DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
SỰ THAY ĐỔI THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA CÔNG CHÚNG VĂN HỌC SAU ĐỔI MỚI

                                                                 NGUYỄN THANH TÂM

Thị hiếu thẩm mĩ, đó là “năng lực của con người (xét theo năng lực cảm thấy thỏa mãn - “thích” hoặc “không thích”) trong việc tiếp nhận và đánh giá một cách có phân hóa những khách thể thẩm mĩ khác nhau, phân biệt đẹp với xấu trong thực tại và trong nghệ thuật, phân biệt cái thẩm mĩ với cái không thẩm mĩ, nhận ra những nét bi và hài trong các hiện tượng”(1). Thị hiếu thẩm mĩ trước hết được nhìn nhận từ góc độ cá nhân đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa nhất định. Đó là sự giao thoa của kinh nghiệm thẩm mĩ cá nhân được hình thành lâu dài trong quá trình sống và trải nghiệm với những kinh nghiệm thẩm mĩ có được trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.

Tiếp nhận văn học là vấn đề trung tâm của lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại. Trong tính chất mở của tác phẩm văn học, theo Umberto Eco, chân trời diễn giải được mở ra theo “ý hướng tính” của từng chủ thể tiếp nhận gắn với quá trình thay đổi của “tình huống thông diễn”, “hoàn cảnh thông diễn”. Như thế, chúng ta hoàn toàn có thể nghĩ đến một vấn đề quan trọng: nghiên cứu sự thay đối thị hiếu thẩm mĩ của công chúng trên cơ sở những thay đổi của con người và thời đại văn học. Thị hiếu thẩm mĩ là một khái niệm mang tính lịch sử, luôn vận động và biến đổi cùng với lịch sử phát triển của con người, văn học nghệ thuật, xã hội và thời đại… Đó là một thành tố quan trọng trong cấu trúc đời sống văn hóa xã hội. Gương mặt tinh thần của loài người, của mỗi quốc gia, dân tộc trong mỗi thời đại luôn được thể hiện thông qua sự sáng tạo và thẩm định các giá trị mà con người đã đạt được trên con đường vươn tới chân - thiện - mĩ.

Ở Việt Nam, Đổi mới chính là “hoàn cảnh thông diễn” mới của tiếp nhận văn học.

Đại hội VI của Đảng (1986) với những quyết nghị quan trọng về đổi mới đất nước, trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, “đổi mới tư duy”… đã thực sự đưa đất nước tiến lên, vươn tới khung trời của hội nhập và các giá trị mới, đưa tư duy con người Việt Nam sang hệ hình tư duy mới, lấy những giá trị nhân văn, nhân bản làm cốt lõi, hướng đến một cuộc sống mang phẩm tính nhân loại. Toàn cầu hóa và kinh tế thị trường là một diễn biến mạnh mẽ, cuốn Việt Nam sau Đổi mới vào vòng quay tất yếu, mang tính quy luật của thế giới. Thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm thẩm mĩ của con người dần thay đổi theo những biến chuyển của văn hóa, lịch sử xã hội. Con người mới với tư duy và mĩ cảm mới, với những thị hiếu mới trong một bối cảnh mới của cấu trúc lịch sử xã hội, văn hóa là những tiền đề có tính căn bản cho sự vận động của văn học Việt Nam.

