DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NHÀ VĂN LÊ PHAN NGHỊ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Yên Bái, sáng 9- 7- 2012, trong giờ lên lớp (lớp bồi dưỡng viết văn khóa VI của Trung tâm viết văn Nguyễn Du - Hội nhà văn Việt nam mở tại Yên Bái), nhà văn Lê Phan Nghị đã lên cơn đau tim đột ngột. Dù đã được đưa đế bệnh viện cấp cứu ngay sau đó, nhưng do tuổi cao, sức yếu, nhà văn đã qua đời.

Xin chia buồn cùng gia quyến và thông tin để bạn bè văn chương được biết

 

Trân Trọng

 

Nhà văn Lê Phan Nghị:
Xem hình
 

- Họ và tên: Lê Phan Nghị
- Ngày, tháng, năm sinh: 11 - 4 - 1944
- Bút danh: Châu Giang, Tuấn Anh
- Quê quán: Xã Công Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam
- Địa chỉ liên hệ: Tổ 19, khu phố 3, phường Vân Cơ
TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Chức vụ, đơn vị công tác: Nghỉ hưu
- Điện thoại: NR: 0210 6561 944 DĐ: 0913 283 056
- Trình độ chuyên môn: Kỹ sư Thủy lợi, Kỹ sư Xây dựng, Cử nhân Luật
- Trình độ lý luận chính trị: Trung cấp
- Hội viên chuyên ngành: Văn xuôi - Hội VHNT tỉnh Phú Thọ
- Hội viên các Hội chuyên ngành TW: Hội VHNT các DTTS Việt Nam; Hội Nhà báo Việt Nam; hội viên Hội Luật gia Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam
- Tác phẩm chính đã công bố:
+ Tập kịch nói "Tình người hậu phương" - Ty Văn hoá Hà Giang 1967 được dàn dựng hội diễn quần chúng tỉnh Hà Giang 1967 đoạt giải 3
+ Tập truyện "Khi chim xa bầy" - Nhà xuất bản VHDT năm 2000
+ Tiểu thuyết "Những nẻo đời thường" - Nhà xuất bản VHDT 2005
+ Tập truyện "Những mảnh đời" - Nhà xuất bản VHDT năm 2006
+ Tập truyện "Hồn núi" - Nhà xuất bản VHDT năm 2008
Sắp công bố: tiểu thuyết "Nước mắt của đất" và nhiều truyện ngắn, bút ký đăng tải trên các tạp chí, báo trung ương và địa phương.
- Giải thưởng:
+ Giải Ba viết về An ninh Đất Tổ tỉnh Vĩnh Phú
+ Giải Ba viết về Lao động Công đoàn tỉnh Vĩnh Phú
+ Giải Ba viết về Dân số kế hoạch tỉnh Phú Thọ
+ Giải B giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ 1995-2000
+ Tặng thưởng của UBND tỉnh về văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ 2000-2005
+ Giải khuyến khích giải báo chí toàn quốc năm 1999.

 

 

TÁC PHẨM

SAU NHỮNG HỒI CHUÔNG NGUYỆN

 

            Lâu rồi người dân xứ đạo Hương Thịnh không còn nhìn lão bằng con mắt ghẻ lạnh, xa lánh nhưng mọi người lại quên hai tiếng “Ông Trùm… mà họ gọi lão là “Lão Mộc”. Ngày trước người ta khinh lão ra mặt. Anh em họ hàng nhà lão cũng thiếu mặn mà. Họ đến với lão chẳng qua là để giữ cái nghĩa.. máu chảy đến đâu, ruồi bâu đến đó” chứ chẳng phải thịnh tình gì. Lão cũng biết điều ấy rất rõ. Dạo ấy lão ít ra khỏi nhà để tránh những ánh mắt soi mói, dò xét. Những lúc trong người bứt rứt lão lại ôm quyển Kinh thánh vào nhà thờ quỳ trước bàn thờ Chúa cầu nguyện. Lão cứ lầm lũi một mình như vậy trong cái khuôn viên chưa đầy trăm mét vuông phía sau nhà thờ. Gần đây người ta thấy lão gầy rộc, da xanh ngắt, nhất là từ sau cái hôm cán bộ trên huyện cùng với mấy ông cán bộ xã ở nhà lão ra về người ta quan sát thấy lão ra khỏi nhà với bộ mặt biến sắc. Hôm được Uỷ ban xã mời ra trụ sở, chẳng biết người ta nói với lão những gì, lúc ra về hai con mắt lão đỏ hoe. Đêm hôm ấy hàng xóm thấy nhà lão chong đèn từ chập tối đến sáng. Có người còn nói như đinh đóng cột là nghe được tiếng sụt sịt từ con người lão. Dường như lão khóc. Tiếng khóc của sự xót xa, đau đớn vì sự mất mát. Mấy người gần gặn sang chơi hỏi thăm binh tình, lão thều thào: “Thằng Mịch nhà tôi hy sinh rồi! Chính quyền sắp làm lễ truy điệu cho nó!”. Người ta ngỡ ngàng gặng hỏi:

