DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
Những quan niệm thơ

Các quan niệm thơ

1- Quan niệm thơ trong văn học Việt Nam thời trung đại
“Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”. Nhưng chí ở đây cũng chứa đựng nhiều nội hàm khác nhau. Có thể đó là chí lập thân của người quân tử cũng có thể chứa đựng ở đó lòng yêu nước, thương dân…
“Muốn thơ cổ kính, thanh đạm sẽ gần dung tục, muốn thơ giàu đẹp sẽ gần hoa hoè. Hào phóng sẽ đi đến quá trớn, mộc mạc sẽ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý phải giản dị rõ ràng, mạch lạc, thông suốt; thật thà mà không dung tục, kỳ lạ mà không ngoắt ngoéo… Lời trung hậu mà thoát tục, khí cao khoát mà ôn hoà; khó lắm mới được vậy” - Lý Tử Tấn (1378-1457) Từ trong di sản, Nxb T ác ph ẩm mới, H à N ội, 1988, tr.23-24.
“Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời; nên thơ để nói chí vậy!”- Phan Phu Tiên (Tk XV). Tr.21
“Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật” và -Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Tr.36
“Cái gọi là thơ thì không phải láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bút thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí nữa. Thế cho nên nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán” - Phùng Khắc Khoan (1528-1613). Tr.41
“Thơ để nói chí hướng của mình” - Lê Hữu Kiều (1690-1780). Tr.57
“Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ… “Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc; lời thơ phải giản dị. Còn việc tô điểm cho đẹp đẽ, trau dồi cho khéo léo lạ lùng thì chỉ nên đặt ngoài” sáu nghĩa (sáu thể thơ) và năm mối (ngũ luân) trong Kinh thi - Nguyễn Cư Trinh (1716-1767). Tr.49
“Xưa nay, sáng tác văn chương được gọi là gia đã khó, được gọi là đại gia lại càng khó. Đại gia là chữ dùng để chỉ người có văn chương giúp đời. Có văn chương như gấm thêu, có văn chương vải tơ. Những người văn chương như gấm thêu thì bóng bẩy, những người văn chương như vải tơ thì quê kệch; có thể bảo họ là văn chương gia chứ không thể bảo họ là đại gia được…” - Ngô Thì Nhậm (?- 1803). Tr.78

“Thơ để nói chí hướng. Bậc sĩ quân tử lúc nhàn rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại hành trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại cho người sau, dùng làm niên phả để lại lâu dài. Đó thực là kho báu trong nhà đâu chỉ để phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình phong vật mà thôi” - Phan Huy Ích ( ) (Theo Mã Giang Lân, Thơ hình thành và tiếp nhận, tr.7)

“Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị” - Lê Hữu Trác (Từ trong di sản, tr.107).

“làm thơ có ba điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự. Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời. Thực tế bên ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc xưa hay thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên có tinh thần (…) Trong ba điều ấy, lại lấy ôn nhu, đôn hậu làm gốc, còn như thể loại, âm tiết, cách điệu, đều là bàn thêm thôi. Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng. Như vậy, cảnh không hẹn đến mà tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể trở thành người làm được thơ tao nhã” - Lê Quý Đôn (1726-1784) Từ trong di sản, tr.99.

Nguyễn Văn Siêu (1796-1872) phân biệt hai loại thơ: “Có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Từ trong di sản, tr.135

“Biểu hiện ra bằng lời thì cũng giống như cái lý do làm cho cá phải nhảy, diều phải bay, chỉ biết nói cái gì đáng nói ra” (Ngô Thì Nhậm). Tr.74
“Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắng, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ” - Ngô Thì Nhậm. Tr.77

2. Quan niệm thơ hiện đại phương Tây
- Boileau – nhà thơ và nhà phê bình văn học Pháp TK XVII, trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ra đời năm 1674 gồm trên 1.000 câu thơ chia làm 4 khúc ca. Ở khúc ca 1 (trên 200 câu thơ), ông cho rằng: “Nhà thơ trước hết phải thiên hướng thơ ca, cần được lý trí hướng dẫn…thơ phải sáng sủa, rõ ràng, nghiêm ngặt tuân theo các quy tắc nhịp, vần, quãng ngắt, nghỉ, bố cục” (theo LSVH Pháp TK XVII, tr.192) “Lý trí tạo nên cái đẹp và giá trị tác phẩm” (tr.193)

