DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐỂ BƯỚC VÀO NGÔI ĐẾN CỔ KÍNH CỦA TIỀN NHÂN

                                                                   Dương Kim Thoa

 

Tháng 9 năm 2011, nhà thơ Vương Trọng trình làng bản dịch lại tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của tác gia Đặng Trần Côn theo thể thơ lục bát. Nhiều người thấy đôi chút bất ngờ và thú vị, bởi lâu nay, trong quan niệm của nhiều bạn yêu văn chương, tác phẩm gối đầu giường của nhà thơ xứ Nghệ này là Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Cái tên Vương Trọng đã trở thành một thương hiệu trong giới những người quan tâm và nghiên cứu về Truyện Kiều trong suốt mấy chục năm qua. Tuy nhiên, “sự kiện” (có thể gọi một cách vui vui như vậy) ông cho trình làng bản dịch lại Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn ở tuổi 69 đã khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn về một khía cạnh khác, đó là minh chứng rõ rệt cho thấy, ông cũng như rất nhiều những người cầm bút đầy ý thức khác hôm nay, vẫn đang đọc trước tác của cổ nhân với một tinh thần học hỏi, cầu thị, và chắc chắn, cả với niềm ham thích được thưởng thức những áng văn chương xưa như thứ rượu lâu năm đằm sâu hương vị.


 

Có thể nói Vương Trọng bước vào làng văn với tư cách là một nhà thơ hiện đại, và nhiều năm qua, ông vẫn tiếp tục khẳng định mình trong tư cách và vị thế ấy. Kể cả giải thưởng nhà nước năm 2007 trao cho ông cũng là để ghi nhận những đóng góp quan trọng của ông trong nền thi ca hiện đại Việt Nam với các tập thơ Về thôi nàng Vọng Phu, Đảo chìm, Ngoảnh lạiMèo đi câu. Nhưng ngoài tất cả những điều đó, ông còn có một phần riêng, một thế giới riêng, một vùng trời văn chương riêng để trổ tài thao lược, đó là tìm hiểu, nghiên cứu và truyền cảm hứng tới nhiều thế hệ độc giả về các tác phẩm văn học cổ điển. Nhà thơ cho biết, ông rất yêu văn chương cổ điển bởi lẽ, theo ông, những gì còn lại của văn chương sau một thời gian thử thách khắc nghiệt vài trăm năm chính là những gì đáng đọc nhất. Và thứ nữa, trong quan niệm của một người sáng tác, nhà thơ luôn cho rằng, dù ai đó có muốn tìm tòi, muốn cách tân trên bất cứ phương diện nội dung hay hình thức, nếu không biết dựa trên nền tảng văn chương xưa của cha ông thì sự tìm tòi đó cũng chẳng khác gì một cái cây không có gốc. Bởi rõ ràng, trước khi muốn đổi mới, người ta phải biết cái cũ là gì đã chứ. Nếu không biết cái cũ, không tường tận cái đã có, thì lắm khi, viết lại một điều đã mòn sáo trong văn chương xưa song lại cứ tưởng mình đang khai phá một miền đất lạ thì quả thực, chẳng có gì đáng buồn và đáng thương hơn. Người ta vẫn nói, tuổi trẻ thì có nhiều ưu thế, nhưng trong đời sống văn chương, sinh sau liệu đã hẳn là một ưu thế thực sự không? Văn chương luôn là những câu chuyện muôn đời của con người, vậy ai dám bảo, người xưa không phải đối mặt những vấn đề mà người nay đang phải đương đầu? Có lẽ vì thế mà trong một lần Tản mạn về thơ, ông đã viết những câu như thế này:

 

... Ta đứng trên vai những vĩ nhân đi trước

Đó là lời của các nhà khoa học

Với nhà thơ, chẳng ai công kênh ai

Đỉnh quá khứ mãi còn sừng sững phía tương lai...