 

            - Nó đi bộ đội bao giờ mà hy sinh hả ông Trùm?

            - Tôi cũng chẳng biết nữa!

            Lão nói trong tiếng nấc rồi lặng đi trong sự đau đớn, mất mát.

            Tin thằng Mịch nhà lão Mộc hy sinh, cấp trên sắp tổ chức lễ truy điệu, công nhận là liệt sỹ chẳng mấy chốc loan khắp xã, khắp xứ đạo. Họ kháo nhau:

            - Thằng bé thế mà kín. Bỗng dưng bặt vô âm tín, làm khổ bố bấy nhiêu năm.

            - Tội nghiệp ông lão, nhà chỉ có một bố một con!

            - Thằng bé kín là phải. Phô với bố chả đời nào lão ấy cho nó đi bộ đội. Mấy đứa cháu họ trong làng đi thanh niên xung phong lão còn tìm đủ cách ngăn cản.

 

            - Thằng Mịch là liệt sĩ, lão Mộc như trút đi được gánh nặng đeo đẳng bấy nhiêu năm.

            Mỗi người một cách nói, cách nhận xét, chẳng ai giống ai. Có người bằng cái giọng châm biếm: “Thảo nào mấy hôm rồi lễ cầu nguyện xong, mọi người về hết lão vẫn quì trong nhà thờ, chắc là sám hối trước Chúa!”. Những người có chút hiểu biết tỏ ra ý tứ: “Chỉ vớ vẩn, thằng Mịch là liệt sĩ, ông Mộc là gia đình chính sách chỉ biết là tự hào chứ sám hối cái nỗi gì? Còn việc làm sai trái trước đây của lão, người xứ này chẳng ai để ý nữa!”. Cuộc tranh luận vô bổ của mấy người rỗi mồm thừa hơi dừng lại khi tiếng chuông nhà thờ vang lên những hồi dài.

 

            Lão Mộc được ban cái chức “Ông Trùm” từ khi cha Phaolồ Thịnh về chủ trì xứ đạo Hương Thịnh. Trùm Mộc được cha xứ giao cho nhiều việc, việc nào ông ta cũng hoàn tất theo đúng khả năng và chức phận. Thuở ấy, giáo dân trong xứ đạo ai cũng trân trọng và tôn kính lão. Lạm dụng sự tin cậy ấy Trùm Mộc làm nhiều điều khiến không ít người nghi ngại. Chẳng biết đó có phải đó là lời cha xứ hay ông Trùm phịa ra để khuyếch trương uy tín của bản thân? Người xứ đạo Hương Thịnh và cả xã Công Bằng còn nhớ như in những việc làm của lão hồi mới giải phóng miền Bắc năm một ngàn chín trăm năm mươi tư, lão đi từng nhà vận động giáo dân di cư vào Nam. Lão nói xưng xưng rằng là cha xứ và lão nằm mơ thấy Đức Chúa Giê - su về bảo rằng: “ Tất cả các con chiên của Chúa hãy đi về phía Nam. Vùng đất phương Nam là nơi đất lành, con chiên sẽ được chúa ưu ái ban phước lành. Ai không nghe theo sẽ bị Chúa lãng quên và sẽ bị trừng phạt” vân vân và vân vân. Trùm Mộc còn cả quyết như đinh đóng cột: “Ở các xứ đạo như Bùi Chu, Phát Diệm, Phú Đa hay Bắc Ninh, người ta vâng lời Chúa đi từ lâu rồi. Họ được Đức Chúa Giê-su ban phước lành đang an cư lạc nghiệp”. Cũng không ít người nhẹ dạ cả tin gồng gánh bầu đàn thê tử cuốn theo dòng chảy di cư vào Nam. Trùm Mộc cũng để vợ và đứa con gái theo cha Thịnh đi trước. Dạo ấy thằng Mịch còn bé lại đang lên sởi. Lúc chia tay cha Thịnh và vợ cùng đứa con gái, Trùm Mộc nói trong sự lưu luyến: “Cha cho vợ con và cháu đi cùng, gia đình con chịu ơn cha và chúa suốt đời, thằng bé khỏi ốm con sẽ đưa cháu vào theo”. Dứt lời, lão đưa tay lên vai, lên trán, miệng lẩm bẩm: “Nhân danh Cha - Con - và Thánh thần Amen”. Lão cúi đầu, lùi lại rồi bước những bước chân nặng trịch về nhà.

