DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VỀ NHỮNG “KHÔNG GIAN RỖNG” TRONG THƠ

Đối với thơ Đường thì cái khoảng trắng, cái ý tại ngôn ngoại, hay gọi theo ngôn ngữ hiện đại (mát điện) bây giờ là không gian rỗng của bài thơ lại là kết quả của những câu thơ hoàn chỉnh, trọn vẹn và độc lập (tương đối) về nghĩa. Chính ở khoảng giữa những câu thơ độc lập tương đối đó, đã ẩn hiện cái không gian rỗng của bài thơ, là cái thoạt nhìn, mới đọc ngỡ như không thấy gì, không nói lên điều gì. Cái kỳ lạ của thơ là ở đó: chữ nương tựa vào không-chữ, chỗ dày rậm cậy nhờ chỗ trắng trong, không-gian-đặc được cấu trúc lên nhờ không-gian-rỗng. Vì vậy, đọc một bài Đường thi tứ tuyệt lại có cảm giác như đã đọc thêm được một bài tứ tuyệt ở khoảng giữa bốn câu thơ có chữ. Sự hoàn chỉnh và đặc cứng của từng câu thơ trong thơ cổ điển thật khác xa với câu thơ trong thơ hiện đại. Bởi thơ hiện đại không nhắm vào từng câu thơ, đơn vị cơ bản để cấu trúc lên bài thơ của nó không phải là từng câu thơ, mà từng mảng thơ, như từng nét vẽ so với từng quệt màu, từng mảng màu trong hội họa. Khi đã lấy đơn vị là mảng, thì cái không gian rỗng của thơ hiện đại cũng khác với thơ cổ điển. Cái không gian rỗng, cái mảng trắng ấy có khi lại chính là những mảng-chữ, những mảng màu. Thơ hiện đại không cho ta được nghỉ ngơi thư giãn trong khi đọc nó, nó vồ vập lấy ta, và bắt ta cũng phải vồ vập nó. Những mảng tối, mảng sáng trong bài thơ đan xen nhau, những mảng có nghĩa và những mảng vô nghĩa đan xen nhau, và người đọc thơ nhiều khi chợt ngộ ra một điều gì đó khi chạm vào cái vô nghĩa, chạm vào những mảng tối, những khối chữ không nhằm nói lên một điều gì. Và người đọc, ngược lại, được nghỉ ngơi khi chạm tới những mảng sáng, những khối-chữ-có-nghĩa. Đó là sự nghỉ ngơi trong ý thức. Thơ hiện đại buộc tiềm thức, vô thức của ta phải làm việc, buộc ta phải ngụp lặn xuống lòng nước tối, ngụp lặn vào chính những giấc mơ của ta. Khi đọc bài thơ Bão – đây là bão biển – cuả Lê Xuân Đố, ta chợt rùng mình vì cuộc phiêu lưu của thơ hiện đại, nó như người đánh cá trong cơn bão:
 
                               “Tiếng con gọi khắp biển bờ
Chìm trong nước bạc bao giờ nổi lên”
Nghĩa là cái tiếng nói ấy – tiếng nói thơ – đã chấp nhận một mất một còn, chấp nhận “chìm trong nước bạc” rồi, mà sự nổi lên có thể chỉ là may mắn. Vì thế, Lê Xuân Đố có lẽ đã thoáng do dự, thoáng chần chừ khi dấn bước, liều mình vào con đường này. Sự an-toàn-cổ-điển vẫn không thôi mời gọi anh, mời gọi chúng ta. Nhưng hình như, cái hiện đại cũng là một “tam giác quỉ” đầy mê đắm, và cũng thật khó từ chối nó, dù biết lao vào đôi tay nó là dễ chết, dễ “toi” lắm: “Chân không tìm râm bóng – Tôi đang cháy những thân cây giặc bắn” – cách nói ấy đã rời khỏi nơi trú ngụ cổ điển, để dấn bước vào hiện đại rồi. Không phải vặn vẹo chữ, mà đột ngột chữ, đột ngột những hình ảnh rời như tự nhiên bay lạc vào bài thơ. Có thể đọc một bài tứ tuyệt của Lê Xuân Đố:
 
