của thi nhân trong giây phút chia tay với cái nắng định mệnh, cái nắng nghiệt ngã của quê hương. Cái nắng từng được nhà thơ trình bày trong bộ mặt kẻ ác: “Mỗi sáng nhìn lên/ Thấy nắng như mặt người cau có/ Tự đốt mình ốm o vàng võ/ Nhả tro tàn/ Lả tả hoàng hôn” (Những chiếc lá của trời). Cái nắng đầy quyền uy: “Vết đi của thời gian phủ hoàng hôn lên trán” (Cơn mưa không tạnh), “Những vết khắc mang hoàng bào của nắng” (Luỹ tre làng) của quy luật thờ gian. Hoàng hôn trong thơ Hoàng Trần Cương bừng lên niềm hân hoan của thi nhân trong cái khoảnh khắc quyền uy kia sụp đổ. Thi nhân đã làm những cuộc chia tay thơ mộng với cái nắng quái ác. Hoàng hôn là bóng nắng trước ngưỡng cửa của hư vô, trở thành tín hiệu của hạnh phúc, tự do và giải phóng:“Khi nắng nguội lưng trời lơ lửng khói/ Em khảm vào lòng/ Quà tặng của hành tinh” (Quà tặng hành tinh), “Nắng lụi rồi, sắc đỏ sẽ phiêu diêu” (Lá). Làm sao một ánh nắng chiều có thể thấm đẫm những khát vọng, âu lo và day dứt như vậy, mang đầy dự cảm hạnh phúc như vậy nếu đó không phải là hiện thân nỗi ám ảnh của quê hương trong vô thức của nhà thơ?

Trong cái thế giới nắng ám và mưa ám ấy, con người thon thót lo âu và luẩn quẩn trong trò ú tim của bầu trời, trong cái ảo thuật của thiên nhiên: “Mưa là trăng của ngày”, “Trăng là mưa của đêm”, “Nắng ngâm mình trong mưa”, “đêm âm thầm vùi nắng vào trăng”, “mưa bay, để nắng lặn vào mắt trong”. Và con người cũng bị nhiễm, bị lây cái tính phù thuỷ ấy: “Anh gạt mù sa ra vớt nắng/ Vô tình trăng nhú đầu tay” (Đêm Tây Nguyên). Thế rồi, cuối cùng con người bị nắng mưa đan dệt vào nhân cách và trở thành số phận những chiếc lá: “Buồn xo những cơn mưa/ Xanh um cây cỏ/ Ngỏ tình với trăng/ Lột mình trong nắng/ Cũng chỉ bằng phận lá mà thôi” (Những chiếc lá của trời).

Những ám ảnh của nắng mưa miền Trung khắc nghiệt đã hoà trộn vào nhau làm nên cái ám ảnh về thân phận con người trong cái bất trắc, cuồng nộ của thiên nhiên. Hình ảnh mưa và nắng góp phần làm nên thế giới thơ nhiều ám ảnh của Hoàng Trần Cương.

Không thể không nói đến những cơn gió khi nói về trời đất miền Trung. Ai đã từng đến miền Trung vào mùa hè mới hiểu cái gió ở đây nó khắc nghiệt đến mức nào. Có lẽ chính vì thế, Hoàng Trần Cương - người con miền Trung ấy cứ mãi suy tư về gió, gió trùm phủ cả thời gian và không gian: “Gió không thức với ngày/ Gió không ngủ cùng đêm/ Gió ở trên cao, gió sà xuống thấp/ Gió quanh mình và gió bủa rất xa” (Gió), anh cảm nhận được hương thơm của gió Gió bỗng rộm vàng thơm mùi nắng” (Hơi ấm ban ngày), gió như những bụi trần trong đời ma nhà thơ đã trải qua: “Tuổi mình thắm đến bao nhiêu/ Ta bây giờ đã ít nhiều heo may” (Hoàng hôn xanh), gió là những hoài niệm về những khốc liệt của một thời giặc giã: “Bỗng rưng rưng anh nhớ cánh rừng già/ Nhớ cơn gió thổi suốt mùa giặc giã/ Phút trúng đạn bạn rùng mình hoá đá/ Là lúc gió về mốc trắng chân mây...” (Gió), “Rời nghĩa trang/ Tôi lật đật về nhà/ Thấy mây trắng bay ngang/ Bỗng dưng lòng bật khóc/ Trong đầu lựng ngọn gió ngày xưa” (Trước nghĩa trang Trường Sơn), gió xoáy vào tâm hồn nhà thơ khi anh về thăm phố nhà binh đầy kỉ niệm: “Ngọn gió khuya âm thầm phủi bụi(…)/ Không có ngọn gió nào đi lạc về đây(…)/ Gió hướng nào cũng thấy mấp mô” (Đêm ở phố nhà binh). Ấn tượng trong thơ anh không phải là ngọn gió mang mát lành cho không gian, cho cuộc sống mà là ngọn gió xoáy của cuộc đời, và đăc biệt hơn nữa đó là ngọn gió của miền Trung mà ai cũng có thể gọi tên là gió Lào, cát bỏng, gắt gay và khô khốc.

