DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THIÊN NHIÊN NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO

                                                                                          TRẦN NGỌC THẢO

  Những hình tượng của vùng sông nước Nam Bộ mang tiếng nói của những người đi mở đất khai hoang, mang tính cách năng động, phóng khoáng, cởi mở rất dân dã. Theo Thanh Thảo: “Những hình ảnh, những biểu tượng của thơ không chỉ kích thích trí tưởng tượng của con người, nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới mà mình nhìn thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình chưa thấy nhưng sẽ thấy, chưa cảm được nhưng sẽ cảm được” [6, tr.224-225]. Đó là lý do ta thấy những yếu tố vùng sông nước Nam Bộ có mặt trong sáng tác của nhà thơ qua một số loài cây tiêu biểu. Sơ bộ thống kê 4 trường ca Thanh Thảo viết về Nam Bộ, chúng ta nhận thấy như sau: 

TT

Tác phẩm

Các loài cây

1

Những người đi tới biển

22

2

Những nghĩa sĩ Cần Giuộc

27

3

Trò chuyện với nhân vật của mình

10

4

Cỏ vẫn mọc

13

 

* Mắm, đước, tràm, dừa nước

    Khi nói tới Nam Bộ, người ta nghĩ ngay đến chốn : “Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tựa bánh canh, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy” (Ca dao). Với vẻ hoang vu đó là cả một thiên nhiên giàu màu sắc và đầy sức sống đang chờ đón những bàn tay đến “khai thông mở lối”. Dọc theo các kinh rạch cũng như ở các cửa sông, cửa biển phù sa đặc quánh ngày đêm bồi đắp cho vùng đất trũng, những cánh đồng ngập sâu dần dần hoá thành những bãi bồi, cây cối mọc xum xuê. Ven sông, rạch thì bần, mắm, dừa nước, ô rô, cóc kèn, choại... chen chúc tạo thành một vùng sinh thái Nam Bộ đặc trưng.

    “Cây mắm” giữ vai trò tiên phong trong việc lấn biển. “Cây mắm” có thể dùng làm ghe, xuồng, cất nhà, làm củi. Trái của “cây mắm” trước khi rụng đã nẩy mầm cây con. Vì thế, khi trái rụng chỉ trong một thời gian ngắn là có thể bám đất và phát triển. Ngay trong phần đầu tiên của tác phẩm Những nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thanh Thảo đã tái hiện lại vẻ hoang vu của vùng đất mới khi những nghĩa sĩ mới đến đây: “Nắng hừng hực dọc bãi bờ trai trẻ/ đất ở đây chưa định hình/ không tìm thấy trống đồng rìu đá/ chỉ có ô rô cóc kèn/ mắm và sú/ những loài cây tên gọi cộc cằn/ nghe gai góc cào vào bóng tối.../ dầm dãi sình lầy nước mặn/ rừng Sác mọc như một đoàn xung kích của phù sa” [2, tr.6].

    Dân gian có câu: “Mắm trước, Đước sau” là nói lên sự kiên cường lấn biển, bám đất, như hình ảnh người dân Đông Nam Bộ trong kháng chiến đã kiên cường bám đất giữ làng, một tấc không đi, một ly không dời.. “Cây đước” là một trong ba thành phần chính của loài cây mở đất phương Nam. “Cây đước” khi đã mọc thành rừng thì không có loại cây nào có thể sống cộng cư được, nên rừng đước thường có lãnh địa riêng. Trong văn chương, đước được ví như người kiên trung, bất khuất, không đầu hàng số phận đen đủi, không chịu thua cuộc đời nghiệt ngã. Vì thế ta càng thêm khâm phục Thanh Thảo đã đem “bản lĩnh của đước” để ngợi ca phẩm chất của anh hùng Nguyễn Trung Trực: “nước láng linh lục bình xuôi ngược/ cảm thương người như đước mọc vàm sông” [2, tr.59]. “Đước” lại còn một phẩm chất tốt đẹp khác là tính đoàn kết, đồng đội. Trong những năm tháng chiến tranh, rừng đước đã đội biết bao nhiêu bom đạn kẻ thù, nhưng chúng vẫn không khuất phục; trái lại, vẫn xanh tươi mơn mởn. Trong Ba nươi năm đời ta có Đảng, Tố Hữu khi viết về “đước”đã có nhận định xác đáng: “Miền Nam đi trước về sau/ Con đường cách mạng dài lâu đã từng/ Đước đã mọc thành rừng gỗ cứng/ Gió càng lay càng dựng Thành Đồng/ Trăm sông về một biển Đông/ Bắc Nam ta lại về trong một nhà”.

