DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
Người lữ hành cô độc

(Nhân 90 năm sinh và 22 năm ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu, 19-12-1985)
 
Mới đây, trong một chuyến “thực tế sáng tác” về Khu Đông- Núi Bà, qua cầu Gò Bồi, anh em văn nghệ sĩ ồ lên khen đẹp, Gò Bồi của Xuân Diêu thiếu thời. Có đẹp thực không đoạn sông đầy rác với mấy lùm cừa nước xum xuê? Tôi tin vào cảm xúc tự tạo trong niềm yêu đối với một tên tuổi lớn mà thấy đẹp thấy thiêng, thứ cảm xúc giả trá đến chân thành của giới văn nghệ. Hẳn trong anh em đang cố tìm trên đoạn sông này hình ảnh cậu bé tên Bàng đã tha thẩn nơi bến đò nước lên, đã đi dọc triền sông câu cá bắn chim, đã nghịch ngợm những trò chơi con trẻ, cuộc tìm kiếm hời hợt và vô vọng liên tưởng về một thứ địa linh nuôi dưỡng nhân tài. Cũng một kiểu mê tín chân thành của người cầm bút. Nhưng Nhà lưu niệm Xuân Diệu cách đó hơn trăm mét thì không mấy người nghĩ tới chuyện ghé vào. Và tên của ông luôn được nhắc tới trên các diễn đàn đầy tự hào về xứ sở “đất võ trời văn”. Niềm yêu niềm tự hào dù chân thành sao cũng thấy như một sự lợi dụng. Ở Quy Nhơn có một câu lạc bộ văn học mang tên Xuân Diệu tồn tại đến nay đã gần hai mươi năm đều đặn sinh hoạt mỗi tháng một kỳ, quy tụ hầu hết những người thuần tuý yêu văn học chưa là hội viên Hội văn nghệ tỉnh hay trung ương, cứ 18 tháng 12 anh chị em xúm xít góp tiền làm giỗ ông. Ngâm thơ ông rồi hát. Rồi đọc những bài thơ cảm tác về ông, ngô nghê và thành kính.
 
Thỉnh thoảng có mời vài nhà văn tới dự, họ nói rất nhiều về “anh Xuân Diệu” thế này thế khác có vẻ như họ thân thiết lắm với ông. Đó là những thông tin đầy ắp trên các báo lâu nay. Chợt nhớ tính thẳng thắn của ông nên thấy trên bức ảnh chỗ bàn thờ, Xuân Diệu nhíu mày hỏi “chúng ta có quen nhau thật à?”
 
“Bạn là bạn, thơ là thơ”- đó là câu nói trứ danh của Xuân Diệu khi ông cùng Hội đồng xét giải thưởng tác phẩm hàng năm, ông bảo vệ tập thơ “Dấu chân qua trãng cỏ” của Thanh Thảo, một nhà thơ trẻ không quen biết và khẳng định tập thơ của người bạn thân thiết Huy Cận không hay bằng. Thậm chí ông đề xuất cứ lấy 5 bài bất kỳ của mỗi tập, đọc rồi so sánh. Cũng thông cảm cho những thành viên khác, họ có thể cũng thấy chẳng khác gì ông nhưng chẳng lẽ một nhà thơ nổi tiếng lại xếp sau một tác giả trẻ mới vừa khẳng định mình? Sự thẳng thắn và “con mắt xanh” của ông đã thành công lần này. Một thành viên của Hội đồng đã kể lại nội vụ chứ không phải ông sau này quen biết nhà thơ Thanh Thảo nói cho ra điều bảo ban, ơn nghĩa.
 
Và một lần Xuân Diệu thất bại. Lần chấm thi thơ trên báo Văn Nghệ, 1983. Bài “Hai nửa vầng trăng” của Hoàng Hữu định xếp giải nhất đành nhường cho 2 bài khác vì nó chỉ là bài thơ tình và thật buồn! Giờ thì bài giải nhì năm ấy bạn yêu thơ đều nhớ đều thuộc và chắc rằng vẫn còn được yêu mến lâu nữa. Còn nhiều những ví dụ nhưng rõ ràng, dù thành công hay thất bại, Xuân Diệu cũng tỏ ra đơn độc trong một xu thế chung có tính đường mòn. Đã mấy chục năm qua rồi, liệu bây giờ có còn ai cô đơn như ông trong những lần khảo thí hoặc xét các danh hiệu, xét kết nạp hội viên?
 
