DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
Cỏ xanh và Lửa đỏ - một đối lập lôgic của thơ Thanh Thảo

           
                                                                                           - MAI BÁ ẤN

 

            Không biết là một sự vô tình hay cố ý mà từ khi cầm bút, Hồ Thành Công lại tự đặt bút danh cho mình là Thanh Thảo - Cỏ xanh. Một cái tên rất con gái được ký dưới những bài thơ đầy chất con trai. Cái tên thì mềm mại mà chất thơ lại táo bạo đến bất ngờ. Ở đó có sự kết hợp lạ lùng giữa Cỏ xanh và Lửa đỏ, hay rộng hơn là một sự kết hợp đến mức nhuần nhuyễn giữa hai đối lập: Mặt đất cỏ xanh - Bầu trời lửa đỏ. Hai gam màu nổi bật, vừa đối lập vừa rất lôgic làm nên chất thơ Thanh Thảo.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Thanh Thảo có hẳn một tập thơ “Dấu chân qua trảng cỏ”, có hẳn một trường ca “Cỏ vẫn mọc”. Và khi tiến hành khảo sát 8 trường ca (chưa kể trường ca Metro) và 5 tập thơ (chưa kể tập thơ 123) của anh, ta dễ nhận ra, sắc cỏ bừng xanh trên từng trang viết:

“Mười tám hai mươi sắc như cỏ

         dày như cỏ

         yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”  

                       (Những người đi tới biển)

         

          Tất nhiên, Cỏ trong thơ Thanh Thảo không chỉ “mềm”, “ấm” mà còn “dày”, “sắc” và “mãnh liệt”. Thế nhưng, như để lột tả hết cung bậc dữ dội của cảm xúc trước sự ác liệt của chiến tranh, thơ Thanh Thảo cũng ngập tràn Lửa đỏ:

  “Tổ quốc

           một lần nữa xin hát tên Người

           lửa đã cháy trước đoàn quân nam tiến”

                                                       (Bùng nổ của mùa xuân)

          Thành công lớn nhất của Thanh Thảo có lẽ là bởi anh đã tạo nên được rất nhiều biểu tượng thơ. Mà biểu tượng thơ chỉ được tạo nên bởi sự ám ảnh khôn nguôi về một hoặc vài chủ đề, vấn đề nào đó nhà thơ đau đáu trong lòng khi cảm nhận cuộc sống. Cứ mỗi lúc xúc cảm tuôn trào là từ trong tiềm thức, cả vô thức bật ra một cách tự nhiên ngỡ như nó đã thành máu thịt, đặt bút là tự đáy lòng bất chợt tuôn ra không thể cưỡng lại. Chính vì thế, những biểu tượng này xuất hiện nhiều hơn với một độ lặp thi pháp phổ biến trong suốt cuộc đời thơ hoặc một chặng đường thơ của từng tác giả. Ngoài Cỏ xanh và Lửa đỏ, ta còn tìm thấy rất nhiều biểu tượng khác trong thơ Thanh Thảo như: Đất - nơi tồn tại của Cỏ xanh; Trời - nơi phát ra những tia chớp đỏ; Rừng núi mút mắt xanh cũng là nơi phát ra rừng rực những đám cháy đỏ; Biển muôn trùng nơi của những bão dông số phận; Cát và Sóng trong lòng Đất và Biển. Không chỉ thế, Thanh Thảo còn là nhà thơ của: những Nụ Mầm hi vọng; những Đàn chim tuổi thơ và Mẹ bao dung, cao cả...