Thế giới quan, nhân sinh quan của công chúng văn học sau Đổi mới có thể được nhìn nhận từ chính những thay đổi trong thế giới quan và nhân sinh quan của lực lượng sáng tác. Nguyên lý của đời sống văn học chịu sự chi phối của cơ chế thị trường, của mối quan hệ cung - cầu đã giúp chúng ta nối kết hai đối tượng này. Có thể hình dung lực lượng sáng tác sau thời điểm này trên hai nét lớn: các nhà văn trưởng thành trong chiến tranh - với một bộ phận tác phẩm được định hình trong thời chiến và cả mười năm tiền Đổi mới - giờ đây có thời gian để nhìn lại chặng đường đã đi qua một cách bình tâm hơn; một bộ phận trưởng thành sau, hít thở bầu dưỡng chất của đời sống mới, bắt đầu có những thể nghiệm nghệ thuật rất đáng chú ý. Cả hai bộ phận tác giả này thực sự đã có sự chuyển biến lớn về thế giới quan, nhân sinh quan so với thời chiến tranh và tiền Đổi mới. Trong công trình Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, M. B. Khravchenko đã chỉ ra rằng, không nên đồng nhất thế giới quan với tác phẩm văn học. Thế giới quan, nhân sinh quan chi phối trực tiếp đến phong cách nghệ thuật, hình thành nên tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, nhưng, thế giới quan là một sản phẩm vừa mang tính cá nhân vừa mang tính thời đại, dân tộc. Có thể thấy, trước Đổi mới, khi cả đất nước có chung nhiệm vụ, có chung khuôn mặt, tâm hồn, văn chương nghệ thuật đã thể hiện thế giới quan giai cấp, dân tộc một cách thống nhất. Văn chương trở thành một công cụ, một vũ khí tối quan trọng, ra trận cùng cả dân tộc. Những góc khuất lấp, văn chương thời bấy giờ chưa có điều kiện để khảo sát và thể nghiệm. Tiếng nói cá nhân, cá thể chưa được lắng nghe bởi âm hưởng sôi nổi, hào sảng của dàn đồng ca đoàn thể. Những dấu chân dẫm lên dấu chân, tạo thành vệt dấu để người sau biết đường ra chiến trường là mĩ cảm đầy hứng khởi của văn học thời kì này (ý thơ Thanh Thảo – Dấu chân qua trảng cỏ). Sau Đổi mới, khi đời sống chuyển từ trạng thái bất thường sang bình thường, thời chiến chuyển sang thời bình con người có thêm thời gian để soi ngẫm lại những gì đã đi qua. Thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà văn sau Đổi mới đã có một sự vận động mang tính bước ngoặt. Thế giới quan dân tộc, thời đại dần dịch chuyển vào thế giới quan của con người cá nhân đặt trong bối cảnh phức tạp, phong phú và toàn nguyên của thế sự đời tư. Sự tiếp nhận văn học của công chúng không nằm ngoài những vận động này. Nghĩa là, công chúng của văn học cũng có những thay đổi to lớn theo đúng diễn trình vận động của lịch sử dân tộc và thời đại. Thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học sau Đổi mới đã thay đổi trước hết trên phương diện thế giới quan, nhân sinh quan như thế. Con người đang trên đường đi tìm lại bản thể của mình. Đó là sự hiện hữu của những “yếu tính” thuộc về con người cá nhân giữa thế sự đời tư, gắn với những giá trị phổ quát nhất. Vũ trụ quan và giá trị quan thay đổi dẫn đến thị hiếu thẩm mĩ thay đổi. Nền văn học mới vừa là phương tiện, phương thức, vừa là sản phẩm của con người bản thể sau Đổi mới là vấn đề cần nhận thức khi nghiên cứu sự tiếp nhận văn học của công chúng.