                            “Lòng anh vườn mưa cây đổ
Tình anh lạnh cóng ngoại thành
                            Em rượu tràn ly vô vọng
Ngọn lửa đen cháy phố khuya”
                                (Em đã xa rồi)
Câu đầu, nghe có vẻ Xuân Diệu hay Tế Hanh. Nhưng câu thứ hai “Tình anh lạnh cóng ngoại thành” thì bỗng dưng, chữ ngoại thành đã phá vỡ sự hợp lý của câu thơ, và đột nhiên câu thơ trở nên vô ý, tình cờ, và đột nhiên, một không gian rỗng thấp thoáng từ một câu có chữ, một câu có vẻ đầy đủ. “Em rượu tràn ly vô vọng” cũng là một câu thơ hiểu được, dù không phải đã có thể rạch ròi ngay được: em là rượu kia tràn ly vô vọng, hay với em tình yêu là rượu tràn ly vô vọng? Nhưng đến câu kết: “Ngọn lửa đen cháy phố khuya” thì đây là một không-gian-rỗng hoàn toàn, nó làm cho cả bài thơ bỗng lung linh lên, mơ hồ lên, nhưng cũng hực hỡ lên một ngọn lửa tình đúng nghĩa: tình yêu cộng tình dục, trái tim và quả thận, đương nhiên đây không hề là một phép cộng đơn thuần. Một hình ảnh tình cờ, một ám ảnh đâu từ vô thức như thế nó khiến thơ hiện đại trở nên linh động, khó nắm bắt, khó phân tích, nhưng lại rất dễ cảm nhận. Con đường để tới với thơ không phải là con đường phân tích, mà là con đường cảm nhận, con đường của sự đột nhiên, của một thức tỉnh từ một hình ảnh ít gặp, hoặc chưa gặp nào đó.
 
“Đêm tru lên một tiếng còi tàu
Nơi khuya khoắt nuốt lời ly biệt”
                                (Nhớ Hà Nội)
Cũng là nhớ Hà Nội, nhưng nhớ như thế này là cái nhớ đi vào lòng ruột Hà Nội, nó âm u mà khao khát, nó bản năng và mãnh liệt. Với Lê Xuân Đố, con tàu ly biệt bỗng cuồng dại, và vực tối đang mở ra. Nó không chỉ nuốt lời ly biệt, mà có thể nuốt tất cả. Những hình ảnh như vậy có khá nhiều trong tập “Ngọn nguồn” này của Đố, là những khi Đố quên mình đang làm thơ, anh “tru” lên với thơ, “tru thơ”. Xin đừng hiểu đây là câu nói đùa, với người làm thơ, những phút được “tru” lên như thế là những phút hạnh phúc nhất, nó giải tỏa những gì mà người làm thơ mang nghẹt trong lòng, trong đáy linh hồn mình. Kêu gọi được tới đó, là đã gọi được những tập-hợp-rỗng, những không-gian-rỗng làm cấu trúc cho bài thơ, tạo nên một từ trường cho bài thơ. Trường này có thể đa nghĩa, có thể vô nghĩa, nhưng nó tác động mạnh tới người đọc, dĩ nhiên nó phải tác động mạnh tới tác giả trước đã. Nhà thơ là người đánh cá thả lưới vào chính mình, vào cái khoảng biển đen sâu hút trong mình, mong được vài ba con cá, hay một nhánh san hô, một ít rong rêu nào đó. Nghe được những cơn chấn động, dù nhỏ, người làm thơ sở hữu được một tiếng nói. Biết chờ nó, lắng nghe nó, là anh đã có thơ. Chẳng có “linh hồn văn hóa, thân xác thơ ca” quái nào cả, chỉ có một con người cô đơn đang lắng nghe mình, sau khi đã “mở cửa” cho tất cả thế giới vào mình. Người nguyên thủy chưa có văn hóa, nhưng họ đã có thơ. Thơ là khi họ hú lên, gào lên (như tên tập thơ nổi tiếng của Allen Ginsberg “Howl” – Hú gào-) trong cơn, trong một thôi thúc nội tâm hay nhân một tác động nào đó từ bên ngoài. Chính thơ là linh hồn của văn hóa, chứ không phải ngược lại. Với người nguyên thủy, thơ là hồn nhiên, trinh trắng, bẩm sinh, lướt qua, mất hút, rồi trở lại. Không thể ghi, vì chưa có văn tự, nhưng chưa có văn tự vẫn có thơ. Và bây giờ, sau một hành trình dằng dặc hàng vạn năm, người làm thơ hiện đại lại khao khát quay về với “Ngọn nguồn”, với những hú-gào-thơ, tự nhiên thơ, vô ý thơ, nghĩa là quay trở về cái “bản năng gốc” của thơ. Nhu cầu ấy là tự nhiên, nó chứng tỏ sức mạnh tiềm tàng mãnh liệt của thơ, và cũng chứng tỏ sự cô đơn lạc lõng của thơ. Hãy hình dung một người nguyên thủy đi giữa phố phường, hiện đại. Vậy thì có một nghịch lý này: thơ hiện đại là thơ… nguyên thủy.
 