 

            Thằng Mịch khỏi ốm cũng là lúc lão Mộc không còn thời cơ để đi vào Nam với vợ và con gái. Lão trút mọi giận hờn vào đứa con tội nghiệp, chửi mắng chán lão lại vào nhà thờ cầu nguyện, lão nuôi hy vọng: Chúa lòng lành có phép mầu sẽ giúp lão thực hiện được lời hứa với vợ và cha xứ.

 

             Ở lại xứ đạo Hương Thịnh - nơi quê cha đất tổ của lão nhưng Trùm Mộc lại thấy đó như một nơi xa lạ không một người thân thích. Lão sống trong cô đơn tuyệt vọng. Hàng tháng trời lão chỉ quanh quẩn ở nhà hoặc trong nhà thờ. Ló mặt ra đường tai lão lại phải nghe đủ điều. Người xứ đạo thì nửa thăm hỏi, nửa dò la. Kẻ ngoại đạo thì châm chọc: “Tưởng ông Trùm theo cha Thịnh vào chốn thiên đường rồi?”. “Sao ông Trùm lại cả tin để bà trùm yêu quí và đứa con gái cưng đi như vậy?”. “Ông Trùm không sợ thân gái dặm trường à? Hí…hí…hí”. Nghe những lời ấy, lão lại lấy tay làm dấu, miệng lẩm nhẩm: “Nhân danh Cha - Con và Thánh thần Amen” rồi lão vào nhà thờ có khi ở đó cả buổi mới ra về. Mãi rồi cũng quen, lão tự an ủi: “Kệ. Miệng lưỡi thế gian chấp gì! Chúa trời có mắt”. Cũng có lúc lão tỏ ra tự tin nói một cách bâng quơ: “Các người chớ vội đắc ý kẻo lại sám hối không kịp”.

 

            Lễ Nô-en năm ấy Cha bề trên cử linh mục Phêrô Chỉnh về làm lễ. Có cha xứ mới, giáo dân lại có dịp sum vầy trong nhà thờ nghe cha giảng đạo. Trong buổi lễ trọng có cha giảng đạo ai cũng thấy vui, riêng với trùm Mộc thì sự vui và phấn chấn khác hẳn. Với lão, đây là dịp để thể hiện hết tài cán của một ông Trùm xứ đạo để được lòng cha xứ. Không biết cha xứ nói với ông Trùm thế nào nhưng sau lễ No en lão cứ tha thẩn hết nhà này sang nhà khác, lúc thì hỏi chuyện nhà này đã có mấy người theo cha Thịnh vào Nam, khi thì hỏi nhà kia có mấy người chưa đi được. Cũng có nhà lão Mộc thẳng thừng: “Lần này cha Chỉnh lo được đường dây thì có đi vào trong ấy không?”. Nể lão, nhiều người ầm ừ cho qua chuyện: “Ông Trùm cứ thưa với cha xứ, cha lo được đường đi nước bước thì chúng tôi sẵn sàng”. Cũng có người nhận lời nhưng lại với giọng mỉa mai: “Ông Trùm lo được đường dây thì đi trước đi. Vợ và con gái ông Trùm đang ở trong ấy cần hơn”. Nghe những câu trả lời ấy, Trùm Mộc tức tối nhưng lão dằn lòng suy nghĩ: Xem ra người ta nói có lý. Lão xoa dịu: “Thì cha xứ giao cho ta đi thăm dò, hỏi hạn thì ta hỏi, Trùm Mộc này chả có cái quyền gì để bắt người này đi, bảo người kia ở lại”. Dứt lời lão cười hở cả hai hàm răng đen xì. Bị bốp chát vậy nhưng lão vẫn chứng nào tật ấy, lão vẫn đi vẫn đến từng nhà. Hôm nay xóm này, mai xóm kia vẫn hỏi, vẫn dò trước, đón sau.

