DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO

TRẦN NGỌC THẢO

 

   Rất nhiều những bài viết về thơ và trường ca sau năm 1975 đều có nhắc đến Thanh Thảo với tư cách là một trong những nhà thơ tiêu biểu, là người tiên phong cho sự nở rộ trường ca sau năm 1975. Chủ yếu các bài này viết nói về vị trí thơ Thanh Thảo, phong cách thơ Thanh Thảo gồm cả trường ca và đề cập đến những vấn đề xoay quanh thể loại, kết cấu của thơ và trường ca Thanh Thảo. Đa số các nhà nghiên cứu, phê bình văn học khi đánh giá về Thanh Thảo - một trong những nhà thơ tiêu biểu sau 1975- đều thống nhất cao về cái “mới” và “lạ” trong thơ ông, đặc biệt là một bản lĩnh thơ luôn táo bạo, gai góc, quyết liệt đầy sức thuyết phục, thể hiện ý thức cách tân thơ ca rõ nét.  Điều đó thể hiện rõ trên phương diện nghệ thuật thơ Thanh Thảo khi ông sử dụng phương ngữ Nam Bộ trong hàng loạt những sáng tác viết về Nam Bộ sau này.

 

    Phương ngữ Nam Bộ là một dạng từ ngữ địa phương của vùng đất Nam Bộ thể hiện qua cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng. Tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ được thể hiện qua thơ và trường ca Thanh Thảo là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của người Nam Bộ trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình đồng thời qua đó khẳng định “tay nghề” Thanh Thảo.        

 

Vì nó chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam Bộ nên phương ngữ Nam Bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Phương ngữ Nam Bộ khi chân chất, mộc mạc, khi gồ ghề, gai góc... đã gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người nơi đây. Thiên nhiên sông nước trong folklore Nam Bộ cũng góp phần tạo nên phương ngữ Nam Bộ. Nam Bộ có 2 mùa gió: Tây Nam và Đông Nam, phương ngữ gọi là gió nồm (xuôi dòng Cửu Long) và gió chướng (ngược dòng Cửu Long) đã được Thanh Thảo tận dụng triệt để: “gió chướng xanh” [2, tr.46], “gió chướng non” [3, tr.37], “gió nồm” [3, tr.41], “gió nồm”[5, tr.7]...

 

      Khi chọn Nam Bộ làm nền cho thơ và trường ca của mình, yếu tố trước tiên chính là chất thô ráp như ngọc chưa mài giũa của ngôn ngữ Nam Bộ đã cuốn hút nhà thơ, kế đến là chất “biên khu” của những hình ảnh mang tính đặc trưng Nam Bộ.  Tác giả thú nhận trong  tiểu luận của mình: “chính giọng văn đặc sệt Nam Bộ với nhiều phương ngữ trong cách diễn đạt đã cuốn hút ông” [7, tr.396]. Và dưới bàn tay và bộ óc đầy sáng tạo, Thanh Thảo đã làm sống lại vùng đất đặc biệt này theo dòng lịch sử. Đọc Những người đi tới biển, từ “hào hển” rất đời thường nhưng cũng rất mới mẻ trong câu thơ này của ông: “ép vào ngực tôi con sóng đen hào hển/ hơi bùn tanh tanh trong rễ lục bình” [2, tr.21]. Những người lính ở địa hình Trường Sơn - nước phải trầm mình trong nước, những con sóng vây chặt lấy người, rồi lại nhào lên phủ lấy toàn thân thể, dìm họ trong dòng nước mênh mông... Ai đã từng sống ở vùng sông nước Nam Bộ, từng trải nghiệm hiện thực đó mới thấu hết cái tâm trạng “hào hển”.

 

          Thanh Thảo phát hiện ra vẻ đẹp của người mãi võ Sơn Đông qua “tiếng rao lời chào” có một không hai “...như thi sĩ anh đã rao bán thơ văn dầu cù là thuốc ban nóng/ hiệu con bìm bịp” [6, tr.74]. Sau khi hai tiếng cù là trở thành thông dụng trong phương ngữ Nam Bộ thì ngữ danh từ “dầu cù là” được dùng rộng rãi để chỉ tất cả các loại dầu cao.

 

    Xuất hiện khá dày đặc trong các sáng tác của Thanh Thảo, phương ngữ Nam Bộ với những từ ngữ thân quen, bình dị như chính cuộc đời con người Nam Bộ. Mượn giá trị độc đáo của phương ngữ Nam Bộ, Thanh Thảo đã để cho nhân vật của mình tự lột trần hết bản chất. Ca ngợi anh Tư Tròn, Thanh Thảo đặc tả những “khả năng đặc biệt của anh” là “có thể bất thần leo mút ngọn trâm” [2, tr.45]. Chỉ với từ “Cốt Đột” với ý nghĩa dùng để chỉ những người nghịch ngợm, ngu đần hay đáng ghét Đồ Chiểu đã cho thấy cách sống hai hạng người trong xã hội: “Khi bị ném vào hang đá tối, Vân Tiên, lúc bấy giờ con mới thực sự sống sống không trình diễn không lên gân không vì cái này cái nọ lúc bấy giờ con mới thấu hiểu lòng người còn tối tăm và khó lường hơn cả vực sâu con đang ở so với nó thì mọi loài Cốt Đột có đáng gì” [5, tr.11].