Ngoài thi tài, Xuân Diệu còn giỏi bình thơ, nói chuyện thơ và ông là một trong các nhà thơ được mời nhiều nhất đăng đàn. Không biết trước kia sao chớ sau giải phóng bảy lăm, mỗi khi được mời nói chuyện ông đều yêu cầu cấp cho diễn giả tối thiểu là bia còn thường thì bia hột gà. Tôi thấy điều đó vài lần. Cũng nghe nhiều lần người ta dè bỉu sau lưng ông rằng ông yêu sách, đòi hỏi khi “đất nước còn nghèo, nhân dân còn khổ”. Chữ “đất nước, nhân dân” rất dễ vận dụng để phê phán hoặc lợi dụng. Ông chỉ đơn giản giải thích với vài người “Thời buổi này, không đòi hỏi không ai nghĩ tới mình!” Rồi cũng đơn giản nói với bạn “Phải cho nó biết giá trị của lao động trí óc!” Nó ở đây là đơn vị, cơ quan mời ông nói chuyện. Cái thời người ta quen nghĩ nhà thơ nói chuyện về thơ cũng là nhiệm vụ phục vụ nhân dân. Tốt, xấu thế nào cũng là miệng người đời nhưng điều đáng nói là sau này, khi ông qua đời, mọi người cứ kể chuyện “đòi hỏi” trên của ông như một điều hay. Tôi biết chính một vài người này trước đây chê bai ông. Cũng chân thành cả thôi, dù chê dù khen, trong con người ấy. Chỉ muốn nói điều này, ông cô độc quá dù “tiền hung hậu kiết”.
 
Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, trên bàn làm việc của ông luôn có hoa. Lọ hoa luôn chỉ có một bông, hồng hay cúc, đồng tiền… Mùa nào thức nấy nhưng chỉ một bông hoa. Chắc là ông chỉ cắm hoa theo sở thích và cho riêng mình.
 
Tôi nhớ một câu thơ của ông thời Thơ mới “Dẫu hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”- cái hay, cái tinh tế của khía cạnh tình yêu trong câu thơ này xin để các nhà phê bình phân tích. Cũng như lại nhớ một câu thời hoà vào cái chung của ông “Cầm tay chủ nhật hoà chung phố người”. Ông nói thế thôi, trấn an mình thế thôi. Huyễn hoặc mình chút thôi. Và ông dù tin chắc thế thì cũng chỉ là một liệu pháp tâm lý. Để sống. Mà thơ, dù là tài thơ cũng không thể là chỗ bấu víu duy nhất.
 
Tôi không cảm thông, xẻ chia gì cả với ông. Tôi chỉ nhận thấy. Ông, thi sĩ Xuân Diệu, người lữ hành cô độc.
 
Quy Nhơn, 15 tháng 12 năm 2006
Lê Hoài Lương
 

Các bài khác:
· THÁI ĐỘ KHIÊM NHƯỜNG TRONG TÁC PHẨM CỦA THANH THẢO
· Tham luận tại Hội thảo văn học đảo JeJu-tháng 4/2008
· VỀ NHỮNG “KHÔNG GIAN RỖNG” TRONG THƠ
· Tưởng niệm 40 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ
· Người Việt có mê đọc sách
· chùm thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
· Quỹ học bổng mang tên một nhà thơ
· Dưới bóng Ấn sơn...
· Những trẻ thơ và chân trời Sơn Mỹ
· Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Đình Chính VỀ MỘT LỚP NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ
· ĐÔNG NHƯ QUÂN NGUYÊN
· Thanh Thảo - thơ - 123
· “Gió gọi” Nguyễn Khoa Điềm
· THẦY THUỐC VÀ QUẢN LÝ THẦY THUỐC
· “Ngày thơ” tại Quảng Ngãi: “Tổ quốc và Thơ”-một Ngày Thơ lạ mà thân yêu
· DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ XIN MỜI BẠN!
· CÁI CỚ CHO TÔI VỀ QUẢNG NGÃI (Hỏi chuyện nhà văn Nguyễn Đình Chính)
· THƠ CŨNG CẦN HỘ KHẨU
· TỔ QUỐC VÀ THƠ
· TỔ QUỐC VÀ THƠ – MỘT “NGÀY THƠ” LẠ

 

  
Gia đình Bích Khê