- Thơ ca lãng mạn Pháp XIX :
- Lamartine: “ Thơ ca sẽ là lý trí biến thành lời ca, đó là định mệnh lâu dài của nó , nó phải có tính triết học , tôn giáo , chính trị , xã hội như những thời đại mà nhân loại sắp trải qua” (LSVH Pháp XIX, tr.102). Nhưng sau đó ông lại bổ sung: “Thơ ca phải thầm kín, có cá tính, suy tư và nghiêm trang” (tr.103). “Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thành huyền diệu nhất trong thiên nhiên” (theo MGL, tr.7-8). “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Parnasse, tôi đã tặng cho cái gọi là Nàng Thơ không phải cây đàn lia bảy dây quy ước; mà là những thớ của trái tim con người, bị xúc cảm do những rung động của tâm hồn và của thiên nhiên” (theo LSVH Pháp XIX, tr.100) .
Vigny thì cho rằng: “mọi thơ ca đều khẳng định một chân lý, còn mọi xã hội đều dựa trên việc thừa nhận một điều giả dối: xung đột nhất thiết phải xảy ra giữa việc sáng tạo thơ ca và sự tồn tại của xã hội. Chỉ có một cách giải quyết, nhà thơ phải bảo vệ lấy tư tưởng của mình chống lại đám đông” (theo LSVH Pháp tk XIX, tr.109)
Stéphane Mallarmé (1842-1898): thơ là “một sự tái tạo lý tính của vũ trụ”… “thơ ca là sự biểu hiện ý nghĩa bí ẩn của sinh tồn, nhờ ngôn ngữ của con người được cô đọng vào tiết tấu thiết yếu của nó” – (LSVH Pháp XIX, tr.327)

Nhà thơ Pháp Paul Claudel (1868-1955): “một ý niệm cô lập trên quãng trắng: đó là bán âm của bài thơ, nhưng bài thơ không thể tồn tại nếu không có khoảng trắng”, “Khoảng trắng là hít vào, thơ là thở ra: con người hít cuộc sống vào và trả nó lại là một lời nói dễ hiểu” (LSVH Pháp XX, tr.36)