Thiên nhiên “hào phóng ban tặng” cho mảnh đất này là những cồn cát bạt ngàn và những cơn gió Lào thổi héo quắt cỏ cây. Khi Nguyễn Duy nhắc về gió Lào thì thứ gió đó và con người vẫn chưa ăn vặn vào nhau để tạo thành thứ gió đặc trưng của miền Trung “Gió rờn rợn một mùa hè ám ảnh/ Cát trắng xèo từng giọt đỏ tươi” (Nguyễn Duy). Gió trong thơ Nguyễn Duy không còn là một hiện tượng của tự nhiên, thiên nhiên mà là hiện tượng phức tạp của xã hội, cũng hỗn mang quay cuồng, nhiều kiểu gió, nhiều luồng gió. Vì vậy đặc trưng, tính chất của gió trong thơ Nguyễn Duy không thể gọi tên cụ thể: “Ngọn gió hoang chếnh choáng hơi người/ Gió trăm chiều giấc ngủ sao yên” (Nguyễn Duy). Trong tập thơ “Gió Lào cát trắng”, Xuân Quỳnh cũng nhắc đến những đặc sản của miền Trung, là gió Lào và cát trắng: “Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ/ Cát khô cằn ở mãi hoá yêu thương” (Xuân Quỳnh). Những người con miền Trung vẫn luôn hướng về đất mẹ với một nổi niềm ưu ái. Gió Lào, cát trắng trong thơ Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy không gắn liền với một số phận cụ thể nào. Các nhà thơ đã nâng tầm khái quát của những hình ảnh đó lên cao. Nhắc tới miền Trung ai ai cũng nhớ tới gió Lào, cát trắng, mưa lũ và nắng lửa nhưng để chỉ ra được tính chất, mức độ của gió của nắng của mưa lũ miền Trung thì không phải ai cũng có thể làm được. Chỉ có Hoàng Trần Cương mới lột tả hết được đặc tính của gió Lào, của nắng lửa, của mưa lũ miền Trung, của xứ Nghệ. Anh đã chọn cho mình một cách nói rất riêng về quê hương, miền quê luôn phải hứng chịu những đợt gió Lào bỏng rát, bỏng rát ở gan bàn chân rồi len lỏi vào tận tâm tư. Vậy nên miền Trung như chiếc đòn gánh oằn trên tay mẹ, suốt đời khốn khó gánh trọn hai đầu đất nước. “Ôi quê hương cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước/ Gió bão thù chi với mãnh đất này/ Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen xì ngoài biển” (Trầm tích),  khốn khó bởi nắng hạn, gió chướng và bão lũ điên cuồng. Đúng như nhà thơ Thanh Thảo tâm sự: “Khí hậu miền Trung, tuy đã biết mùa nào là nắng hạn, mùa nào mưa lụt, bão tố, nhưng rồi mọi cái đều xảy ra rất bất ngờ. Tiềm ẩn những bất ngờ, đó là khí hậu miền Trung. Khí hậu ấy không thể không ảnh hưởng đến... thơ miền Trung” [6,tr.288] mà Hoàng Trần Cương là một tiêu biểu.