Và những vung vãi cào xé ngôn từ của nhà thơ hiện đại lại có phần giống với những cơn vọt trào cảm hứng của người nguyên thủy, hay những đoạn lẩm nhẩm lảm nhảm của thơ hiện đại lại giống với những nghi thức cầu nguyện của người nguyên thủy. Chỉ có điều, người xưa hoàn toàn không ý thức những hoạt động thơ của mình, còn nhà thơ hiện đại thì cố dìm cái ý thức về chuyện làm thơ của mình, để cho thơ có thể tự lên tiếng, dĩ nhiên là khác với “hãy để tóc bạn lên tiếng” của một thứ dầu gội đầu nào đó. Lê Xuân Đố là bạn học với tôi trong những năm sơ tán cực khổ. Dạo đó, mỗi khi thấy Đố “bị thơ hành”, nghĩa là quằn quại, vật lộn trên giường suốt đêm vì một câu thơ, một bài thơ, và sau đó đi lang thang, miệng lẩm nhẩm, chúng tôi thường gọi đùa anh là kẻ “đánh vật với Nàng Thơ”. Hóa ra, hơn ba mươi năm trôi qua, mà keo vật ấy vẫn chưa kết thúc. Đủ biết, Đố cũng là một đô vật đáng nể. Còn Nàng Thơ, đương nhiên, Nàng chấp cả thế giới này. Có thể, trong cái keo vật triền miên ấy, giữa con người với số phận, giữa con người với thế giới, với vũ trụ, giữa con người với Thơ, mà thỉnh thoảng ta lại được đọc một bài thơ hay. Thỉnh thoảng, lại có những nhà thơ – đô vật bước lên bục chiến thắng, không phải chiến thắng Thơ, mà thắng được những lực cản để tự mình đến với Thơ. Ta chỉ thấy họ, khi khuôn mặt họ hiện ra trong ánh sáng. Còn những khoảng tối của họ, làm sao ta thấy được. Cũng như không bao giờ ta thấy được gương mặt trọn vẹn, rõ ràng của một bài thơ mà ta yêu. Vì một bài thơ như thế, nó có nhiều gương mặt lắm, hoặc nó không có gương mặt nào cụ thể cả.
Thanh Thảo
  

                                                            Quảng Ngãi, cuối hạ năm Trâu.

 

Các bài khác:
· Tưởng niệm 40 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ
· Người Việt có mê đọc sách
· chùm thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
· Quỹ học bổng mang tên một nhà thơ
· Dưới bóng Ấn sơn...
· Những trẻ thơ và chân trời Sơn Mỹ
· Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Đình Chính VỀ MỘT LỚP NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ
· ĐÔNG NHƯ QUÂN NGUYÊN
· Thanh Thảo - thơ - 123
· “Gió gọi” Nguyễn Khoa Điềm
· THẦY THUỐC VÀ QUẢN LÝ THẦY THUỐC
· “Ngày thơ” tại Quảng Ngãi: “Tổ quốc và Thơ”-một Ngày Thơ lạ mà thân yêu
· DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ XIN MỜI BẠN!
· CÁI CỚ CHO TÔI VỀ QUẢNG NGÃI (Hỏi chuyện nhà văn Nguyễn Đình Chính)
· THƠ CŨNG CẦN HỘ KHẨU
· TỔ QUỐC VÀ THƠ
· TỔ QUỐC VÀ THƠ – MỘT “NGÀY THƠ” LẠ
· NÚI ẤN NÓI RIÊNG VÀ CỦA NON SÔNG VIỆT
· THƠ TỰ BẢN THÂN NÓ LÀ NGUY HIỂM

 

  
Gia đình Bích Khê