Trong đó, Cỏ xanh và Lửa đỏ là hai biểu tượng xuất hiện khá dày đặc trong thơ anh. Đã có lần anh tự giải thích bút danh mình rằng:

          “Tôi đặt tên tôi là cỏ

           mọc phất phơ mọc vơ vẩn ngoài đồng

           mọc trên mộ các anh

           tràn qua các bia đá lạnh lẽo”

          Bằng một thống kê sơ bộ qua 8 trường ca của anh (chưa kể thơ), ta nhận ra một tần suất lặp khá dày đặc: Cỏ xanh: 247 lần, Lửa đỏ: 359 lần

Tất nhiên, số liệu thống kê cũng chỉ là những con số vô hồn nếu sự xuất hiện các hình tượng lặp không tạo nên chất thơ riêng của nó. Nguyễn Trọng Tạo đã có nhận xét khá sắc sảo về hai người bạn thơ của mình rằng: “Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia chớp từ trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự sum suê của cây cối từ đất mà lên.” (1)

         Có lẽ Nguyễn Trọng Tạo gọi tên phong cách ở nét chung nhất của hai nhà thơ. Còn theo tôi, tư duy thơ Thanh Thảo là một kiểu tư duy thơ hiện đại, tôi tạm gọi là “tư duy thơ vệ tinh”. Nghĩa là vệ tinh thơ từ bầu trời được tất cả các camera thơ quay hình từ mặt đất truyền về, rồi từ đó, vệ tinh phát xuống những tia chớp thơ lóe sáng, giàu chất suy nghĩ vì đã qua chọn lọc và cô đúc.

         Các camera thu lượm hình ảnh từ mặt đất ngập cỏ xanh, chuyển về vệ tinh thơ xử lí và chọn lọc để phát những tia chớp lửa chính là phong cách độc đáo của Thanh Thảo. Chính vì thế, ta thấy chân anh đang đi trên cỏ, bám rất chắc trên cỏ, nhưng trí và hồn anh lại thả bổng về trời.

                      “Buổi chiều qua trảng cỏ voi

                       Ngước nhìn mút mắt khoảng trời...”

                                                           (Dấu chân qua trảng cỏ)

Và cứ thế anh nối hai cực âm - dương: đất - trời bằng một vệ tinh thơ phát hình nhanh như tia chớp:

                        “Cỏ bồng bềnh câu thơ hoang dại 

                          Cánh đu tiên mùa xuân

                          Ta đã bay qua lằn mức đời mình

                          Trên cả dao động và yên tĩnh”

                                                                    (Đêm trên cát)

“Cỏ bồng bềnh”, “hoang dại”, “đu tiên” rất hồn nhiên của camera thơ mặt đất bỗng vụt lóe sáng như từ vệ tinh phát xuống hai câu thơ đầy trí tuệ, giàu suy nghĩ của “dao động”, của “yên tĩnh”, của những “lằn” ranh vô hình.

                       “Cỏ âm thầm mọc dưới trời sao

                         Đã phủ ngập lối mòn năm trước

                         Cỏ trùm lên những chiếc M113 đang rữa nát

                         Thành những gò đống lang thang”

                                                             (Dấu chân qua trảng cỏ)

        “Cỏ âm thầm mọc”, cỏ “phủ ngập lối đi”, “cỏ trùm lên” mạnh mẽ để xóa nhanh vết tích chiến tranh. Biểu tượng Cỏ trong thơ Thanh Thảo chứa nhiều cung bậc nghĩa. Khi âm thầm, khi mạnh mẽ, khi sắc lẹm, khi hồn nhiên.

          Rồi Cỏ cũng rung động khi nghe nỗi niềm thơ của ông Đồ Chiểu: “Cảm nghe niềm tâm sự như chưa bao giờ được nói hết đến cỏ cây cũng rung động” (Trò chuyện với nhân vật của mình).

Cỏ chở che dù chỉ là thân “cỏ nội hoa hèn”: “Dưới những dề cỏ những dề lục bình trôi bềnh bồng trên vàm Nhật Tảo, có những nghĩa quân của anh chài Lịch. Họ bí mật áp sát vào tàu “Hi vọng” đang đậu nghênh ngang giữa dòng sông” và “những dề cỏ áp tới thành tàu, im lặng áp tới những tiếng cười ngạo nghễ” (Cỏ vẫn mọc).