 

Nói thế để thấy rằng, với Vương Trọng, các nhà thơ lớn trong nền văn học cổ điển của dân tộc không chỉ là những cái “đỉnh” của nền văn học quá khứ, mà sẽ tiếp tục là những cái “đỉnh” trong sự phát triển đi lên của nền văn học dân tộc trong tương lai. Có thể nói, ý thức trân trọng vốn cổ của nhà thơ không phải đã có ngay từ khi ông còn rất nhỏ. Tuy nhiên, chính môi trường gia đình đã là nền tảng ban đầu vô cùng quan trọng để nuôi dưỡng và định hình rõ ràng hơn ý thức đó. Từ thuở lớp một lớp hai, Vương Trọng đã học thuộc lòng Truyện Kiều, thuộc lòng bản dịch Chinh phụ ngâm của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, rồi không những thế, ông còn thuộc cả bản nguyên tác chữ Hán của tác gia Đặng Trần Côn, dù khi đó, tất nhiên, ông chưa hiểu chữ Hán là gì.  Cho tới bây giờ, khi đã gần bước sang tuổi thất thập, ký ức của nhà thơ xứ Nghệ này vẫn ngập tràn những câu thơ chữ Hán đầy nhạc điệu của Chinh phụ ngâm khúc. Ông vẫn còn nhớ y nguyên cái ý nghĩ rất ngây thơ thuở ấy khi đọc bản nguyên tác Hán văn này, khi đó, ông không còn thấy mình là một cậu bé nữa, ông đã trở thành một người có học vấn thật uyên thâm. Và đó là lý do mà cho tới tận bây giờ, ông vẫn còn nhớ và có thể đọc liên tục vài trang chữ Hán của Chinh phụ ngâm khúc.

 

Cũng giống như bao tác phẩm văn học kinh điển khác trên thế giới, việc hiểu và thấu suốt đến mức tường tận các tác phẩm văn chương của người xưa trong ngày một ngày hai rõ ràng là điều không tưởng. Với Vương Trọng, khi thời gian qua đi, khi mái tóc trên đầu bắt đầu đòi hỏi ông dành cho nó một mối quan tâm tối thiểu (dù chỉ là cực chẳng đã), thì càng ngày, ông càng nhận ra những lớp nghĩa thẳm sâu mà người xưa đã gói ghém đầy tinh tế trong những tác phẩm ấy. Vậy là ông quyết định mình cần phải học thêm để hiểu thêm nữa người xưa thông qua việc dịch lại các tác phẩm kinh điển. Không biết có chủ quan không khi cho rằng tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du do ông tuyển chọn và dịch lại vài năm về trước hẳn là dấu mốc đầu tiên trong hành trình dịch lại người xưa để học hỏi của ông, để bây giờ ta lại có dấu mốc tiếp theo với bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn... Nhà thơ quan niệm, biết ngoại ngữ để đọc một tác phẩm nào đó đủ cho mình hiểu và lĩnh hội thì không khó, nhưng biết ngoại ngữ tới mức để chuyển ngữ, để dịch một tác phẩm nào đó và để cho những người khác cũng hiểu được là một cấp độ hoàn toàn khác biệt. Chọn con đường khúc khuỷu và nhiều trúc trắc hơn là dịch lại các tác phẩm Hán văn của người xưa, chính là cách ông bắt mình phải vượt qua cấp độ hiểu “cầm chừng” nào đó về một tác phẩm. Ông bắt mình phải đắm mình vào chính môi trường ngôn ngữ của người xưa, thông qua tác phẩm, để từ đó, cố gắng hiểu hơn những gì cha ông mình đã từng suy ngẫm, đã từng cảm xúc. Và cũng chính trong khi dịch đó, ông đã nhận ra, có những điều trước đây ông tưởng mình đã tường minh nó tới tận gốc rễ, nhưng hóa ra không hẳn thế. Và khi hiểu ra được một điều gì đó mới mẻ về những tác phẩm cổ điển, trong ông, niềm hạnh phúc cũng chẳng khác gì làm được một bài thơ hay...