Gió Lào, gió Lào ám ảnh miền Trung, gió Lào là hồn cốt của đất này, gió nóng, gió dai dẳng, gió dồn dập “Cơn gió nào áo xống phong phanh/ Cơn gió nào đi đêm không lạc/ Cơn gió nào thổi quay thổi rát/ Cơn gió nào cào lửa vào đêm. Gió Lào/ Gió Lào/ Gió Lào” (Trầm tích), gió sắc lẹm và quyết liệt, ngọn gió đầy uy dũng: “Gió vót đọt tranh lia ngàn mũi mác/ Chọc qua vỉa đá/ Tìm trời...” (Chân dung), gió như một quái vật kiêu hùng và dữ dội: “Ngọn gió tự cào cấu mình đau điếng trong nỗi tị hiềm khoảng trống với dòng sông/ Ngọn gió di cư suốt đêm ngày phồng mang trợn mắt xỏa hơi nóng dọa già dọa non vênh vênh váo váo” (Long mạch).

Ngọn gió Lào thổi ngang qua miền Trung và chạy dọc trong thơ Hoàng Trần Cương. Nó thổi suốt cuộc đời của mỗi con người miền Trung từ lúc mới sinh ra: “Tôi lấm láp đáp mình vào đất/ Gió Lào mặc cho tôi chiếc áo màu nâu” (Trầm tích); đến cả quảng đời trưởng thành làm lụng trong gian nan khó nhọc, khi mà cơn gió “thổi cay thổi rát”, “cào lửa vào đêm“thổi khô cả nước mắm mẹ giấu biệt trong buồng”; và ngọn gió cũng theo người về bên kia cuộc đời khi “cơn gió hoang loạng choạng cổng làng/ Thấp thoáng bóng âm hồn phiêu lãng/ Mờ xanh/ Mờ xanh/ Sửa soạn lại dáng hình” (Trầm tích). Gió không chỉ hằn lên dáng hình người Nghệ mà còn thấm sâu vào giọng nói, điệu cười, điệu hát, vào thẳm sâu tâm hồn con người. Giọng nói thì “oang oang” mang theo cả gió, câu hát thì “Nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát/ Đến câu hát cũng hai lần sàng lại/ Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm” (Miền Trung), và con người miền Trung luôn mang “hơi nóng” của gió Lào trong huyết mạch của mình, gió Lào ăn sâu vào tính cách người miền Trung: “Ngọn gió trốn vào người dân xứ này tự thuở nào mà trong máu ai cũng nghi nghút một luồng hơi nóng/ Ngọn gió hút đẫm mình sinh khí đất đai thành tín hiệu cho những người xa quê hễ gặp lại nhau là vui buồn chầm vập” (Long mạch)... Tính cách nóng nảy, chầm vập và dữ dội ấy suy cho cùng là do đất mẹ sinh thành, sống với gió Lào từ nhỏ, da thì mặc chiếc áo màu nâu, “quệt móng tay vào là bong như vẩy cá”, mắt mẹ thì mưng mưng gió, mặt người thì nhàu sương gió. Dựng được chân dung và tính cách người miền Trung nhờ ngọn gió, Hoàng Trần Cương đã khá cao tay trong việc chọn những chi tiết đắc địa. Anh không tham lam và cũng không quá sa vào sự vụn vặt bạ đâu tả đấy, mà để ngọn gió “đặc sản” miền Trung “đậu” đúng nơi đúng chỗ đắt nhất, dựng nên được chân dung con người không lẫn vào vùng miền nào đã đành, mà nó còn cho chúng ta như sờ thấy được, hình dung ra được, cảm thấy được...

Bên cạnh hình ảnh gió là hình ảnh những con nước và cơn lũ đầy ám ảnh của miền Trung. Nước hiện ra trong thơ Hoàng Trần Cương mới đọc qua tưởng ngẫu nhiên, song đọc kỹ chúng tôi thấy anh có một chủ ý hết sức rõ rệt. Anh tả nước, viết về nước là để tạo dưng tính cách, chân dung con người xứ Nghệ. Nước và nhà thơ “gặp nhau” ngay từ khi anh cất tiếng khóc chào đời: “Bữa tôi chào đời trời rạch chớp xanh/ Nước sông Lam đã trèo vào cổng/ Treo vội con lên chạn/ Mẹ xắn quần đi giằng lại cái sanh đồng sứt quai/ Theo nước lũ nhoai ra ngoài ngõ” (Trầm tích). Nước lại dâng lên trong ngày nhà thơ trở thành người lính lên đường đánh giặc: “Bữa con xa nhà trời xối xả mưa/ Quanh mâm cơm chia tay cả nhà ngồi xổm/ Nước ngoài sân tràn vào lênh láng” (Trầm tích). Ngay cả Thành Hoàng làng cũng được sinh ra từ nước. Đó là một cậu bé chết trôi:“Dạt vào bãi sông màu lũ nổi/ Sau ba ngày mối xông/ Sau trăm ngày em thành người muôn tuổi” (Trầm tích).