Vâng, “cỏ bồng bềnh” trôi xanh màu lãng mạn, nhưng rồi “cỏ áp tới” mạnh mẽ và đoàn quân áp tới bóp nghẹt “tiếng cười ngạo nghễ”...

Đúng là, Cỏ đã được Thanh Thảo chú tâm khai thác để nhằm qua những hình ảnh đơn sơ, bình thường, nâng lên thành những biểu tượng thơ đầy nghệ thuật nhằm bộc lộ những suy ngẫm tầng sâu về triết lý cuộc sống: “Một người đàn ông... chém vè trong đám cỏ ống”, bị rắn hổ đất cắn, “ông quơ vội những lá cỏ quanh mình nhai lấy nhai để. Quanh nơi rắn ở, bao giờ cũng mọc những loại cỏ trừ nọc rắn” rồi “những người tù “chuồng cọp” chia nhau vài lá cỏ ăn cho có chất rau xanh”... Đang nói chuyện Cỏ dưới đất, camera thơ lại đưa vút hình ảnh về vệ tinh thơ rồi chắt lọc hình ảnh và phát ra “vệt sáng mỏng manh chiếu nơi bàn tay gầy guộc, trên bàn tay một lá cỏ bắt ánh trăng” (Cỏ vẫn mọc”).

Và rồi bao nhiêu chuyện “đại sự” trên đời, bao nhiêu ngẫm suy đầy triết luận, được Thanh Thảo thể hiện đơn sơ và tự nhiên như chuyện cỏ mọc trên đời này: “Mấy đứa trẻ con ngồi ngay trên xác xe tăng bứt cỏ gà chơi trò “chọi gà” quen thuộc của chúng. Những người yêu nhau nằm trên cỏ, mãi sau này giây phút thơm mùi cỏ ấy sẽ đi vào đời họ như một trong những kỉ niệm đẹp nhất. Và thằng em tôi năm nay hai mươi tuổi, em nằm giữa trảng cỏ, miệng ngậm cỏ may, đối diện với buổi chiều ở một dòng sông xa lạ. Cả buổi chiều và em đều im lặng. Bây giờ em ở đâu? Tôi biết, chiến tranh chẳng phải trò chơi, mùa xuân ấy đang chuẩn bị những trận tiến công quyết định. Em mới hai mươi tuổi, trong mắt em, cọng cỏ tầm thường bỗng lấp lánh” (Cỏ vẫn mọc). Vậy đó, cỏ bình thường trên mặt đất trẻ chơi, nơi bờ sông em tôi nằm bỗng cứ “lấp lánh”, cứ “bắt ánh trăng”, cứ “lóe lên vệt sáng”. Rõ ràng, Cỏ trong thơ Thanh Thảo mọc lên từ đất, trải ra mặt đất ngút ngàn xanh và cứ mãi lấp lánh sáng lên như những tia chớp từ trời.

 

          Phần Lửa đỏ xin được bắt đầu bằng “ly rượu trắng”:

          “Ly rượu trong hồng lên cùng kí ức

           uống đi anh ngọn lửa của đời mình” (Dấu chân qua trảng cỏ)

          “Ly rượu trong” làm “kí ức hồng lên” và biến thành “ngọn lửa của chính cuộc đời”. Cái lôgic thơ đi chầm chậm như rượu thấm kéo theo một lôgic sắc màu vừa lạ lẫm, đối nghịch lại vừa vô cùng giản đơn và quy luật: Trắng trong - hồng lên - ngọn lửa. "Ly rượu" hóa thành "ngọn lửa". Thủy - Hỏa tương khắc là quy luật của Ngũ hành, còn quy luật của thơ, có khi tương khắc được lôgic hóa theo lý lẽ riêng của xúc cảm con tim; uống ly rượu  vào lòng cũng chính là đang uống vào lòng ngọn lửa.