Cùng với sự thay đổi về thế giới quan, nhân sinh quan là sự thay đổi trong quan niệm thẩm mĩ của con người. Quan niệm thẩm mĩ gắn liền với thị hiếu thẩm mĩ, biểu hiện trong chú ý thẩm mĩ, đối tượng thẩm mĩ, tính cảm thẩm mĩ, ý thức thẩm mĩ…(2) chuyển hóa, xây đắp thành hình tượng nghệ thuật, mang tư tưởng, phẩm chất tinh thần của người nghệ sĩ trong sự gắn bó, thông tri với cuộc đời. Cái đẹp trong nghệ thuật, trong văn chương là một phạm trù lớn, gắn với đời sống con người, gắn với đặc thù của loại hình nghệ thuật. Chính vì thế, đặt những hệ hình thẩm mĩ của các thời đoạn lịch sử bên cạnh nhau trong diễn trình của nó, ta nhận ra những biến chuyển, biểu đạt sự vận động của nền văn học. Vọng tưởng về thời chiến tranh và tiền Đổi mới, ta cảm nhận được mĩ cảm của một thời say sưa trong lý tưởng chung cao đẹp. Những biểu hiện của cái đẹp, cái cao cả một thời như những gương người tốt việc tốt, gương anh hùng lao động, gương hy sinh quả cảm, khóm lá ngụy trang, vành mũ tai bèo, đôi dép cao su, hậu phương hăng say sản xuất, tiền tuyến thi đua giết giặc… là tâm điểm của chú ý thẩm mĩ, tình cảm, ý thức thẩm mĩ, làm thành một trường thẩm mĩ chung cho cả thời đại.

Quan niệm thẩm mĩ là một phạm trù mang tính trừu tượng. Nó không chỉ là những bám đuổi tinh thần về mặt mĩ cảm gắn với đời sống, nhân sinh, với những trăn trở để phản ứng với thực tại xã hội và những suy tư triết học về con người mà còn là những thị hiếu, mĩ cảm mới về nghệ thuật như là một giới hạn mới về tư duy nghệ thuật của loại hình nghệ thuật ngôn từ. Nghĩa là, thị hiếu thẩm mĩ giai đoạn sau Đổi mới còn hướng đến việc nâng cao giá trị mĩ học của nghệ thuật như là mục tiêu bản thể của loại hình này - mĩ học ngôn từ trở thành một quyền lực trong hệ thống văn học.

Như đã trình bày ở trên, đi qua thời cả dân tộc có chung khuôn mặt, tâm hồn, giờ đây con người tự soi ngắm, nhìn nhận lại mình một cách đời thường nhất. Con người cá nhân trỗi dậy, đòi sống đời sống bản thể của mình. Tác phẩm Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, viết xong từ trước Đổi mới, là một ẩn dụ về những thay đổi trong đời sống tinh thần của con người. Cái khẩn thiết của sự sống, cái chân thực của thế sự là ở chỗ: trong mỗi con người đều có phần ánh sáng và bóng tối, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ… Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh ra đời trước Đổi mới gần chục năm nhưng đã báo hiệu những chuyển động quan trọng của thế sự, con người và văn chương. Con người bây giờ là một bản thể quy chiếu với các giá trị phổ quát và đòi sống như một “con người toàn nguyên”. Trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, sự chuyển biến này càng thể hiện một cách rõ rệt. Thị hiếu thẩm mĩ của người sáng tạo tương thông với thị hiếu thẩm mĩ của công chúng hướng tới cuộc sống trọn vẹn hơn cho con người. Hiện thực vĩ đại nhất lúc này là thế sự đời tư biểu hiện mọi phương diện của đời sống cá thể và cộng đồng. Con người đi tìm cho mình một miền mĩ cảm mới sau những biến động kinh hoàng của chiến tranh hay đúng hơn là họ có cơ hội trở về với bản thân mình cùng những hệ giá trị cốt thiết. Tìm lại chính mình trong cảm thức của một con người toàn nguyên là chuyển biến có tính bước ngoặt, tiềm chứa những giá trị nhân văn, nhân bản.

Thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm thẩm mĩ thay đổi kéo theo những thay đổi to lớn có thể nhận ra như đối tượng thẩm mĩ, chú ý thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ… của đội ngũ sáng tác cũng như của công chúng tiếp nhận văn học. Điểm rất quan trọng trong sự chuyển biến này là những thay đổi thị hiếu về đề tài, chủ đề, cảm hứng, giọng điệu và ngôn ngữ văn chương. Như đã có dịp nói tới ở trên, ở đây diễn ra sự “thông tri” giữa nhà văn và người tiếp nhận. Nhu cầu thẩm mĩ của công chúng tiếp nhận và nhu cầu thẩm mĩ nội tại của nhà văn đã đặt văn chương vào một cơ chế có tính “cung - cầu”. Đề tài, chủ đề được quan tâm lúc này chuyển dần từ những vấn đề có tính cộng đồng, mang tầm vóc sử thi sang các vấn đề thế sự, đời tư, xoáy sâu vào cuộc sống bản thể của con người. Văn chương hôm nay hướng tới những vùng khuất lấp của hiện thực, đào sâu vào tâm linh, vô thức, trưng ra những biểu hiện phức tạp, đa bội của đời sống con người. Không thể nói rằng văn chương đi vào mặt trái của hiện thực, bởi lẽ với nghệ thuật mang ý niệm hướng tới nhân sinh đích thực thì không có chủ đề, đề tài nào là mặt trái. Ta có thể nói đến câu của Marx ở đây: không có gì liên quan đến con người mà lại xa lạ với tôi. Văn chương sau Đổi mới đã nỗ lực truy cầu điều ấy. Thị hiếu của người sáng tác muốn dấn thân đến những nẻo vùng khác nhau của mĩ cảm, của tư duy cũng như người đọc khao khát có được những trải nghiệm mới, bổ sung vào thực đơn tinh thần vốn đã đến lúc nghèo nàn và nhạt nhẽo.