 

    Dựa vào tiểu sử, sự nghiệp và qua sự trao đổi giữa nhà thơ với các bạn trẻ, ta thấy chất Nam Bộ ít nhiều ảnh hưởng vào con người và thơ ông. Sống, chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ khoảng 5 năm lời ăn tiếng nói, sinh hoạt đời thường của người Nam Bộ đã thấm vào ông. Nhắc đến phương ngữ Nam Bộ phải kể đến tiếng lóng Nam Bộ. Tiếng lóng là loại khẩu ngữ đặc thù dùng để giao tiếp phi chính thức trong một phạm vi xã hội hạn chế. Nó hoàn toàn thuộc lĩnh vực từ vựng và có tính chất lâm thời, bất ổn định chỉ trong một chừng mực nào thôi. Vì thế, để chỉ một loại máy bay trực thăng nhỏ trinh sát, Thanh Thảo gọi là “Cá rô” cho dễ hiểu và phù hợp với người Nam Bộ: “chiếc “cá rô” bay xẹt ngọn trâm bầu/ thằng Mỹ cởi trần cầm đại liên Mã Lai/ cổ nó hừng như ức gà choi/ đây là vùng dân da đỏ”/ vùng săn người vùng oanh kích tự do/ chiếc “cá rô” vụt quay đầu/ nó thấy gì dưới cây cỏ” [2, tr.41] ;“...mùa xuân năm 1972. Một chiếc trực thăng “cá rô” xuất hiện. Đoàn quân nhanh chóng lẫn vào đám đế” [4, tr.56]. Tiếng lóng “cò ke lục chốt” còn gọi “Chà ke lục chốt” đậm đặc chất Nam Bộ chỉ loại người hèn hạ, mạt rệp, bọn nhóc, lính lác đã được Thanh Thảo làm sống lại khi hóa thân Đồ Chiểu trăn trở, ưu tư tình trạng cái xấu, cái ác tồn tại nhan nhản ngoài đời: “Ác hại thay họ gặp phải những gã cá mương đê tiện những tên cá lục chốt ranh ma bọn này biết những cá lớn kia chẳng còn mấy sức lực bèn bám vào rúc rỉa thân hình họ và vểnh râu cười đắc chỉ vì được bữa tiệc ngon” [5, tr.19]. Nhà thơ đã gọi những kẻ xấu, những kẻ cơ hội là những bọn “cá mương” “cá lục chốt” theo đúng nghĩa của nó: “lửa nuốt nghiến ngấu những mái nhà/ bầy cá mương mừng gặp thời nước đục/ thấy mồi ngon chúng nháo nhác nhào ra” [5, tr.49]…

 

Những tưởng theo thời gian những từ ngữ này sẽ đi vào quá khứ, thế nhưng nó lại hiện ra mồn một trong tác phẩm của Thanh Thảo gợi nhớ thời khẩn hoang, thời “dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”. Có thể nói tiếng lóng không được coi là chính thống, nhưng lần hồi thành ngôn ngữ văn chương, được đưa vào tự điển và là một thứ sinh ngữ đầy sức sống.

 

    Đúng là “không có gì phức tạp hơn là sự phân bố thổ ngữ ở Việt Nam” [1, tr.218]. Để tác phẩm đậm đà bản sắc dân tộc, khắc họa được đúng tính cách, tâm lý nhân vật ở mỗi vùng miền, nhà văn, nhà thơ đã phải cân nhắc lựa chọn những từ ngữ mang tính vùng miền nhất định đem vào tác phẩm, để khi đọc lên ta có thể thấy ngay đó là người miền Nam, miền Trung hay miền Bắc. Thế nhưng khi chọn phương ngữ Nam Bộ làm “giai điệu chính” cho thơ và trường ca viết về vùng đất Nam Bộ, Thanh Thảo đưa nó vượt ra ngoài giới hạn vùng miền đưa nó đến mọi vùng miền của đất nước mà không hề bị  bó hẹp trong giới hạn địa phương.      

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.      Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb KHXH, Hà Nội

 

2.      Thanh Thảo (1977), Những người đi tới biển, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

3.      Thanh Thảo (1982), “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, Những ngọn sóng mặt trời, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

4.      Thanh Thảo (2002), “Cỏ vẫn mọc”, Trò chuyện với nhân vật của mình, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

5.      Thanh Thảo (2002), “Trò chuyện với nhân vật của mình”, Trò chuyện với nhân  vật của mình,  Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

6.      Thanh Thảo (1988), Từ một đến trăm, Nxb Đà Nẵng.

 

7.      Thanh Thảo (2004), Mãi mãi là bí mật, Nxb Lao động, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

Các bài khác:
· NGHĨ VỀ TRẦN MẠNH HẢO
· ĐỂ BƯỚC VÀO NGÔI ĐẾN CỔ KÍNH CỦA TIỀN NHÂN
· THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM, TỪ TRẦM HÙNG ĐẾN CÕI LẶNG
· TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN TRONG 'ROMEO VÀ JULIET'
· ÁM ẢNH TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NỖI BUỒN SAU ÁNH HÀO QUANG
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG QUAN NIỆM THƠ CA ĐỘC ĐÁO
· PHÊ BÌNH ẤN TƯỢNG - KINH NGHIỆM CỦA CẢM GIÁC
· ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM
· TRẦN ĐÌNH SỬ VÀ THI PHÁP HỌC
· TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU
· PHẠM XUÂN NGUYÊN - KHÓC CƯỜI VỚI 'CHUYỆN ĐỜI VỚ VẨN'
· KHÔNG THỂ CÓ THƠ HAY, NẾU KHÔNG CÓ SINH HOẠT THƠ LÀNH MẠNH
· LẠM BÀN VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY

 

  
Gia đình Bích Khê