          “Muốn xác định vị trí của một nhà thơ, bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi, nhà thơ ấy đã đem đến cho nền văn học tư tưởng gì mới mẻ, đã làm giàu thêm suy nghĩ của người đọc như thế nào. Đó là vấn đề khó khăn nhất và cũng nghiệt ngã nhất đối với người cầm bút... Những tài năng trẻ xuất hiện trong thời kỳ kháng chỉến chống Mỹ đã đem đến những tiếng nói mới lạ góp phần làm đổi mới thơ ca. Đặc biệt thể loại trường ca nở rộ trong thời gian vừa qua là một đóng góp quan trọng của các nhà thơ trẻ, trong đó, Thanh Thảo là một cây bút tiêu biểu” (2). Đây là một đánh giá khá xác đáng về vị trí của Thanh Thảo trong tiến trình hiện đại hóa thơ ca.

          Cần phải nhắc lại rằng, ngay những bài thơ đầu tiên của Thanh Thảo xuất hiện năm 1972: “Một người lính nói về thế hệ mình”, "Thử nói về hạnh phúc" từ chiến trường miền Nam gửi ra,  đã làm xôn xao diễn đàn văn học miền Bắc lúc bấy giờ. Xôn xao vì cách nói táo bạo, cách lột tả chiến tranh đúng sự thật nó vốn có, một kiểu nói lạ chỉ thấy ở Thanh Thảo. Cách nói ấy, vào thời điểm ấy, rõ ràng là không phải ai cũng có thể chấp nhận được. Và Thanh Thảo đã “bị đánh tơi bời” ngay lần đầu tiên xuất hiện. Cũng nhờ “ngọn lửa” mà Thanh Thảo đã giữ lửa cho thơ mình đi đến thành công:

          “Thế hệ chúng tôi bùng ngọn lửa chính mình

            soi sáng đường đi tới

        ... Lúc ấy chân trời là lưng người đi trước

           vụt lóe lên qua ánh chớp màn mưa”

          Nếu có ai hỏi vì sao anh vẫn tồn tại được? Anh sẽ đọc lại hai câu thơ như một cách trả lời đầy thuyết phục:

          “Vì ngọn lửa chịu sình là lửa thực

           đã bùng lên

                             dám cháy tận sức mình”

          Đúng là, đặt những câu thơ này vào thời điểm đó mới thấy hết “lửa thơ” của Thanh Thảo:

          “Một thế hệ thức nhiều hơn ngủ

           xoay trần đào công sự

           xoay trần trong suy nghĩ

           đi con đường người trước đã đi

           bằng rất hiều lối mới”  (Một người lính nói về thế hệ mình)

          “xoay trần đào công sự” thì tốt, “thức nhiều hơn ngủ” cũng rất tốt, “đi con đường người trước đã đi” thì quá tốt. Nhưng... “xoay trần trong ý nghĩ” là khó chấp nhận, lại đi “bằng rất nhiều lối mới” thì rõ ràng không phải ai cũng chấp nhận vào thời điểm bấy giờ.

          Thế nhưng, bằng cách “cháy bùng ngọn lửa chính mình”, Thanh Thảo ngày càng vững tin giữ lửa cho thơ với tất cả cái gai góc, trần trụi của thế hệ mình bằng một tư duy thơ độc đáo:

          "Chúng tôi không muốn chết vì hư danh

           không thể chết vì tiền bạc

           chúng ta lạ xa với những tin tưởng điên cuồng

           những liều thân vô ích

          đất nước đẹp mênh mang

          đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt

          chỉ riêng với Người, chúng tôi dám chết !"