    “Tràm” thuộc hế hệ thứ ba trong nhóm rừng cây lấn biển phương Nam. Họ nhà tràm cũng có vô số loài, nhưng có lẽ “tràm nước” mới chính là loài đã tạo thành rừng đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long nơi mà Thanh Thảo đã từng đặt chân đến. “Thân tràm” lớn, tán “lá tràm” thưa, lá thon nhỏ. “Bông tràm” thường trắng mọc thành cụm dày đặc, bông tạo thành một chuỗi dài. Mùa khô, “trái tràm” rụng xuống đất và đến mùa mưa, “cây tràm” con đã lên xanh tốt. Cuộc đời những nghĩa sĩ dù lắm gian truân hiếm khi hạnh phúc nhưng không vì thế mà quên mất vẻ đẹp của thiên nhiên hoang sơ quê nhà: “mùa khô hoa tràm rụng ong bay/ khói đốt đồng vàng bông điên điển/ gió chướng non trẻ nhỏ hò reo quanh đám tát đìa” [2, tr.37]. “Hương tràm” có mùi hương dịu như hương sen, pha lẫn với hương mật ong, vì ong rất thích làm tổ trong “rừng tràm”. Hai mùi hương này đã hòa quyện với nhau tạo thành “hương rừng” đặc biệt. Chính vì vậy Thanh Thảo không thể quên mùi thơm đặc biệt của “hương tràm”qua bài hát đồng dao giản dị: “trời trưa chang chang/ khát đến đắng miệng/ đứng sững nước phèn/ hương tràm thầm lặng/ giấc mơ gió nồm/ mướt tàu lá chuối/ quệt vào hoàng hôn” [2, tr.39]. Có vẻ am tường mảnh đất này nên trong thơ ca Thanh Thảo ta thấy quá trình trưởng thành cũng như sự hữu dụng của “cây tràm”. Nó vừa là nơi trú ngụ của chim muông vừa đem lại nguồn thực phẩm dinh dưỡng cho người và sinh vật trong rừng: “Một ông già đi ăn ong, len lỏi giữa rừng tràm. Bông tràm trắng rụng như mưa nhẹ, có những bông đậu trên mái tóc bạc của ông. Một tổ chim lót giữa cháng cây tràm. Bàn tay chai sần màu đồng nâng niu những trứng chim màu ngà mỏng manh...” [4, tr.46]. Những “rừng tràm” bạt ngàn, mút mắt đó như những con người Nam Bộ phóng khoáng, dạt dào tình cảm. Thanh Thảo đã sống hết mình với con người và vùng đất này. Phẩm chất và giá trị con người được nhà thơ truyền tải qua lời người nghệ sĩ mù gắn với những loài cây đậm sắc màu Nam Bộ: “Thầy đã đứng về phía bông súng bông sen và những dòng thơ của thầy vươn lên thơm tho chắc nuội như những cây tràm mọc khít. Phía sau rừng tràm thơ đó thầy muốn nhắn gởi những gì tới hậu thế” [5, tr.37].

    Câu ca dao: “Mắm trước, đước sau, tràm theo sát/ Sau hàng dừa nước mái nhà ai” như một tổng kết cho quá trình con người đến định cư khai phá đất mới. Thật vậy, phải có “mắm, đước, tràm” đi trước rồi có “hàng dừa nước” để con người có lá lợp “nhà”, có thân để chụm, có trái để ăn, thì khi ấy, con người mới có thể bước đầu định cư được.