- Saint Jonh Perse (1887-1975), nhà thơ lớn Pháp thế kỉ XX: “Nhờ tư duy lối tương đồng và bằng biểu trưng, nhờ sự khởi sáng xa vời của công cụ biểu đạt, và nhờ sự tương quan đến ngàn vạn chuỗi phản ứng và liên tưởng lạ kỳ, và cuối cùng nhờ cái duyên của ngôn ngữ đủ sức diễn đạy sự chuyển động của Cái Hiện Tồn, nhà thơ có được một siêu thực tại không thể giống hệt như cái thực tại của khoa học”. “Thơ là hành động, Thơ là đam mê, Thơ là sức mạnh và sự đổi mới luôn luôn không biết đâu là giới hạn” (Thơ giúp con người là chính mình, Báo Thơ, 24, tháng 6/2005, tr.20)
- J. R. Bếtsơ - nhà thơ lớn của Đức nửa đầu TK XX: “Thơ đó là sự cố gắng không ngừng của con người để tự vượt lên mình” (theo MGL, tr.8)
- Octavio Paz – nhà thơ nhà phê bình và dịch thuật Mêhicô, giải Nobel Văn học 1990: “Giữa những gì tôi thấy và nói, giữa những gì tôi nói và im, giữa những gì tôi im và mơ, giữa những gì tôi mơ và quên, là thơ. Thơ len vào giữa có và không; thơ nói những gì tôi im, thơ im những gì tôi nói, thơ mơ những gì tôi quên” (LSVH Pháp XX, tr.47)
- Laưrence Ferlinghetti - nhà thơ cuối cùng còn sống của thế hệ “Beat generation” - một nhóm nhà thơ “không tuỳ thời” những năm 1950 tại Hoa Kỳ trong một bài viết với tiêu đề “52 định nghĩa về thơ để sử dụng trong thế kỉ XXI” đưa ra rất nhiều định nghĩa mới lạ về thơ: “Thơ, đó là những cách đi tới nơi tận cùng của ý thức”, “Thơ, là chiếc lá chói lọi của tưởng tượng. Nó phải rực sáng và làm cho bạn gần như mù quáng”, Thơ, được tạo thành bởi những quầng sáng tan dần trong đại dương âm thanh”, “Thơ, là một tiếng nói ly khai chống lại sự lãng phí từ ngữ và sự thừa thải điên rồ của chữ in”, “Thơ, là cái gì tồn tại giữa các dòng chữ”, “Thơ, được tạo nên bởi âm tiết của những giấc mơ”, “Thơ, là cấu trúc (gestalt) của trí tưởng tượng” (Thơ là gì? Báo Thơ, 24, tháng 6/2005, tr.21). Và theo ông, đưa ra một quan niệm chuẩn mực về thơ là một điều khó có thể làm được, mỗi bài thơ đã là một định nghĩa mà có thể nhiều hơn thế nữa: “Không nghi ngờ gì nữa, có bao nhiêu bài thơ thì có từng ấy định nghĩa, thậm chí còn nhiều hơn nũa bởi vì các Giáo sư và nhà phê bình thơ còn đông hơn các nhà thơ”.
Ý tưởng đó, nhà thơ nữ Bungari cũng đã từng phát biểu trong cuốn “Ngày phán xử cuối cùng” viết về cuộc kháng chiến công Mỹ của nhân dân Việt Nam. Bà than rằng: “Ôi, nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng đau khổ như thế này” (theo Đỗ Đức Hiểu, tr.15).
- Nhà thơ nữ Louise Gluck vừa được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn là “thi khôi Hoa Kỳ” (Laureate Poet America) năm 2004 thì chủ yếu đề cập đến vấn đề cốt tử của thơ chính là giọng (voice). Bà cho rằng: “bất kể nội dung nó nói gì”, bài thơ “sống sót không nhờ nội dung mà nhờ giọng” (Thơ là giọng, là phong cách, Evăn, thứ 2/2/2004, tr.1-2). Và theo bà, giọng, chính là cái “phong cách (style) của tư tưởng”. Bà còn nhấn mạnh vai trò đặc biệt của trí tuệ trong thơ: “Bài thơ có thể chứa đựng cái sự thật dường như sáng ngời ấy, nhưng điều khiến nó sống động không phải là sự khám phá đã cố định mà là các phương cách khám phá; cái làm nó sống động là trí tuệ” (Thơ là giọng, là phong cách, Evăn, thứ 2/2/2004, tr.3)

3. Quan niệm thơ Việt Nam thời hiện đại
Trở về Việt Nam, khi nền thơ ca hiện đại chào đời từ đầu thế kỉ XX, quan niệm về thơ khá phong phú, thoát dần quan niệm “thi ngôn chí” của nhà Nho, đồng thời tiếp thu những quan niệm thơ hiện đại phương Tây, nên quan niệm về thơ đi gần đến với đặc trưng thơ hơn.
Trong văn học lãng mạn 1930-1945, những nhà thơ khai sáng ra thơ ca lãng mạn, đặc biệt là những nhà thơ thuộc trường thơ Loạn và nhóm Xuân Thu nhã tập đã có những quan niệm khá mới mẻ, thổi vào thơ một luồng sinh khí mới. Đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học đi từ cái tôi cá nhân của thơ ca lãng mạn sang cái tôi cộng đồng thời chiến, cũng đã có nhiều quan niệm thơ gắn chặt hơn giữa thơ ca và cuộc sống.
Ta có thể tóm tắt những quan niệm ấy như sau: Thơ là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn nén cảm xúc đến mức “cô đúc” (Chế Lan Viên” để rồi phát nổ bằng một hình thức ngôn từ “tổng hợp kết tinh” (Nguyễn Đình Thi) có vần hoặc có điệu. Thơ phản ánh hiện thực cuộc sống mà hiện thực ấy “đã được ủ thành men và bốc lên đắm say” (Lưu Trọng Lư) đến mức si mê trong tâm hồn thi sĩ, là ánh chớp toé lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và ngoại vật” (Nguyễn Đình Thi). Khác với văn xuôi là “thể mở”, thơ là “thể đóng”, “chấp nhận phản ánh thực tế bằng lung linh, bằng đường cong” cho nên “thơ rất cần đến trí tưởng tượng”, “thơ là sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải”… giống như con diều “khả bay và bất khả bay”, phải tung cánh được lên trời rất cao đừng có chỉ là là mặt đất, nhưng cũng phải có cái dây mà kéo xuống đất được chứ đừng theo trí tưởng tượng mà bay mất” (Chế Lan Viên”. “Văn xuôi lôi cuốn người như dòng nước, đưa ta đi lần lượt, từ điểm này đến điểm khác. Thơ, trái lại, chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì tất cả động lên theo” (Nguyễn Đình Thi). Thơ là cái làm cho lòng người “sống được những phút đổi khác, khác thường, chếnh choáng, say mê” (Chế Lan Viên). “Thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la” (Nguyễn Tuân). “Nghĩ cho kĩ, thì thơ là nhận những “lượng thông tin” của sự vật mà phát hiện những phản ánh và sáng tạo kì diệu trong tâm hồn người… Quy luật lớn của thơ là cảm xúc và suy nghĩ… suy nghĩ cũng phải đến mức cao hơn suy nghĩ, tức là suy nghĩ trở thành cảm xúc”. “Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào thực tại… Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người” (Xuân Diệu) (45, tr.8-33).

