DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CẢM QUAN HUYỀN THOẠI TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG

BÙI THỊ CẨM NHUNG

Từ những xúc động vật vã mà ra thơ, Hoàng Trần Cương cuốn hút người đọc vào thế giới thơ đầy ám ảnh của anh. Thơ ca của anh ít mang tính thời sự mà thường hồi thủ về quá khứ. Suy tư về những huyền thoại văn hóa là một trong những ám ảnh và cũng là một cảm quan thú vị và độc đáo trong cá tính sáng tạo của nhà thơ. Huyền thoại không chỉ là quá khứ, là hư vô, huyền ảo; huyền thoại còn là những gì rất thực, rất đời để người ta hun đúc niềm tin và ngẫm suy về lẽ sống. Huyền thoại ám vào thơ Hoàng Trần Cương bằng những kỉ niệm êm đềm và cả những bất trắc của quê hương đất nước và của cuộc đời anh.

 

Có lẽ hồn thơ được những câu hò ví dặm của quê hương và những câu chuyện xưa của bà bồi đắp, hoặc cũng có lẽ từ lúc sinh ra là phải giáp mặt với nước và trời, với gió Lào bỏng rát, với bao cơ cực đói nghèo của vùng quê mang “thù với gió bão”, với thiên nhiên khắc nghiệt nên hồn thơ Hoàng Trần Cương như bị cuốn hút bởi những điều tâm linh huyền thoại.

Từ tuổi thơ Hoàng Trần Cương đã được ru giấc bởi những câu chuyện cổ tích của bà: “Đêm đêm/ Dưới gốc nhãn già nua theo lời bà kể/ Bông lúa hiện ra/ Ngày xưa lúa tự bò về nhà/ Hạt to như bắp chuối/ Khi chưa bị người ta xua đuổi/ Nắng vàng mơ từ mờ sớm đến chiều hôm” (Trầm tích). Không phải ngẫu nhiên mà nha thơ nhớ mãi câu chuyện về hạt lúa. Nó là hạt ngọc của trời, là hồn quê và là ước mơ của những ngày đói khát, cơ hàn. Cậu bé Cương từ nhỏ cũng đã biết kiêng sợ những con ma từ bóng đa làng “Bóng đa là phong vũ biểu của làng/ Bóng đa tàng hình con ma cố Bợ/ Hay nhát trẻ con và nói trạng như thần/ Những đêm giữa tháng/ Cây đa là nơi trăng mọc/ Nơi mắt con gái có màu/ Nơi giọng con trai như gà mắc tóc/ Nơi trẻ con đi qua im như thóc/ Khi cố Bợ trở mình làm rụng mấy búp đa” (Trầm tích). Ấy là hồn nhiên, là trẻ con, và cũng là kí ức lưu giữ văn hóa ứng xử của làng, của nước. Và cũng có lẽ nhà thơ được làng quê bồi đắp cho mình sự dạn dày, gan góc từ bờ tre của Thánh Gióng “ Bao quanh thôn xóm/ Những bãi bờ ken dày tre Thánh Gióng/ Cái giống tre gan góc trong gió sóng/ Cũng xúm nhau như lúa đồng vào vụ gặt/ Cấu trúc của làng hiển hiện xanh”. (Trầm tích). Cả cái nghị lực phi thường của xứ Nghệ với tích “cá gỗ” của ông Đồ xưa “Xứ Nghệ ơi xứ Nghệ/ Hiện hình cùng miền Trung/ Đã thế và mãi thế/ Giữa tháng năm điệp trùng/ Bây giờ con cá gỗ/ Thong dong giữa đại ngàn/ Nghe nói rồi hoá thạch/ Lặn vào dòng sông Lam…” (Trầm tích).