 

            Tết Nguyên đán năm ấy lão nhận được tấm bưu thiếp của vợ từ bên kia giới tuyến gửi ra. Bưu thiếp chỉ vẻn vẹn mấy dòng: “Anh và thằng cu Mịch có khoẻ không? Em và con gái ở trong này nhờ ơn chúa phù hộ vẫn bằng an. Chúc hai bố con ở ngoài đó cũng bằng an, mạnh khoẻ. Cầu chúa phù hộ che chở cho hai bố con. Tạm biệt anh và con. Ký tên: Bùi Thị Tĩnh”. Trùm Mộc đọc đi đọc lại tấm bưu thiếp như muốn tìm kiếm điều gì trong đó nhưng chẳng có. Lão vò tờ bưu thiếp vứt xuống đất rồi đứng phắt dậy lấy chân di di lên đó, Lão kêu lên: “Giê-su-ma lạy chúa tôi! Thế này là thế nào? Hỏng, hỏng cả rồi”

 

            Chuyện Trùm Mộc nhận được bưu thiếp của vợ bỗng dưng thành câu chuyện đùa của nhiều người. Cứ gặp lão là người ta tại tếu táo: “Ông Trùm ơi! Bà Trùm nhắn ông bao giờ vào với bà ấy và con gái? Chắc bây giờ bà trùm có cơ ngơi đầy đủ, ông vào đấy thì sướng bằng đế vương”; “Bao giờ ông Trùm đi ới nhà cháu đi cùng với nhé!”. Không ít lần Trùm Mộc nổi cáu: “Việc nhà tôi, kệ tôi, ai khiến các người xí vào. Rõ dơ! Từ rày tôi… tôi... tôi mặc xác các người”. Miệng nói vậy nhưng trong đầu lão lại đang nghĩ khác. Trùm Mộc luôn là con chiên ngoan đạo, một ông Trùm xứ đạo có không ít chuyện làm bận tâm các cấp Chính quyền địa phương. Mấy lần Uỷ ban xã mời lão ra trụ sở nhưng lần nào lão cũng tìm cách biện bạch. Không có chứng cứ cụ thể chẳng ai bắt bẻ hay khép tội lão được. Mỗi lần như thế, ra khỏi cổng Uỷ ban, gặp ai lão cũng thao thao cái miệng nửa như thanh minh, nửa như quả quyết: “Trùm Mộc này luôn là con chiên kính chúa yêu nước, chẳng có tội gì”. Lão nói mặc lão, không ai thèm để ý.

 

            Qua cái đận vận động giáo dân di cư lại đến chuyện tổ chức Hợp tác xã nông nghiệp. Chính quyền và các đoàn thể họp dân từng xóm, từng thôn để phổ biến chính sách về Hợp tác xã. Chẳng biết có ai xúi bẩy nhưng người ta thấy cha xứ nói trong nhà thờ một đằng thì lão làm một nẻo. Cũng chẳng biết có điều gì uẩn khúc nữa (?) Lão lại đến từng nhà vận động đừng vào Hợp tác xã. Lão chẳng úp mở mà nói toạc ra: “Có mà điên mới đem trâu cày, ruộng cấy của mình góp vào để cho mấy ông Ban quản trị làm chủ còn mình thì vác rá đến kho chờ họ phân phát cho vài ba cân lúa, cân ngô”. Lão thở dài vẻ mệt mỏi: “Ôi dào! Chẳng khác nào cảnh chia quả thực dạo cải cách ruộng đất”.