                                                         (Thử nói về hạnh phúc)

          Lửa đỏ trong thơ Thanh Thảo không chỉ là lửa thực hay ngọn lửa tinh thần ta thường gặp mà anh còn sáng tạo ra những biểu tượng lửa rất lạ như “nước rực cháy”, “trái tim dòng sông bốc cháy”, rồi “mặt trời như trái dừa lửa kỳ lạ/ treo trên đầu tất cả chúng ta”...

          Thiếu Mai, trong một bài viết giới thiệu về Thanh Thảo đã nhập đề: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng. Đọc thơ anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy. Nó đủ sức gây chú ý và gợi suy nghĩ. Riêng tôi, lần đầu tiên tiếp xúc với thơ Thanh Thảo, thấy dấy lên trong lòng những xao động, mà có điều lạ là mình chưa thể phân tích rạch ròi những sắc thái tình cảm của mình ngay như thường khi đọc thơ của nhiều tác giả khác” (3). Cảm nghĩ của Thiếu Mai cũng được Nguyễn Trọng Tạo đồng tình trong bài “Chợt ghi về mấy nhà thơ cùng thời”: “Thơ Thanh Thảo không sờ mó được. Nó là những tia chớp từ trời cao làm hiện lên lung linh tất cả sự vật chung quanh ta vốn chìm trong bóng tối bí mật, rồi vụt tắt sau những khoảnh khắc” (4)...

          Đúng là Lửa, là "cây lửa", là "tàn lửa" cháy lên từ đất nhưng cũng là sự "tung tóe" của "sao băng" phát xuống từ trời:

          “Những cây lửa hừng lên trong đêm mất ngủ

           Tàn lửa như sao băng tung tóe khắp trời”

                                                       (Dấu chân qua trảng cỏ)

          Vẫn là một đối lập lôgic rất Thanh Thảo. Rồi từ ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945) ở Quảng Ngãi, Thanh Thảo lại chuyền lửa đi qua từng số phận:

          “Ngọn lửa

           một đêm thiêu rụi đồn Ba Tơ

           đã nén lại chuyền sâu vào từng số phận”

          và dữ dội hơn cả lửa:

          “tiếng nổ vỡ ra những dòng nham thạch

           vọt lên từng khối lửa khổng lồ”

          Ngọn lửa cát lại càng dữ dội hơn:

          “Cát không đau

           ngỡ tình cờ cát bùng lên ngọn lửa” (Bùng nổ của mùa xuân)

          Thơ thanh Thảo là thơ “phát sáng”, lửa ẩn trong thơ và thơ chứa lửa: “Ấy là khoảng khắc vĩnh cửu khi nhà thơ thành chiếc cầu thông hai cõi những khát vọng mà cái chết cũng không dập tắt nổi đã cháy lên ngọn lửa và ngọn lửa tìm thấy khoảng chiếu sáng qua những dòng thơ” (Trò chuyện với nhân vật của mình).

          Cơ hồ như anh nhìn đâu cũng tìm ra lửa dù cả trong hoàn cảnh phủ trùm bóng tối, cả trong sông nước phương Nam: “Từ những cây bần ven bờ, đom đóm chớp sáng vệt lửa xanh” (Cỏ vẫn mọc). Rõ ràng lửa đóm lập lòe cũng biến thành tia chớp, vệt sáng, nhưng biểu tượng của anh hoàn toàn có lý bởi vì đó là “vệt lửa xanh”.

          Có tiếng chớp xé giữa trời, ai biết lửa phát từ trời hay lửa bùng lên từ đất:

          “Cơn sấm rền chớp xé tầng mây

           lúa phất cờ đứng dậy

           những hàng cây bùng cháy” (Đêm trên cát)

          Gọi tư duy thơ Thanh Thảo là tư duy “thơ vệ tinh” chính vì lẽ đó. Có đôi lúc Thanh Thảo reo lên như một phát hiện lạ:

          “tôi đã thấy trong tia chớp

           vẻ rạng rỡ tình yêu”.