Có nhiều người hiểu chưa thật trúng về câu thơ Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình của Hồ Chí Minh. Cái vô tình ở đây phải hiểu là cái vô tình của thiên nhiên, của sự sống, của quy luật vận động nằm ngoài mọi ước muốn, khả năng của con người. Cái vô tình - vô thường, cái mặc nhiên không định đoạt được chính là phẩm chất của thế sự đời tư. Chính vì thế, bất kì một sự can thiệp nào cũng đều là chi phối tới cái tính hằng nhiên của sự sống. Văn học sau Đổi mới có tham vọng gọi về phẩm tính này của cuộc đời. Chủ đề đã thay đổi rất lớn với sự xuất hiện trong văn chương những khía cạnh của tinh thần như vô thức, tiềm thức, tâm linh; những vấn đề nghiêng về sự nhìn nhận, đánh giá, với thái độ phản tỉnh về cuộc đời, về những năm tháng đã đi qua; những vấn đề thiết thực với thế sự như miếng cơm manh áo, sự thủy chung và bội phản, những ham muốn đời thường, những nhu cầu thiết cốt của cá thể trong một sinh quyển mới (Bức tranh, Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu, Hai người trở lại trung đoàn - Thái Bá Lợi, Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp, Người sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Thời xa vắng - Lê Lựu, Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng…) Mang cái nhìn phản tỉnh, giải thiêng, văn học sau Đổi mới đã tiến đến những phạm trù mĩ học mới như là một biểu hiện của hệ hình thẩm mĩ mới: Thiên sứ, Man Nương, Maria Sến (Phạm Thị Hoài), Con gái thủy thần, Những bài học nông thôn, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa (Nguyễn Huy Thiệp)... Đề tài được mở rộng, chủ đề được xoáy sâu, đa dạng hơn, phong phú hơn chính là một điểm đáng lưu ý của văn học Việt Nam sau Đổi mới. Càng đi xa khỏi mốc 1986, văn học càng đa dạng về đề tài, chủ đề, cảm hứng, giọng điệu. Văn chương thời này chứng kiến sự khai sinh những vùng mĩ cảm mới từ vấn đề trọng đại, như Nhìn từ xa… Tổ quốc, Đánh thức tiềm lực (Nguyễn Duy), Tản mạn thời tôi sống (Nguyễn Trọng Tạo) đến những vấn đề cá nhân, riêng lẻ: Tan vỡ (Dư Thị Hoàn), Lỡ một thì con gái (Đoàn Thị Lam Luyến)… Văn chương xuất hiện nhiều tác phẩm sử dụng yếu tố sex như một công cụ, một phương tiện, một ám dụ nghệ thuật (có không ít tác phẩm sex trở thành mục đích, vì thế nó nhanh chóng bị đào thải) nhằm chuyển tải những mĩ cảm mới, những vận động mới trong tinh thần con người thời hậu chiến. Có thể khái quát thành các mảng đề tài lớn trong văn học Việt Nam những năm sau Đổi mới như: đề tài chiến tranh, nông thôn, tình yêu, tình dục, hôn nhân; đề tài trinh thám, lịch sử, hư cấu lịch sử, dã sử; đề tài viễn tưởng, kinh dị… Trong các mảng đề tài này, người đọc tìm thấy những giới hạn mới của nhận thức như vô thức, tiềm thức, sex, trào phúng, giải thiêng, phản tỉnh… Như một hệ quả tất yếu, lại như một nguyên nhân nội tại, cảm hứng thế sự đời tư đã trở thành cảm hứng thống ngự văn học Việt Nam những năm sau Đổi mới. Trong mạch vận động có tính tổng thể của đời sống văn học, nổi bật lên tính chất đa thanh, phức điệu trong thế giới nghệ thuật của các tác phẩm, tác giả. Đó là sự hồi quy mang tính bản nguyên của một nền văn học phát triển lành mạnh, khi mọi tiếng, mọi giọng đều có cơ hội được biểu tỏ. Ta bắt gặp giọng giễu nhại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, giọng chiêm nghiệm, suy ngẫm, “lỡm nghịch” trong thơ Nguyễn Duy… Đặc biệt, tiến thêm một chặng đường nữa, văn học bắt gặp lực lượng sáng tác trẻ có tư duy, mĩ cảm rất khác biệt. Những tên tuổi như Nguyễn Bình Phương, Vi Thùy Linh, Nguyễn Ngọc Tư… đã làm nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam sau Đổi mới. Đổi mới đất nước, cùng với sự vận động chung hướng ra thế giới, văn học và văn hóa Việt bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của quá trình giải trung tâm, dịch chuyển các yếu tố ngoại vi làm thành quyển văn hóa đa thanh, giải trừ những kị húy, phủ định, tỏa bức các giá trị bên lề, chẳng hạn tác phẩm viết về đồng tính luyến ái (Một thế giới không có đàn bà, Les – Vòng tay không đàn ông - Bùi Anh Tấn, Song song - Vũ Đình Giang, Chuyện tình Lesbian và Gay - Nguyễn Thơ Sinh), về dân tộc và miền núi (Người trong ống, Vào hang - Vi Hồng,  Xứ mưa - Hoàng Thế Sinh, Đàn trời - Cao Duy Sơn… và các truyện ngắn viết về miền núi của Nguyễn Huy Thiệp). Theo những điều tra xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài Công chúng và giao lưu quảng bá văn học thời kỳ đổi mới do PGS.TS. Tôn Thảo Miên làm chủ nhiệm (Viện Văn học - 2011), sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng về mặt đề tài, chủ đề được thể hiện khá cụ thể. Các đề tài, chủ đề được nêu ra nhằm khảo sát thị hiếu của công chúng như đề tài chiến tranh, nông thôn, tình yêu, hôn nhân, lịch sử, dã sử, trinh thám, viễn tưởng, kinh dị… đã giúp minh định những diễn trạng thị hiếu thẩm mĩ trong đời sống văn học. Kết quả điều tra ngẫu nhiên trên 636 đối tượng tại Hà Nội đã cho thấy 65.9% số người được hỏi đã chọn đề tài hôn nhân, tình yêu cho sự đọc của mình. Các đề tài tiếp theo cũng minh chứng một sự chuyển dịch trong thị hiếu thẩm mĩ của công chúng: đề tài chiến tranh 37.1%, đề tài nông thôn 37%, lịch sử 31.9%, trinh thám 31% …  Các tác phẩm hướng tới giá trị tư tưởng cao, mang tầm vóc nhân văn, nhân bản thu hút được 69.1% số đối tượng tham gia khảo sát. Tiếp sau đó, các tác phẩm đề cao tính nghệ thuật cũng thu hút được tới 50.2% công chúng. Các chủ đề khác như tâm linh, vô thức thu hút 41.3%, trào phúng 38.8%. Rất đáng để ý là trong số những khảo sát này, chủ đề tình dục, sex chỉ thu hút được 14.3%. Những con số mang thông điệp khiến chúng ta phải suy nghĩ về hướng vận động trong đời sống tinh thần của con người hôm nay.