 

            Mặc cho lão dè bửu, châm chọc, cuối năm ấy Hợp tác xã Hương Thịnh cũng được thành lập. Làm ăn tập thể đông vui, có giờ giấc, vơi đi bao nỗi vất vả cho nhiều gia đình neo đơn. Con cái họ được đến trường học tập, tuổi nào lớp ấy. Thằng Mịch nhà lão cũng vậy. Một số người trước đây còn hoài nghi chưa vào Hợp tác xã, sau cũng làm đơn tự nguyện làm xã viên. Trùm Mộc được cha xứ giao cho cai quản hơn hai mẫu ruộng của Nhà thờ, vụ ấy chẳng ai cấy hộ. Đắn đo mãi lão đề nghị với Ban quản trị Hợp tác xã xin được cho Hợp tác xã cấy giẽ. Hôm lão đến đặt vấn đề, chủ nhiệm Hợp tác xã khéo léo: “Ông Trùm đã có nhời, Hợp tác xã xin nhận làm giúp nhà thờ chứ không phải cấy giẽ như ông Trùm nghĩ. Chúng tôi cũng là con chiên của Chúa!”. Nghe chủ nhiệm nói thế, Trùm Mộc xoa xoa hai bàn tay vào nhau giọng khúm núm: “Cám ơn ông chủ nhiệm, cám ơn Ban quản trị. Được như vậy thì tốt quá, cầu chúa ban phước lành cho các ông”. Sau lần ấy, gặp ai lão cũng khoe: “Nhà thờ và trùm Mộc này cũng vào Hợp tác xã rồi nhé. Hơn hai mẫu ruộng nhất đẳng điền chứ không ít đâu đấy”. Nghe lão nói vậy, mọi người như thông cảm: “Ông Trùm làm vậy là phải, Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ. Giao ruộng cho Hợp tác xã là hợp với lẽ đời, công bằng, minh bạch, rạch ròi. Đến vụ thu hoạch ông Trùm cứ ra sân kho Hợp tác xã nhận sản lượng về cho nhà thờ”. Vụ ấy được mùa, uy tín Hợp tác xã nâng lên, kho lúa nhà thờ thêm nhiều tạ, Trùm Mộc trở nên im lặng… 

 

            Bặt tin vợ lâu ngày, Trùm Mộc sinh đổ đốn. Thói trăng hoa chẳng biết tự bao giờ đã len lỏi vào cái con người khô như que củi, suốt ngày ôm kinh cầu nguyện. Người ta đã trông thấy lão thầm thì to nhỏ với Maria Hiền. Không ít lần lão nắm tay Hiền đi về phía nhà lão. Có hôm hai người trò chuyện to nhỏ với nhau cả buổi. Lần lão rủ Maria Hiền sang nhà trò chuyện, hai người cười nói râm ran. Lão chẳng ngờ thằng Mịch đi học về lúc nào không biết. Nó nhìn thấy hai người một nằm, một ngồi trên chiếc giường gian trái nhà vẻ quấn quýt với nhau. Tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, nó ném chiếc cặp sách lên bàn rồi chạy một mạch ra cổng không ngoái cổ lại. Lão Mộc chạy theo gọi con, càng gọi, nó càng chạy nhanh hơn. Không đuổi kịp được Mịch, lão quay về thì gặp Maria Hiền đang chít lại khăn rồi bẽn lẽn nói với lão: “Em về đây!”. Trùm Mộc an ủi: “Kệ nó, chả việc gì phải bận tâm. Rồi nó sẽ hiểu”. Lão đâu có ngờ, từ hôm đó thằng Mịch ra đi mãi mãi không về… 

 