 

Dịch lại các tác phẩm văn học cổ, với Vương Trọng, đã trở thành cách học tập cổ nhân một cách nghiêm túc nhất, đem lại nhiều kiến thức và cả nhiều niềm thỏa thích về mặt trí tuệ hơn cả. Cũng bởi thế nên, chỉ khi bắt tay vào dịch Chinh phụ ngâm, ông mới biết được phần nào cách mà nữ sĩ họ Đoàn ngày xưa đã dịch. Cách bà thêm chữ, bớt câu, quan niệm của bà trong việc nhấn mạnh nội dung này mà giảm nhẹ nội dung kia. Chẳng hạn như khi Hồng Hà nữ sĩ dịch “Nước thanh bình ba trăm năm cũ – áo nhung trao quan vũ từ đây”, theo ông, vì quá chú trọng tới nhịp thơ và vần điệu mà bà Đoàn đã dùng ép chữ “cũ” ở đây. Chữ “cũ” đó không thể nói thật rõ ràng với người đọc cái ý, kể từ khi người võ tướng khoác lên mình tấm áo nhung y thì đã chấm dứt ba trăm năm hòa bình của đất nước. Vậy nên khi chuyển dịch sau này, ông đã chuyển ý hai câu đó theo cách của mình là “áo nhung quan võ khoác lên - Hết ba thế kỷ ấm êm, thanh bình”.

 

Với Vương Trọng, dường như, tất cả những điều ông đã học được từ cổ nhân đều đã được vận dụng một cách đầy ý thức trong sáng tác, và tất nhiên, có cả những ảnh hưởng rất vô thức, như một sự thấm nhuần tự nhiên những giá trị nghệ thuật của người đi trước. Còn nhớ có lần ông chia sẻ về những điều mình học được từ nghệ thuật làm thơ lục bát của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nếu ai đã từng gặp Vương Trọng ắt đều rất ấn tượng bởi khả năng xuất khẩu thành… lục bát của ông. Chỉ cần có ý tưởng thôi thì việc vận lục bát thành thơ với ông không còn là điều khó nhọc. Có được khả năng ấy là bởi, ngay trong cuộc sống hàng ngày, ông vẫn thường có thú chơi đặt lục bát trong những tình huống diễn ra xung quanh, khi chơi với cháu, khi đánh cờ cùng bè bạn, khi dạo bộ một mình trong công viên,v.v. Và còn là bởi, ông đã rất tâm đắc với những nét tài tình trong quan niệm về thơ, về vần, về thủ pháp đối, và đặc biệt, là nghệ thuật nén chữ trong thơ lục bát của thi sĩ làng Tiên Điền. Nhà thơ cho rằng, ở thể thơ tự do, khi muốn diễn tả nhiều ý, người ta có thể vận câu dài, còn khi muốn diễn tả một ý thì người ta dùng câu ngắn. Nhưng với lục bát, dù ý ngắn hay dài thì người ta cũng chỉ có 14 chữ mà thôi, chỉ 14 chữ để người làm thơ tả xung hữu đột. Thế nên ông mới ví von rất thú vị, nếu việc sắp chữ, dồn ý trong thơ tự do giống như cách xếp đồ trong túi vải thì việc nén chữ, dồn câu trong thơ lục bát lại là cách xếp đồ trong thùng cát-tông. Túi vải thì chỗ nào to nó phồng lên, chỗ nào nhỏ, nó hẹp lại, còn thùng cát-tông thì khác, nó không co giãn linh hoạt được như thế, nếu không xếp khéo thì đồ ít vẫn chật mà nếu biết sắp đặt, nhiều đồ vẫn có thể xếp vừa vặn, đủ đầy. Và theo ông, cụ Nguyễn Du chính là một bậc kỳ tài trong khả năng gói ghém ý tứ trong một câu thơ lục bát. Có thể thấy rõ điều này qua cặp lục bát: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân – Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung”. Sau này, khi viết bài thơ Bên mộ cụ Nguyễn Du, Vương Trọng đã học được cách “nén ý” đó trong câu thơ “Ngửng trời cao, cúi đất dầy – Cắn môi tay nắm bàn tay của mình”. Và thế là, cũng chỉ với câu lục “Ngửng trời cao, cúi đất dày”, nhà thơ đã nói được trọn vẹn những xúc cảm của mình khi đứng trước ngôi mộ của người thi sĩ tài hoa thế kỷ 18.