Sự thay đổi đề tài, chủ đề phản ánh sâu sắc sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học sau Đổi mới. Sự quan tâm đến những giá trị khác - “mĩ học của cái khác” (C.Lévi Strauss) đã đánh thức nền văn học trở dậy với những chức năng nhiệm vụ có tính đặc trưng của mình. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, chính vì thế, nền văn học đổi mới là nền văn học có những chuyển biến đa dạng trong cấu trúc thể loại, phản ánh nhu cầu của con người đối với những hình thức nghệ thuật ngày càng phong phú hơn. Thể loại biểu đạt phương thức chiếm lĩnh đời sống, sự thể hiện nghệ thuật của tác giả hướng tới tính chỉnh thể của nội dung và hình thức. Sự thống nhất này có tính bền vững nhưng đồng thời cũng luôn trong trạng thái vận động, biến đổi. Điều này là cơ sở để văn học sau Đổi mới đi vào những cách tân về thể loại, đáp ứng những nhu cầu, thị hiếu của con người về một hình thức nghệ thuật mới có hiệu năng thẩm mĩ cao hơn, đa dạng hơn.

Thay đổi thị hiếu thể loại là biểu hiện rõ nét trong thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Công chúng văn học sau Đổi mới đang chú ý đến những thể loại nào? Sự dịch chuyển thị hiếu thể loại mang thông điệp gì về đời sống tinh thần của con người thời kỳ đổi mới? Những điều tra xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài Công chúng và giao lưu quảng bá văn học thời kỳ đổi mới (đã dẫn) đem đến hình dung cụ thể hơn về sự vận động này. Theo các kết quả điều tra trên địa bàn Hà Nội, với số đối tượng tham gia trả lời bảng hỏi là 653 người, có 59.1% số đối tượng tìm đọc tiểu thuyết (386/653), 73.2% đọc truyện ngắn (478/653), 29.7% đọc thơ (194/653), 27.7% đọc ký và phóng sự (181/653). Lý giải nguyên do này, 57.9% số người chọn tiểu thuyết cho rằng thể loại này đặt ra nhiều vấn đề xã hội, phong phú và đa dạng, 45% số độc giả cho biết họ đọc truyện ngắn vì thể loại này ngắn gọn, đỡ mất thời gian, 28.3% số người được hỏi lại nói họ đọc thơ vì được giải tỏa tâm lý, giảm căng thẳng, mệt mỏi, tăng chất lãng mạn cho cuộc sống, 29% được hỏi đã đưa ra lý do ký và phóng sự được quan tâm bởi tính chất thông tin, sự kiện của nó. Tiếp tục phân tích sâu những số liệu điều tra được, nhóm nghiên cứu xã hội học đã nhận thấy trên phương diện lứa tuổi có 63.2% (của 478/653) trong tổng số độc giả truyện ngắn từ 18 đến 23 tuổi, 68% (của 194/653) độc giả thơ cũng ở lứa tuổi này. Như vậy, đa số độc giả của các thể loại nằm ở lứa tuổi từ 18 đến 23, là học sinh, sinh viên có điều kiện về mặt thời gian và tư liệu. Điều này tương đương với hệ luận là những lứa tuổi còn lại quan tâm chưa nhiều đến các thể loại văn học. Sức ép của cơ chế thị trường quả thực đã tác động rất lớn lên khả năng thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học là lực lượng lao động chính trong xã hội.