Phan Ngọc trong bài Thơ là gì? Phát biểu: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”. Từ đó ông đưa đến định nghĩa thơ bằng ba ý chính: -Có giá trị phổ quát, - Mang tính hình thức giúp người ta nhận diện được thơ, không cần phải có kinh nghiệm và hiểu biết nghệ thuật, - Giúp người ta nắm được thực chất của thơ, để làm thơ, đọc thơ, giảng thơ có kết quả (theo Thơ hình thành và tiếp nhận, MGL, tr. 11-12)
Trên cơ sở của lý thuyết Thi pháp học hiện đại, Đỗ Đức Hiểu sau khi so sánh thi pháp thơ và thi pháp tiểu thuyết, đã rút ra bốn đặc trưng nổi bật của thơ như sau: 1- Có cấu trúc trùng điệp về âm thanh, nhịp điệu, ngữ nghĩa… 2- Có kiến trúc đầy âm vang. 3- Có nhiều khoảng trống trên không gian in thơ. 4- Chất nhạc tràn đầy (Đỗ Đức Hiểu, tr.16).
Mã Giang Lân sau khi tóm tắt một cách công phu toàn bộ các quan niệm về thơ từ trước đến nay, đã đưa ra định nghĩa rằng: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp 4 yếu tố: Ý - Tình - Hình - Nhạc” (tr.14)


Mai Bá Ấn tập hợp
 

Các bài khác:
· Cỏ xanh và Lửa đỏ - một đối lập lôgic của thơ Thanh Thảo
· TÌM NHÀ (THƠ) QUÊN MẤT SỐ (NHÀ) LỚN KHÔN
· Chùm thơ Thanh Thảo viết ở đảo JeJu( Hàn Quốc)
· GẶP MỘT TIẾN SĨ (HÀN QUỐC) NGÀNH CÚNG TẾ
· thơ Nguyễn Đình Thi
· Nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng: “Muộn nhi thi, nộ nhi kịch”
· Người lữ hành cô độc
· THÁI ĐỘ KHIÊM NHƯỜNG TRONG TÁC PHẨM CỦA THANH THẢO
· Tham luận tại Hội thảo văn học đảo JeJu-tháng 4/2008
· VỀ NHỮNG “KHÔNG GIAN RỖNG” TRONG THƠ
· Tưởng niệm 40 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ
· Người Việt có mê đọc sách
· chùm thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
· Quỹ học bổng mang tên một nhà thơ
· Dưới bóng Ấn sơn...
· Những trẻ thơ và chân trời Sơn Mỹ
· Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Đình Chính VỀ MỘT LỚP NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ
· ĐÔNG NHƯ QUÂN NGUYÊN
· Thanh Thảo - thơ - 123
· “Gió gọi” Nguyễn Khoa Điềm

 

  
Gia đình Bích Khê