    Cây dừa nói chung và cây dừa nước nói riêng đã chiếm giữ tâm hồn con người Nam Bộ dù đó không phải là quê hương của dừa. Mang hơi thở của vùng đất Nam Bộ, cây dừa nước là hình ảnh gắn bó thân thiết nhất với người dân vùng đất chín rồng. Các bộ phận hợp thành của cây dừa nước có nhiều tên gọi rất thú vị như : tàu lá , bụp bè (phần gốc sau khi chặt bỏ thân trên), bông phèn (hoa dừa nước), cà bắp (chồi non của cây dừa nước)...có mặt trong thơ ca Thanh Thảo với những nhiệm vụ khác nhau. 

    Cây dừa nước mọc thẳng đứng từ dưới bùn lên, trông rất hiên ngang nên có người ví là dáng đứng Nam Bộ hay hào khí Nam Bộ - Trương Định đã rất khẳng khái khi tự nhận: “Ta là anh hùng chốn rừng rú/ tướng quân giữa trời/ là chiến hữu những người chân đất/ thân ta trải đọt dừa dựng ngược” [2, tr.50]. Cây dừa nước non, nhọn hoắc còn được gọi là “cà bắp” tuy nhỏ nhoi trước biển rộng sông dài nhưng lại là niềm ước ao về một cuộc sống thanh bần: “ôi sao mà khát một trận mưa rào/ cho trâm bầu đâm chồi nảy tược/ cho lớn vụt những cây cà bắp/ cho lá dừa xòe kín nôi con” [1, tr.51].

    Với Trương Định, những chồi non đó lại chứa cả một giá trị vĩnh hằng. Bất chấp môi trường sống nó vững chãi vươn lên bất khuất: “mưa trắng mặt sông nước mắt những người không cam chịu/ một rừng búp dừa chong chong giáo nhọn.../âm thanh run run trong cổ họng cây dừa” [2, tr.55]. Trái dừa nước dùng để giải khát, chế biến nhiều món ăn. Hơn thế nữa, với Đồ Chiểu trái dừa nước ấp ủ trong nó là một mầm xanh hi vọng: “Anh có thấy những trái dừa nước trôi lênh đênh mặc sóng vùi gió dập những trái dừa mang sẵn mầm cây mạnh mẽ chúng khao khát những bãi phù sa dù hoang hút miễn tấp vào được để mọc lên có ích những trái dừa ấy khác nào cha ông chúng ta trên đường tìm đất sống...” [4, tr.17]. Từ một trái dừa nước bình thường, nó trở thành huyền thoại bất tử về khí thế đánh giặc “anh đã thức trong bóng tối/ ngủ trong bóng tối/ mơ những giấc mơ trong bóng tối/ nhưng bài hát anh bay thẳng tới mặt trời/ ngợi ca trái dừa lửa kỳ lạ/ treo trên đời tất cả chúng ta” [2, tr.45].  Một ngôi nhà kê cột được lợp bằng lá dừa nước là niềm mơ ước của nhiều gia đình. Nhưng trong điều kiện thắt ngặt, vài tàu lá cũng đủ che mưa nắng cho anh Út bí thư: “túp lều cất vội bên kinh/ sơ sài dăm ba tấm là” [1, tr.37]. Nghệ sĩ - nhạc sĩ Hoàng Việt hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ ở Cái Bè (Mỹ Tho) cận kề trong cơn thập tử nhất sinh, vẫn bám víu “đất mẹ quê cha” như cố giữ lấy “hình bóng quê nhà”: “người nghệ sĩ đã ngã xuống bên con rạch gần cửa sông/ ánh chớp mìn clâymo/ bàn tay chầm chậm buông rời tàu dừa nước” [1, tr.27].

     * Bần, điên điển, sen súng, choại...