 Ngọn nguồn cổ tích quê hương cũng thổi vào hồn nhà thơ những huyền thoại về tình yêu trong trẻo, đậm đà, để mãi sau này nhà thơ như bị ám ảnh, say mê bởi ánh mắt của tình yêu:

Trong vắt ngọn nguồn những mạch suối vừa đi vừa lắng

Mang mát lành về xuôi

Con sông nào nàng Tiên Dung vẫn tắm

Bãi cát nào Chử Đồng Tử ẩn thân…

Ánh mắt những người đang yêu trong veo

Mấy ai biết tự ngàn xưa cũng bằng ánh mắt này

                                    nàng Tiên Dung mãi đi vào huyền thoại…

(Đỉnh Vua)

Mãi sau này, khi đã trải bao bon chen trong cuộc đời, nhà thơ vẫn nhớ mãi, vẫn gắn bó mãi với những huyền thoại quê nghèo, như nhớ những lời nhắn nhủ ân tình của người mẹ chốn quê xưa:“Con ơi con/ Sau này lớn lên/ Nhỡ có buồn lo hãy về quê nội/ Hãy cố bứt mình khỏi phố/ Thả hồn ra ngoại ô/ Ở đó/ Có đồng làng mang màu ngọn đuốc/Có ngọn gió lành khoả mát tâm tư/ Có huyền thoại/ Cùng các con độc thoại/ Nơi Thánh Gióng bay lên/ Nơi cô Tấm hiện về” (Trầm tích). Dù sống trong cuộc sống với nhiều đổi thay nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn luôn cảm nhận được lẫn trong cái văn minh, cái hiện đại vẫn còn những huyền thoại tâm linh của ngàn xưa vọng về:

Lang thang

Thủy thần thổ địa

Diêm vương hà bá yêu tinh

Những tháp truyền hình, những cột thu lôi

Những dàn ra-đa rà trời bới đất

Tia la-de và chiếc cân tiểu ly

Nhăm nhe đếm đo thân phận

Máy tính cặp kè cùng vệ tinh

Hiện thị tâm linh sâu thẳm...

(Đỉnh Vua)

Trong suy tư của nhà thơ dường như đâu đâu cũng lung linh những huyền thoại. Anh cảm nhận được sự linh thiêng của rừng núi Ba Vì, cũng như thầm thán phục những danh tướng đã ngã xuống một cách oai hùng vì non sông, đất nước:

Đêm lở

Ngày bồi

Đất phồng bộng mối

Những danh tướng cụt đầu

Còn lết về làng mới chịu trả gươm

Đền Thành hoàng lư danh khắc dấu

Những trung thần tử trận bảo lãnh cho vương triều mình hoàn lương

(Đỉnh Vua)

Những viên tướng ấy cũng góp phần tạo nên hình hài của núi sông:

Ngày viên tướng tài thất trận

Con ngựa chiến tập tễnh nước mắt

Giong ông trở về làng

Nhấp ngậm nước đọng màu xanh xóm mạc

Gượng tới bờ sông

Ông mới chịu rơi đầu

Thanh kiếm trận gãy đôi

Một nửa bay về trời

Hóa trăng lưỡi liềm đồng nội

Một nửa đáp xuống đất

Vật mình bật ra dòng sông Lam

(Long mạch)

Trăng của quê hương, dòng Lam êm đềm của quê hương vì thế mà trong tâm cảm nhà thơ máng dáng hình của những gan góc, oai hùng. Song huyền thoại không chỉ là ngợi ca, mà huyền thoại còn là những ngọn nguồn của những nỗi đau mà quê hương phải gánh chịu. Lẽ thường ở đời là khi bế tắc người ta sẽ kêu trời, khi không còn phương giải quyết thì người tai vin vào tâm linh huyền thoại, như một sự an ủi, làm nảy ra nhưng nguồn hi vọng mới. Tự lâu đời, người dân vẫn sợ loài “thủy ngư mặt sắt”: “Trâu trắng loài thủy ngư mặt sắt/ Vía nặng như chì/ Cặp sừng nhọn hoắc/ Húc thủng bụng đê/ Dẫm nát mùa màng/ Đi tới đâu chốn ấy thành đồng hoang nhà trống” (Long mạch), nó là hiện thân của gió bão lũ lụt luôn nặng thù hằn với mảnh quê nghèo, gây bao cảnh khốn đốn, éo le, khiến ai cũng bàng hoàng sợ hãi:

Trẻ con ngủ gục trên cây

Người già treo mình lên chạn

Bàng hoàng  không còn nhận ra dòng sông lam

Bàng hoàng nhất sự tích về những bầy trâu trắng

Quanh năm lảng vảng thượng nguồn

Ẩn mình đáy vực

Kết thân cùng họ hàng nhà Giải

Làm bạn với anh em Tạnh Mã

Những tử tôn của Thủy thần Hà Bá

(Long mạch)

Sợ hãi nhưng người dân vẫn tin rằng có ngày bầy trâu trắng sẽ “lặn vào cổ tích”, và bình yên của thôn xóm lại về. Họ còn biến những đau thương mất mát thành những gì linh thiêng phù hộ xóm làng:“Thành hoàng làng tôi là cậu bé chết trôi/ Dạt vào bãi sông mùa lũ nổi/ Sau ba ngày mối xông/ Sau trăm ngày em thành người muôn tuổi” (Trầm tích). Một huyền thoại buồn nhưng cũng là nơi an ủi tâm linh cho những người hằng tháng hằng năm phải đương đầu với bão lũ:

Đền thành hoàng thành nơi dâng lễ
Bọn trẻ xóm tôi lẻn đến nô đùa
Ký ức một thời vây bủa
Khắc đậm trong ta huyền thoại xóm buồn

(Trầm tích)

Cô gái trinh nguyên đắm mình trong lũ thì hóa thân thành Nữ Thần sông Lam. Đó cũng phải chăng là một sự xoa dịu nỗi thương tâm, để người ta được yên lành trong giấc ngủ:

Trên mặt nước hiện lên bóng người trinh nữ

Da trắng ngần chao trong sóng nước

-         Nữ Thần đã về

Nữ Thần sông Lam đã về

Đêm nay chắc làng ngủ không cần gối

(Long mạch)

Một điểm nhấn thú vị khi nói đến những huyền thoại trong thơ Hoàng Trần Cương chính là những suy tư của anh về truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh”. Sơn Tinh là vị Phúc thần trên núi Tản “Vòi vọi Đỉnh Vua/ Đã mấy ngàn năm sừng sững Phúc thần/ Ngự trên đền Thượng/ Khói hương nhấc bổng mây ngàn/ Phong trần trắng núi/ Ngài là Sơn Tinh đánh bại Thủy Tinh…”(Đỉnh Vua). Hầu hết người Việt đều biết truyền thuyết này, đa phần đều khâm phục Sơn Tinh, thù ghét Thủy Tinh. Ở đây, Hoàng Trần Cương có cách lí giải có thể nói thật thấu tình đạt lý. Anh cho rằng đây là “một truyền thuyết buồn nhiều vui ít/ Một câu chuyện tình dị thường không có hậu” (Đỉnh Vua), mà vua cha đã có một “Sự thiên vị đã leo lên đỉnh nóc” để cho “Lẽ công bằng tuột thẳng xuống vực sâu”, “Trong đề thi của Ngài/ Đã gieo mầm hậu họa” (Đỉnh Vua). Vua cha đã quá thiên vị khi ra lời thách cưới, gây bao hậu quả khôn lường:

Tái nhợt đất nâu

Nhằm vào ngày Sơn Tinh cưới vợ

Lũ lụt lại bùng lên đòi nợ

Suối sông ngập ngụa hận thù

Ai đẩy Thủy Tinh làm giặc

Ai đắp Sơn Tinh thành thần

Ai bỏ mặc núi sông hỗn chiến

Ai làm khánh kiệt thần dân…

(Đỉnh Vua)