   Như vậy nước đã sinh thành tính cách xứ Nghệ với hai cung bậc chính giống như đặc tính của nó ở miền Trung. Cuồng nhiệt xiết chảy đục ngầu phù sa và lắng xanh êm dịu tuỳ theo mùa.  Đó là dòng nước cuộn chảy cuồng nhiệt, dâng cao ngập lút mọi thứ rất nhanh: “Lũ lụt phang lũy thành(…)/ Nước lũ ngồi chóc ngóc trên nóc nhà” (Long mạch). Nhưng cũng có dòng nước thứ hai êm dịu, xanh mát đẫm lòng như người con gái mới lớn: “Vệt sóng hóa thành suối tóc/ Mọc màu xanh lam/ Rập rờn gọi gió” (Long mạch) hay mịn màng óng ả “Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa/ Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam” (Miền Trung). Nhưng ám ảnh trong thơ anh vẫn là “có đống bão giông đang tích điện đợi ngày dâng hồng thủy”, con sông cứ chực chờ “nổi điên lên” như một bệnh nhân đang trong cơn khó chịu: “Sông cảm lạnh/ Sóng rùng mình/ Suốt ngày ho khúc khắc(…)/ Mùa nước lên sóng đỏ ngà ngà/ Gió hú váng sông dọn đường cho trâu trắng” (Long mạch) – nước cùng với gió hú vang lên dọn đường cho loài “thủy ngư mặt sắt” là “trâu trắng”, “Lũ thủy quái rùng rùng lao về trong mùa nước bạc/ Hóa thân thành giông lũ/ Tàng hình xuống vực sâu/ Trổ sừng lên đầu sóng/ Rầm rập xô bờ/ Đỏ mọng toàn thân” (Long mạch), nước sông lúc thì nằm mơ “Nửa đêm sóng cười trắng xóa/ Hình như bến bờ đau đẻ/ Khoắt khuya đất vật ùm ùm” (Trầm tích). Dòng sông Lam đã sinh ra tính cách người miền Trung, xứ Nghệ cũng như tính cách Hoàng Trần Cương lúc thì phóng khoáng, ngang tàng, tung hoành lúc thì dịu êm lả lướt đến say hồn.

 Trong vũ trụ thơ đầy ám ảnh Hoàng Trần Cương, có thể nói hình ảnh “trăng” như một cái gì hiền hòa nhất. “Trăng” cũng trở nên gắn bó tâm linh cùng hồn thơ Hoàng Trần Cương. Nhắc đến “trăng”, nhà thơ thường nhắc đến “quầng trăng”, “trăng non đầu tháng”, “mảnh trăng liềm”, “bóng trăng non”. “Quầng trăng” ám ảnh Hoàng Trần Cương bởi “quầng trăng” tượng trưng cho hình ảnh quê hương mưa nắng ngặt nghèo: “Vệt lúa rìa làng quệt vào ngọn khói/ Giục trăng lưỡi liềm đi gặt sáng đêm” (Sông Đuống). Nỗi nhớ quê cứ trằn lên trong ông vào những đêm không ngủ ở chiến trường khói lửa: “Nhìn quầng trăng lại nhớ mảnh quê gầy”, “Gặp trăng thâm quầng đứng khóc cạn đêm” (Trầm tích).