    Vùng sông nước Cửu Long đâu đâu cũng bắt gặp sự có mặt của hình ảnh “cây bần”. Bất cứ nơi nào có bãi lấy phù sa bồi lắng là bần mọc lên xanh tốt ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. “Cây Bần” là một loại cây mọc ven sông, to tàn rậm lá, hoa nở tim tím, trái hình tròn dẹp, ăn vừa chua vừa chát. Là loài cây mọc hoang, bần mọc đến đâu đất dai bền vững đến đó vì bộ rễ của nó phát triển khá vững chắc: “đám rễ bần quờ quạnh đón nước lên/ mắt chớp xanh đom đóm/ những rừng tràm bầy ong rung cánh sáng/ qua bao mái lều cất tạm/ giữa biền bưng vàng ố đất phèn” [2, tr.30]. Người dân miệt sông nước thường dùng “bần chín” nấu canh chua thay cho me. Cái “hương bần chín” nồng nàn, cái “vị bần chua” đậm đà khó tả ăn một lần sẽ nhớ mãi: “trái bần chua lá bần ngơ ngác/ bầy khỉ chuyền rung mưa trong vòm xanh” [2, tr.32]. Có một nhà văn Nam Bộ từng nói: “Chỉ cần với tay chạm lại đóa hoa bần, là đã với tay chạm mặt quê hương!”. Vùng đất phương Nam này thêm vững chải, đời sống văn hoá người Nam Bộ thêm phong phú, đa dạng có phần đóng góp từ hình ảnh “cây Bần” quen thuộc: “Gió thổi lạnh. Tiếng đờn im bặt. Đột nhiên, nổi lên những nhịp hò dô, những bóng thuyền thấp thoáng lướt trên sông. Từ những cây bần ven bờ, đom đóm chớp sáng vệt lửa xanh. Khi những bóng thuyền đã mất hút, nghe văng vẳng như có ai ngâm thơ, giọng rất trầm” [4, tr.46]. Bởi vậy mà những người con ở miệt sông nước này dù có đi đâu nhưng vẫn hiển hiện trong tâm thức mình về một “rặng bần” soi bóng sông quê.

    Không biết từ khi nào, đất phương Nam lại có loài “cây điên điển”, chỉ biết mỗi khi mùa nước son tràn vào đồng bưng cũng là lúc những hàng “cây điên điển” vượt lên mùa nước nổi và trổ rực sắc hoa vàng: “mùa khô hoa tràm rụng ong bay/ khói đốt đồng vàng bông điên điển/ gió chướng non trẻ nhỏ hò reo quanh đám tát đìa” [2, tr.37]. Dù chỉ là hoa dại mọc lên theo mùa nước, nhưng sắc vàng của “bông điên điển” đã đi vào nỗi nhớ của nhiều người nhất là người dân vùng lũ còn gọi “điên điển” với cái tên mang ý nghĩa hàm ơn là “bông cứu đói” lúc giáp hạt:“Nhủ điều chi ơi tiếng cuốc đêm sương/ kêu da diết suốt một mùa nước nổi/ bông điên điển nở cánh vàng nóng hổi/ là nắng chiều đẫm lại giữa lòng tay” [3, tr.33]. Ai đã từng đi qua vùng đất này hẳn sẽ hiểu sâu hơn về loài hoa đã tiếp sức cha ông ta trên bước đường mở cõi đất phương Nam.

    Ngoài bông điên điển, còn có bông sen, bông súng...nổi lên giữa biển nước mênh mông. Nước lũ dâng cao đến đâu thì cọng bông súng cứ vươn dài đến đó. Những mầm bông súng chôn vùi trong đất và đợi hạt phù sa trôi về để vươn dậy cho đồng bưng thay tấm áo mới. Vẻ đẹp của sen súng chính là hình tượng đạo đức mà con người cần hướng đến: “Thầy đã dạy con sống vì nghĩa đã chỉ cho con thấy ở những người anh em chân lấm tay bùn đạo sống ấy giản dị mà bí ẩn như bông sen giữa đồng nước. Và bông sen truyền cho con ngôn ngữ thâm trầm của nó một cánh hoa nở ra hào hiệp một thoáng hương thơm chân thật một cái ngẩng đầu kiêu hãnh” [5, tr.33]. Trước cái đẹp trắng ngần thanh khiết đó Đồ Chiểu nhận ra giá trị của loài hoa này: “Thầy đã đứng về phía bông súng bông sen và những dòng thơ của thầy vươn lên thơm tho chắc nuội như những cây tràm mọc khít” [2, tr.36-37]. Học tập người xưa, Thanh Thảo đã từng ví von về mình: “Tôi yêu quý hoa sen/ nhưng xin ở suốt đời cùng bông súng/ lẳng lặng nở hoa giữa đồng sâu ruộng trũng/ giữa những anh em côi cút của tôi” [2, tr.31]