          Những “tia chớp”, “vẻ rạng rỡ”, “ánh ngày”, “rừng - lá - sáng” rồi lại những “óng ánh”, “chớp sáng”, “những ngọn sóng”... đã khiến thơ Thanh Thảo đầy những tín hiệu từ trời:

          “những con cá bơi cả vào giấc ngủ

            những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười

            cứ thả mãi bóng bay dù tôi biết

            chúng vỡ tan khi chạm phải nền trời

            năm tháng đường đời xa dần tuổi nhỏ

            một phút nào tôi thầm gọi mùa thu

            mùa thu ơi

            chớp sáng đầu ngọn mác” (Bùng nổ của mùa xuân)

          “bỗng tiếng gà như sóng

           vỗ tràn qua không gian

           ... ban mai rồi sẽ tới

           như dòng sông lao xuống từ trời” (Đêm trên cát)...

          đến cả mùa xuân, anh cũng có kiểu nói “rất vô tuyến truyền hình”: “mùa xuân của sóng âm và hơi” (Khối vuông ru bích)...

          Gửi gắm tâm trạng mình vào Cao Bá Quát, bằng phép đồng hiện mà có người gọi là “hiện tượng nhập hồn” (hồn Cao Chu Thần nhập vào Thanh Thảo phát ra trường ca "Đêm trên cát" độc đáo), nhà thơ ra lệnh: “Hãy đứng lên ngọn lửa” và:   

                 “Ta thích hoa phượng

                  cháy tận cùng ngọn lửa

                  dù phải thiêu đốt cả mùa hạ” (Đêm trên cát)

          “Khối vuông ru bích” là trường ca cuối cùng và là đỉnh cao của anh trong ý thức cách tân kết cấu nghệ thuật trường ca bằng sự trộn lẫn các loại hình nghệ thuật độc đáo (kiểu của chủ nghĩa hậu hiện đại) với một cấu trúc hoàn toàn mở (kiểu của lý thuyết tiếp nhận hiện đại). Ở đây, người đọc được quyền tham gia sáng tạo cùng tác giả qua trò chơi ru bích. Tùy theo sở thích từng người tham gia vào “cuộc chơi”, khối ru bích sẽ được xếp đặt theo ý thích riêng mình. Cứ thế, mỗi người một ý, tự do tham gia vào kết cấu tác phẩm trên khối vuông chung của tác giả xếp đặt. Khi xoay, khối vuông sẽ chuyển động thành tròn, kiểu cấu trúc vòng tròn mở của trò chơi ru bích này trong trường ca hiện đại Việt Nam có lẽ duy chỉ mình Thanh Thảo táo bạo sử dụng làm nền cho kết cấu trường ca. Thơ trong “Khối vuông ru bích” không đơn giản là thơ văn xuôi như ta thường nghĩ. Mà nó là một loại thơ, tôi tạm gọi là “thơ tích hợp thể loại”, vừa là văn xuôi, vừa là điện ảnh, vừa là kịch, vừa là hội họa, vừa là âm nhạc... tất cả cùng xoay tròn và tạo nên một kiểu thơ “tích hợp” độc đáo, mới lạ. Và đây là lần xoay thứ 32 của anh - xoay ra Lửa đỏ: “Tôi xoay những ô vuông. Tôi cần gì ư? Có thể cần tất cả, có thể chỉ cần cành củi để nhen lên ngọn lửa khi thiếu lửa. Một màu rơm tươi gọi nhớ mùa gặt, mùi vỏ bào dẫn ta về những cánh rừng mùa khô, khoảng trống nhỏ đủ hình dung bầu trời, thoáng nhìn của ánh chớp, định hình sự vật mà nó soi sáng, một bông hồng dầu dãi không tàn úa giữa những bố cục kì quặc nhất của thế kỉ hai mươi. Chúng ta xoay mình trên đất, trên gỗ, trên sắt thép, trên giấy, trên con người... chúng ta xoay còn nhanh hơn ru bích trong bàn tay nhà vô địch” (Khối vuông ru bích)...