Mười năm sau giải phóng là quãng thời gian có tính chất quán tính trong lịch sử vận động của văn học dân tộc. Giai đoạn này có sự song hành của cảm hứng sử thi, tinh thần lãng mạn cách mạng với cảm hứng thế sự đời tư nảy sinh trong bối cảnh đổi mới. Sự bùng nổ của thể loại trường ca là kết quả có thể tiên lượng được. Hàng loạt các trường ca ra đời như là sự tổng kết, chiêm nghiệm, xác tín lại chặng đường cả dân tộc vừa đi qua. Các tác phẩm được nhắc đến của thể loại này là Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1977), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1979), Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu (1980), Con đường của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo (1981)... và sau này là Người cùng thời của Mai Văn Phấn (1999), Đổ bóng xuống mặt trời của Trần Anh Thái (1999), Trầm tích của Hoàng Trần Cương (1999), Trường ca Hàm Rồng của Từ Nguyên Tĩnh, Hành trình của con kiến của Lê Minh Quốc (2006)… Một thể loại phát triển nhưng lại mang nhiệm vụ khép lại những âm vang của một thời đại. Trường ca cũng dần dịch chuyển về phía những thể nghiệm mới, với sự xuất hiện ngay trong lòng thể loại dấu ấn đậm nét của phương thức trữ tình và đan xen nhiều điểm nhìn trong tự sự. Công chúng văn học hôm nay có lẽ không còn muốn đứng ở vị trí kẻ ngưỡng vọng trong “khoảng cách sử thi” được dựng nên từ các thể loại văn học thời chiến tranh và tiền Đổi mới. Sự rút ngắn khoảng cách trần thuật, giải thiêng, phi trung tâm hóa… kéo văn chương về lại giữa cuộc đời bộn bề và phức tạp.

Sự chuyển dịch thể loại nói lên xu thế vận động của những hình thức thể hiện, hướng tới khả năng biểu đạt cao nhất “độ sống”, “chất sống” của con người sau Đổi mới. Trong một chuyên luận có tên Viết Việt Nam đương đại. Chiến tranh, cơ thể, văn học được xuất bản tại Presses de l’Université Paris Sorbonne, tác giả Đoàn Cầm Thi cho rằng văn học Việt Nam đương đại đang có những chuyển dịch thể loại khá rõ nét. Lấy trường hợp Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Nhật ký Đặng Thùy Trâm, các tự truyện như Bóng… Đoàn Cầm Thi chứng minh rằng “tự sự chỉ là chiếc áo mặc nhờ”. Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết hay là “một tự truyện của Bảo Ninh”? Sự đan xen của các ngôi trần thuật, cách lý giải cuộc sống, những trải nghiệm từ nhiều ngôi kể đem đến cơ hội nắm bắt, chiếm lĩnh và đặt ra thông điệp thẩm mĩ một cách toàn diện hơn.