    Người Nam Bộ thích ăn các loại rau rừng: đọt xoài, đọt chiết, đọt chùm ruột, đọt choại... “Đọt choại” một loại rau thiên nhiên, mọc hoang dại, có vị ngọt hậu, giàu dinh dưỡng. Vào những ngày đầu mùa mưa, cũng như các loài thực vật khác “choại” bắt đầu đâm chồi. “Choại” là loại dây leo, thường sống trên thân cây tràm, “dây choại” còn được người dân dùng để làm nhà, buộc các loại cột, kèo rất chắc chắn. Trên đoạn đường chiến đấu, kinh qua nhiều vùng quê, đối đầu biết bao hiểm ác, Thanh Thảo không bỏ sót bất cứ hình ảnh, kỷ niệm nào. Với Thanh Thảo, tất cả như hiện hữu đâu đây, không có sự xa lạ mà trái lại càng khắng khít gắn bó hòa trộn vào nhau khó vứt bỏ được. Càng yêu thì nhớ càng nhiều, nỗi nhớ “bào bọt” đó cuốn lấy biết bao kỷ niệm làm con người vơi đi vất vả trong mỗi cuộc hành trình: “gõ mái chèo này ca đôi câu/ chừng nhẹ bớt đường đời/ bỏ buồn cho em bỏ buồn cho tôi/ hỡi người qua truông về giồng dứa/ nỗi nhớ rối bời dây choại/ biết mọc lối nào níu được chân ai” [2, tr.31].

    Sống và chiến đấu ở Nam Bộ trong khoảng 5 năm, mảnh đất này gắn bó với Thanh Thảo trong từng làn da thớ thịt. Đi xa thì nhớ, ở gần thì thương. Chính những hình ảnh này làm đẹp hơn cho thơ ca Thanh Thảo, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc trước xu hướng thơ ca thời hội nhập.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Thanh Thảo (1977), Những người đi tới biển, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

2.      Thanh Thảo (1982), “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, Những ngọn sóng mặt trời, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

3.      Thanh Thảo (1985), “Khối vuông rubich”, Khối vuông rubich, Nxb Tác phẩm  mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội.

4.      Thanh Thảo (2002), “Cỏ vẫn mọc”, Trò chuyện với nhân vật của mình, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

5.      Thanh Thảo (2002), “Trò chuyện với nhân vật của mình”, Trò chuyện với nhân  vật của mình,  Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

6.      Thanh Thảo (2004), Mãi mãi là bí mật, Nxb Lao động, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

Các bài khác:
· TRƯƠNG NAM HƯƠNG VÀ NHỮNG CON CHỮ ĐẦY VUN NGHĨA
· PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO
· NGHĨ VỀ TRẦN MẠNH HẢO
· ĐỂ BƯỚC VÀO NGÔI ĐẾN CỔ KÍNH CỦA TIỀN NHÂN
· THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM, TỪ TRẦM HÙNG ĐẾN CÕI LẶNG
· TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN TRONG 'ROMEO VÀ JULIET'
· ÁM ẢNH TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NỖI BUỒN SAU ÁNH HÀO QUANG
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG QUAN NIỆM THƠ CA ĐỘC ĐÁO
· PHÊ BÌNH ẤN TƯỢNG - KINH NGHIỆM CỦA CẢM GIÁC
· ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM
· TRẦN ĐÌNH SỬ VÀ THI PHÁP HỌC
· TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU
· PHẠM XUÂN NGUYÊN - KHÓC CƯỜI VỚI 'CHUYỆN ĐỜI VỚ VẨN'

 

  
Gia đình Bích Khê