     Còn và còn rất nhiều những đoạn thơ hay về Cỏ xanh và Lửa đỏ, nhưng có lẽ với bao nhiêu đó trong phạm vi một bài viết nhỏ, tôi tin rằng bạn đọc sẽ nhận ra cái lạ của một hồn thơ và tin vào cái âm thầm, bí ẩn, vĩnh cửu của Cỏ xanh và cái tia chớp vệ tinh thơ chói ngời Lửa đỏ trong một kiểu tư duy thơ khá độc đáo, kết hợp một cách lôgic những cái đối lập tưởng chừng như không thể kết hợp được. Điều này thể hiện rõ ý thức cách tân thơ trong quá trình góp phần hiện đại hóa thơ ca của anh: “Nghệ thuật Thanh Thảo tiếp nối dòng thơ kháng chiến Việt Nam, thành hình từ năm 1945: vần điệu phóng túng, từ ngữ hiện thực, nhưng hình ảnh trí tuệ hơn, tư duy tân kỳ hơn. Thanh Thảo thuộc một thế hệ tác giả khác, rung cảm, suy nghĩ, hạnh phúc, khổ đau một cách khác. Trong dòng sử thi thế giới, thơ Thanh Thảo bi tráng, vừa hùng tráng vừa bi thảm. Vinh quang cận kề chết chóc, đầu hàng, hủy diệt. Thánh tích, thương tích và phế tích bên bồi bên lở, lớp lớp chồng lên nhau. Tiếng người thành giọng hát, lời ăn tiếng nói ngày thường thành lời hát. Bài hát tình cờ, biến những hạt máu, hạt mồ hôi, hạt cát, hạt sao thành những hạt giống” (5).

 

                                                          Quảng Ngãi, 2009

 

                                                                       MBA

 

-------------------

(1), (4)- Nguyễn Trọng Tạo , Văn chương cảm và luận, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1998

(2)- Trần Đình Sử, Trần Đăng Xuyền, “Suy nghĩ mới về nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo”, Văn nghệ (số 23 ngày 4/6/1983)

(3)- Thiếu Mai, “Thanh Thảo, thơ và trường ca”, Tạp chí Văn học (2), 1980

(5)- Đặng Tiến, Thanh Thảo, (Bài giới thiệu tại Hội thảo thơ quốc tế Hà Lan) - Lấy từ mạng internet, 2004

 

 

 

 

Các bài khác:
· TÌM NHÀ (THƠ) QUÊN MẤT SỐ (NHÀ) LỚN KHÔN
· Chùm thơ Thanh Thảo viết ở đảo JeJu( Hàn Quốc)
· GẶP MỘT TIẾN SĨ (HÀN QUỐC) NGÀNH CÚNG TẾ
· thơ Nguyễn Đình Thi
· Nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng: “Muộn nhi thi, nộ nhi kịch”
· Người lữ hành cô độc
· THÁI ĐỘ KHIÊM NHƯỜNG TRONG TÁC PHẨM CỦA THANH THẢO
· Tham luận tại Hội thảo văn học đảo JeJu-tháng 4/2008
· VỀ NHỮNG “KHÔNG GIAN RỖNG” TRONG THƠ
· Tưởng niệm 40 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ
· Người Việt có mê đọc sách
· chùm thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
· Quỹ học bổng mang tên một nhà thơ
· Dưới bóng Ấn sơn...
· Những trẻ thơ và chân trời Sơn Mỹ
· Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Đình Chính VỀ MỘT LỚP NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ
· ĐÔNG NHƯ QUÂN NGUYÊN
· Thanh Thảo - thơ - 123
· “Gió gọi” Nguyễn Khoa Điềm
· THẦY THUỐC VÀ QUẢN LÝ THẦY THUỐC

 

  
Gia đình Bích Khê