 

Tuy nhiên, ta cũng thấy, nếu ai cũng muốn học cổ nhân theo cách của Vương Trọng thì e, nếu không chán ngán thì cũng sẽ nửa đường đứt gánh với cổ nhân, bởi chữ Hán đâu phải là thứ ngoại ngữ cứ muốn học là học được. Ngay cả các vị cha đạo của Pháp ngày xưa, khi sang nước ta cũng phải thừa nhận, học chữ Hán nhọc nhằn vô kể. Vậy thì với những thế hệ độc giả hôm nay, phải đọc và học cổ nhân như thế nào đây khi không phải ai cũng có một vốn Hán văn cũng như kiến thức nền tảng, dẫu chỉ đủ để biết cầm một văn bản nguyên tác không bị ngược? Đã từng tham gia chấm thi cho các học viên của lớp Viết văn Nguyễn Du, Vương Trọng không khỏi cảm thấy băn khoăn khi có những học viên không thể đọc nổi một đoạn Kiều, một đoạn Chinh phụ ngâm hay Cung oán ngâm khúc khi được yêu cầu. Mà những học viên này, ở một chừng mực nào đó, đã có thể coi là những người có sự gắn bó ít nhiều với văn chương. Thực tế ấy, trước tiên ta có thể trách họ. Nhưng sau đó thì sao? Ta có cần phải xem lại cách chúng ta đã và đang học văn chương cổ trong môi trường giáo dục? Ta có cần làm thế nào để người trẻ hiểu, từ hiểu mới có thể yêu văn chương cổ không? Vâng, đúng là từ hiểu mới có thể yêu nhưng như một mệnh đề ngược lại, cũng lại phải từ yêu rồi mới có nhu cầu hiểu kỹ, biết sâu. Chia sẻ quan niệm của mình về điều này, Vương Trọng cho rằng, trước hết, người trẻ hãy dành cho văn chương cổ một tình yêu và sự quan tâm đích đáng. Khi đọc chúng, hãy đọc thật kỹ lưỡng, thật đồng cảm, thật nỗ lực, đừng bỏ qua những chỗ mình thực sự chưa hiểu, và nhất là, đừng bỏ qua những nội dung chú thích. Nói tới đây, tôi lại nhớ tới những lời nhắc nhở của một người thầy ở đại học, khi đọc văn chương cổ, chú thích chính là phần vô cùng quan trọng và thiết yếu trong việc giúp ta hiểu về những gì người xưa chia sẻ. Một cách dùng điển tích, một cách tập cổ, một cách vận dụng thủ pháp ước lệ,… tất cả những điều đó chính là hành trang đầu tiên để ta bước vào ngôi đền tráng lệ và cổ kính của tiền nhân...

 

 

 Nguồn: văn nghệ

 

Các bài khác:
· THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM, TỪ TRẦM HÙNG ĐẾN CÕI LẶNG
· TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN TRONG 'ROMEO VÀ JULIET'
· ÁM ẢNH TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NỖI BUỒN SAU ÁNH HÀO QUANG
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG QUAN NIỆM THƠ CA ĐỘC ĐÁO
· PHÊ BÌNH ẤN TƯỢNG - KINH NGHIỆM CỦA CẢM GIÁC
· ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM
· TRẦN ĐÌNH SỬ VÀ THI PHÁP HỌC
· TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU
· PHẠM XUÂN NGUYÊN - KHÓC CƯỜI VỚI 'CHUYỆN ĐỜI VỚ VẨN'
· KHÔNG THỂ CÓ THƠ HAY, NẾU KHÔNG CÓ SINH HOẠT THƠ LÀNH MẠNH
· LẠM BÀN VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY
· NHỮNG CUỘC DỊCH CHUYỂN TRONG “NGÀY LINH HƯƠNG NỞ SÁNG” CỦA ĐINH THỊ NHƯ THUÝ
· NHÀ BÁO HOÀNG HƯỜNG - '1 MÌNH 1 NGỰA' ĐI TÌM 'VỢ CHỒNG A PHỦ'

 

  
Gia đình Bích Khê