            Lễ truy điệu thằng Mịch được tổ chức ở sân trụ sở Uỷ ban trọng thể và trang nghiêm. Hôm nay chính quyền làm lễ truy điệu cho thằng Mịch, cha sứ cho gióng chuông nhà thờ liên hồi từ sáng sớm cho đến khi buồi lễ kết thúc. Buổi lễ có mặt đông đủ cán bộ xã, đại biểu của huyện, giáo dân xứ đạo Hương Thịnh và nhân dân các thôn trong xã. Không ai cầm được nước mắt khi ban tổ chức đặt bức ảnh của Mịch được phủ cờ đỏ sao vàng. Trùm Mộc thì ngất xỉu phải hai người dìu mới đứng dậy được. Lão đứng như tượng cả buổi lễ, nước mắt trào ra người ta phải lau giúp lão. Xúc động hơn là lúc cán bộ huyện đội đọc đoạn điếu văn: “sinh ra trong một gia đình công giáo, vượt qua rào cản chính từ người cha, với lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc, chàng thanh niên Tạ Đức Mịch đã tình nguyện nhập ngũ vào bộ đội, người chiến sĩ Tạ Đức Mịch đã luyện tập giỏi, chiến đấu mưu trí, dũng cảm được đồng đội yêu mến, được kết nạp vào Đảng. Đồng chí Tạ Đức Mịch đã được Chính phủ và Quân đội tặng thưởng Huân chương Chiến công cùng với nhiều phần thưởng khác. Đồng chí Tạ Đức Mịch hy sinh anh dũng trong một trận chiến đấu tại mặt trận phía Nam… Thiếu uý Tạ Đức Mịch hy sinh, quân đội mất đi một người chiến sĩ, người đồng chí nhiều triển vọng; gia đình mất đi một người con hiếu thảo; xứ đạo Hương Thịnh mất đi một giáo dân rất mực yêu nước và kính chúa…”. Sau phút mặc niệm để tưởng nhớ người đã khuất là tiếng khóc của người thân, tiếng sụt sùi của những người đồng đội. Trùm Mộc ngất đi ngất lại, người ta phải dìu đưa lão về nhà.

 

            Lễ truy điệu kết thúc, mọi người quây quần quanh mấy anh cán bộ huyện đội để tìm hiểu về sự hy sinh của Mịch. Qua câu chuyện với các anh, người dân xứ đạo càng hiểu thêm và tự hào về chàng thanh niên – liệt sĩ Tạ Đức Mịch.

 

            … Thằng Mịch vụt ra khỏi nhà, mặc cho tiếng gọi hớt hải của bố với đuổi phía sau, nó chạy như ma đuổi. Đến đầu làng nó sững lại, nó đến bên cây gạo to ngồi phịch xuống cái rễ kếch xù nổi dài trên mặt đất. Mịch ôm đầu khóc, khóc nức nở. Trong tiếng khóc của nó  rõ có tiếng gọi mẹ. Có người đi qua, nó ngồi lặng thinh để tránh những con mắt gian giảo và những đầu óc hay thóc mách chuyện hàng xóm. Nó ôm đầu, có lúc còn lấy hai bàn tay vỗ thùm thụp vào đầu, kèm theo những cái vỗ ấy là những suy nghĩ đang dày vò nó: “Mịch ơi! Mày đi đâu về đâu bây giờ? Văn hóa cấp 3 học dở, lại là con trai của ông Trùm xứ đạo liệu có ai tin và chứa chấp mày…?”. Rồi Mịch hét lên: “Trời đất ơi! Chúa trời ơi? Hãy bảo cho con phải làm gì lúc này đi chứ? Sao các người lại câm lặng tất cả? Hay là… hay là các người cũng đang bất lực với những điều khuất tất đang hiện hữu ở thế gian này?”. Trấn tĩnh giây lát, Mịch đứng phắt dậy nói thật to: “Phải rồi, bộ đội. Bộ đội. Đi bộ đội!”. Rồi Mịch chạy một mạch về nhà xã đội trưởng. Gặp được xã đội trưởng, Mịch nằng nặc: “Chú ơi! Chú cho cháu đi bộ đội đánh Mỹ. Chú hứa đi chú”. Xã đội trưởng dường như đọc được tâm trạng của Mịch, chậm rãi phân trần: “Ước nguyện của cháu là chính đáng, nhưng tuyển quân phải có đợt, chú không giúp ngay bây giờ được, cháu hãy về học hết cấp 3 đi, có văn hóa sau này còn nhiều cơ hội cống hiến cho Tổ quốc”. Thất vọng với câu trả lời của xã đội trưởng, Mịch đứng dậy: “Hay là chú quan niệm cháu là con trai ông Trùm Mộc? Bố cháu khác, cháu khác!”. Xã đội trưởng ôn tồn: “Cháu đừng hiểu sai ý chú, chú cũng như các đồng chí lãnh đạo xã luôn luôn biết trân trọng những suy nghĩ và việc làm vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, các chú không phân biệt đó là “lương” hay “giáo”, ngay trong xã mình, xứ đạo Phú Hưng và xứ đạo Hương Thịnh đã có gần hai chục thanh niên đang trong quân ngũ cầm súng giết giặc. Nếu cháu quyết tâm, chú sẽ viết giấy giới thiệu với huyện đội để các đồng chí ấy sắp xếp? Mịch hớn hở gật đầu. Đêm ấy mịch không về nhà mà đến ngủ nhà người bạn cùng học ở thôn Phú Hưng.