Sự thay đổi thị hiếu trong những nhu cầu thưởng thức về mặt hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học không chỉ biểu hiện ở thể loại. Công chúng của văn học hôm nay còn chú ý đến những khả năng khác của hình thức nghệ thuật như cách thức lựa chọn ngôn ngữ, cấu trúc, sự đan xen phương thức biểu đạt, các khoái cảm thẩm mĩ mang lại từ trò chơi của ngôn từ, văn bản… Biểu hiện khá rõ của những chuyển động này có thể nhận thấy trong những cách tân thơ từ sau Đổi mới. Công chúng dường như không mặn mà lắm nữa với những bài thơ đều đặn “bốn câu ba vần”, nhịp nhàng đăng đối. Con người hôm nay mang nhu cầu biểu tỏ và thụ hưởng một cách tự do các giá trị văn hóa, tinh thần - sự phá vỡ cấu trúc thể loại của thơ một cách mạnh mẽ là dấu hiệu cho thấy bước chuyển động ấy của đời sống văn học. Nói tóm lại, một hệ thẩm mĩ mới ra đời đòi hỏi có những khung hình của riêng nó. Thơ không vần, thơ tân hình thức, vắt dòng theo “hiệu ứng cánh bướm”, liên văn bản… là câu chuyện về hình thức nghệ thuật và xu hướng vận động nội tại của thơ sau Đổi mới.

Sự thay đổi tâm thế tiếp nhận, thị hiếu thẩm mĩ của công chúng là những thông điệp cụ thể về hướng chuyển động của văn học Việt Nam sau Đổi mới. Do tầm quan trọng của vấn đề tiếp nhận văn học, đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến văn học, nghiên cứu sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng là hết sức cần thiết. Trên tinh thần nhìn nhận những thay đổi này, hệ thống văn học sẽ cần có những vận động thích hợp trên tất cả các phương diện. Đó chính là ý nghĩa to lớn của việc nắm bắt những phản hồi từ cộng đồng tiếp nhận để vận hành hệ thống văn học - một trong những hoạt động nghiên cứu chủ chốt mà R. Ercaspit và các đồng sự của ông ở Trung tâm nghiên cứu xã hội học văn học Bordeaux đã chú ý từ hơn nửa thế kỉ trước


--------
(1) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên). Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Giáo dục, 2004, tr.308.
(2) Xem thêm: Bốn bài giảng mĩ học. Lý Trạch Hậu, Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

Nguồn: Văn nghệ quân đội

 

Các bài khác:
· NGUYỄN QUANG THIỀU - NẾU KHÔNG LÀM THƠ TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI
· ĐINH THỊ THU VÂN - 'NHỮNG CÂU THƠ EM VIẾT MẤT LINH HỒN'
· NGUYỄN TRƯỜNG TỘ – MỘT BI KỊCH LẠC QUAN
· VÀI CẢM NGHĨ VỀ THƠ THANH TÂM TUYỀN
· ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ MAI VĂN PHẤN - TỪ 2 PHƯƠNG CHIỀU CỦA 'PHÉP LẠ' CỦA THI CA
· TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN - MỘT PHÁT HIỆN ĐỘC ĐÁO CỦA TRƯƠNG NAM HƯƠNG
· THƠ NGUYỄN DUY - SUỐI NGUỒN TƯƠI MÁT
· PLATON LUẬN TỘI THI NHÂN
· CHU VĂN SƠN VÀ TRẦN MẠNH HẢO BÀN VỀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU
· GIỚI THIỆU TRANG THƠ CỦA CHI LAN
· NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ TRƯỜNG HỢP TRẦN DẦN
· XUÂN QUỲNH – CÁNH CHUỒN TRONG GIÔNG BÃO
· TIỂU THUYẾT MỚI
· HÀN MẶC TỬ , NGƯỜI LÀ AI?
· CHÙM TRUYỆN NGẮN MỪNG NGÀY BÁO CHÍ CM VIỆT NAM CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
· TÌNH THƠ HUY CẬN
· LỐI VIẾT TỰ ĐỘNG TÂM LINH TRONG 'TRÒ CHUYỆN VỚI CHA CON CU LẬP SƠN & LẬP THÀNH'
· THƠ QUANG DŨNG - SOI CHIẾU THEO THẨM MỸ THƠ CA HIỆN ĐẠI
· MƯỜNG MÁN - ĐỘC ĐÁO 5 TRONG 1
· NGUYỄN ĐÌNH THI - MỘT QUÃNG ĐỜI

 

  
Gia đình Bích Khê