Lên đỉnh Vua, đối diện với Sơn thần, nhà thơ vái mà thưa rằng Sơn Tinh cũng hãy đừng để hạnh phúc bao người phải mất vì hạnh phúc của mình, đừng để mình thành một vị thần ích kỉ:

Cái hạnh phúc đã xúc đầy bất hạnh

Tham chi một dẻ xương sườn

Ném hết thần dân vào trận đấu ngàn năm bất phân thắng bại

(Đỉnh Vua)

Và anh cũng thương cho Thủy Tinh, một anh hùng “sanh nhầm thế kỉ”:

Thương cho Thủy Tinh duyên mờ phận mỏng

Gá thân vào một thời thiếu vắng bóng minh quân

(Đỉnh Vua)

Như một niềm tin, nhà thơ ao ước mối thù kia được giải, cũng như ao ước quê hương xóm làng thoát khỏi những ám ảnh cơ cực gian nan khi lũ lại tràn về.

Liên tưởng của nhà thơ còn độc đáo hơn khi ông kêu vọng vào linh hồn hai vị thần sông núi mà nói về cuộc đời vĩ đại của Bác:

Sơn thần ơi, Thủy Tinh ơi

Giá mà các Ngài biết được

Đời sau có một người ly quê thương nước

Không vợ không con hiến trọn cuộc đời mình

Chuộc lỗi cho tiền thân để nối liền sông núi.

(Đỉnh Vua)

Liên tưởng ấy đã nâng hình ảnh của Bác lên tầm vóc của một vị thần vĩ đại - ấy là một sự ngợi ca rất chân thực, không tô điểm cầu kì.

Những suy tư độc đáo về những huyền thoại văn hóa đã làm thành một mảng thơ đặc sắc trong thơ Hoàng Trần Cương. Ta hiểu thêm rằng những ám ảnh, những suy tư trong hồn thơ của anh hết sức phong phú và mang hơi thở nhân văn rất sâu sắc.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.      Hoàng Trần Cương (1999), Trầm tích, Nxb Hội nhà văn.

2.      Hoàng Trần Cương (2002), “Đỉnh vua”, Tạp chí nhà văn, số 5, 9 – 24.

3.      Hoàng Trần Cương (2004), “Long mạch”, Thời báo Tài chính Việt Nam, số 105+106, 12.

 

 

Các bài khác:
· THIÊN NHIÊN NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO
· TRƯƠNG NAM HƯƠNG VÀ NHỮNG CON CHỮ ĐẦY VUN NGHĨA
· PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG THƠ CA THANH THẢO
· NGHĨ VỀ TRẦN MẠNH HẢO
· ĐỂ BƯỚC VÀO NGÔI ĐẾN CỔ KÍNH CỦA TIỀN NHÂN
· THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ
· NGUYỄN KHOA ĐIỀM, TỪ TRẦM HÙNG ĐẾN CÕI LẶNG
· TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN TRONG 'ROMEO VÀ JULIET'
· ÁM ẢNH TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ TRONG THƠ CA HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NỖI BUỒN SAU ÁNH HÀO QUANG
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG QUAN NIỆM THƠ CA ĐỘC ĐÁO
· PHÊ BÌNH ẤN TƯỢNG - KINH NGHIỆM CỦA CẢM GIÁC
· ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM
· TRẦN ĐÌNH SỬ VÀ THI PHÁP HỌC
· TÍNH “SONG CỰC” CỦA THI NHÂN VIỆT NAM
· TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (phần 1)
· ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ THI SĨ BÙI GIÁNG
· BẢN CHẤT XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC
· BIỂU TƯỢNG ĐA NGHĨA CỦA THĂNG LONG TRONG THƠ NGUYỄN DU

 

  
Gia đình Bích Khê