“Trăng” luôn có một ma lực níu kéo nhà thơ gần với quê hương, với tuổi thơ Chiều đứng lặng nghe tiếng người cuối bãi/ Trăng lại treo mơ mộng trước hiên nhà...” (Dấu vết tháng ngày), “Tiếng bãi dâu rũ nước đợi trăng ngần”, “Lũ trẻ bò toài lổm nhổm cùng trăng”, “Xin mẹ đừng trách con thằng con trai ngỗ nghịch/ Cứ hong hóng chờ trăng lên là vọt ra đường” (Trầm tích). Dù cho là “trăng” lên vào mùa nắng hạn hay mùa mưa lũ, dù cho hình ảnh “trăng” chưa tròn đầy nhưng dưới cái nhìn trẻ thơ “trăng” cũng trong sáng và đẹp: “Mây buông mảnh trăng liềm/ Bát ngô dăm,/ Độn ánh trăng vàng,/ Lăn mình trên cát” (Trầm tích). “Trăng” gắn bó với bà với mẹ “Trăng đầu tháng đỏ ngầu/ Như cái bã trầu ai nhè trên đỉnh núi” (Trầm tích). “Trăng” chứng kiến lần đầu tiên cha mẹ hẹn hò, rồi “trăng” cũng làm cầu nối trong tình yêu của anh và em: “Ôi! Vầng trăng/ -Trái tim của đêm thầm thì trên ngực/ Nói hộ bao điều anh chưa tỏ cùng em...” (Trái tim đêm), niềm vui trong tình yêu là từ “trăng” xuống: “Tối nào phố lựng hương cây/ Và em như từ trăng xuống” (Mây trắng), niềm an ủi trong tình yêu cũng từ “trăng”: “Em không về/ Thương tôi trăng lên...” (Nhớ từ biển), sự ấm áp trong tâm hồn cũng đến từ mảnh “trăng non”: “Chỉ còn đêm nay biết lấy gì trú lạnh/ Khi bóng trăng non cỏ cũng đó mướn rồi” (Mướn trăng). Nhà thơ như thể là tâm tình với trăng với cỏ, và “trăng” như là người bạn biết cười duyên, biết nhớ nhà: “Bóng trăng cười duyên(…)/ Trăng khuya nhớ nhà/ Nửa đường vụt biến/ Thương đêm trời rải sao xa” (Long mạch), ấy là liên tưởng độc đáo của nhà thơ, một hồn thơ khát khao giao hòa với thiên nhiên khi miêu tả hiện tượng tự nhiên trăng lặn đi hàng tháng.

“Trăng” đi cùng tháng năm, soi dọi ánh sáng để nhà thơ đi qua từng tầng trầm tích. “Trăng” biểu trưng cho hồn quê, hồn làng, cho sự gắn kết giữa con người và thế giới thiên thiên.

Những hình ảnh của trời đất, vũ trụ đi vào thơ ca của Hoàng trần Cương thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật cũng như những nỗi ám ảnh và cả khao khát giao cảm với vũ trụ, thiên nhiên của nhà thơ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Hoàng Trần Cương (1992), Dấu vết tháng ngày, Nxb Hội nhà văn.

2.      Hoàng Trần Cương (1999), Trầm tích, Nxb Hội nhà văn.

3.      Hoàng Trần Cương (1999), Quà Tặng hành tinh, Nxb Hội nhà văn.

4.      Hoàng Trần Cương (2004), “Long mạch”, Thời báo Tài chính Việt Nam, số 105+106, 12.

5.      Nhiều tác giả (1985), Thơ Việt Nam 1945 – 1985, Nxb Văn học, Hà Nội.

6.      Thanh Thảo (2004),  Mãi mãi là bí mật, Nxb Lao động, Hà Nội.

 

 

Các bài khác:
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NỖI BUỒN SAU ÁNH HÀO QUANG
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG QUAN NIỆM THƠ CA ĐỘC ĐÁO
· PHÊ BÌNH ẤN TƯỢNG - KINH NGHIỆM CỦA CẢM GIÁC
· ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM
· TRẦN ĐÌNH SỬ VÀ THI PHÁP HỌC
· TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU
· PHẠM XUÂN NGUYÊN - KHÓC CƯỜI VỚI 'CHUYỆN ĐỜI VỚ VẨN'
· KHÔNG THỂ CÓ THƠ HAY, NẾU KHÔNG CÓ SINH HOẠT THƠ LÀNH MẠNH
· LẠM BÀN VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY
· NHỮNG CUỘC DỊCH CHUYỂN TRONG “NGÀY LINH HƯƠNG NỞ SÁNG” CỦA ĐINH THỊ NHƯ THUÝ
· NHÀ BÁO HOÀNG HƯỜNG - '1 MÌNH 1 NGỰA' ĐI TÌM 'VỢ CHỒNG A PHỦ'
· NGÔN NGỮ VÀ CÚ PHÁP NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO
· CON NGƯỜI THƠ VÀ CON ĐƯỜNG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· CHÙM THƠ BIỂN
· CÂU CHUYỆN NHỎ TRONG ĐÊM KHÔNG NGỦ

 

  
Gia đình Bích Khê