 

            Cầm lá thư giới thiệu của xã đội trưởng về huyện trong lòng Mịch vô cùng phấn chấn. Những ước mơ được giết giặc lập công, giải phóng đất nước và điều quan trọng là gặp được mẹ với chị gái bao năm cách trở cứ lởn vởn trong tâm trạng Mịch. Gần đến địa điểm huyện đội sơ tán, Mịch bắt gặp một đơn vị bộ đội đang hành quân qua, họlà những tân binh vừa mới nhập ngũ. Mịch bỏ ý định đến gặp huyện đội mà nhập vào đoàn tân binh nhưng khổ nỗi những người đi trong hàng ngũ đều mặc quần áo bộ đội, ba lô con cóc, đi dầy, đội mũ bộ đội, còn Mịch vẫn đôi dép cao su, bộ quần áo bà ba nâu sòng dân giã. Mặc. Mịch hoà vào đoàn lính mới ấy nhưng đi sau cùng. Lúc đơn vị dừng chân nghỉ lại để ăn trưa, ăn tối Mịch chẳng có gì ăn. Mịch vào quán bên đường mua cái bánh uôi, bánh tẻ ăn tạm. Ngày thứ 3, chỉ còn lội qua con sông nhỏ là đơn vị về đến doanh trại tập kết. Hai phần ba chiến sỹ đã sang bờ bên kia thì nước lũ đầu nguồn bất chợt tràn về, không ít chiến sỹ không biết bơi phải chịu cảnh chơi vơi trong dòng nước. Không chút đắn đo Mịch lao xuống cùng với nhiều chiến sỹ vật lộn với sóng nước đưa được anh em vào bờ. Người cuối cùng Mịch đưa vào bờ là một thanh niên dân tộc Mường Phú Thọ. Đưa được người ấy lên bờ cũng là lúc Mịch mệt quá ngất xỉu, người ta phải đưa Mịch về Trạm xá Trung đoàn để điều trị phục hồi sức khoẻ. Cũng phải hơn mười giờ đồng hồ Mịch mới hồi tỉnh. Thượng uý chính trị viên tiểu đoàn hỏi:

 

            - Em ở tiểu đội nào?

            - Không có!

            - Đại đội nào?

            - Không có!

            Chính trị viên tiểu đoàn sửng sốt:

            - Ô hay! Cậu này mất trí à?

            Nhận biết được thái độ của người thủ trưởng, Mịch từ từ nhổm dậy rồi lựa lời phân minh. Tay lần vào túi áo lôi ra tờ giấy được gói trong miếng ni lông nhưng đã bị ướt sũng đưa cho người cán bộ. Nghe những lời Mịch kể và hành động của Mịch không sợ hy sinh tính mạng, lao vào dòng nước lũ cứu đồng đội, kết hợp với lá thư giới thiệu của xã đội, người chính trị viên ôm chầm lấy Mịch ôn tồn: “Tôi hiểu. Từ hôm nay em là chiến sỹ của tiểu đoàn”.

 

            Chủ nhật tuần ấy, cha Phêrô Chỉnh làm lễ cầu nguyện cho thằng Mịch theo nghi thức nhà thờ. Từ sáng sớm chuông nhà thờ đã gióng lên những hồi dài báo tin trong sứ đạo có chuyện…. Giáo dân xứ Hương Thịnh và xứ Phú Hưng cùng tham dự. Không phải họ hàng, dòng tộc nhưng tất cả những người có mặt đều rơi nước mắt. Bức ảnh thằng Mịch có dải băng tang đặt ở một vị trí trang trọng dưới chân cây Thánh giá. Cha sứ vẩy nước Thánh vào tấm ảnh, cha đặt tên Thánh cho Mịch rồi đọc lời cầu nguyện: “…cầu mong cho linh hồn Giuse Tạ Đức Mịch - con chiên ngoan của Chúa, đã biết hy sinh vì dân tộc, vì chúa, vì đất nước. Chúa lòng lành hãy dang tay đón linh hồn ấy về với Chúa nơi thiên đàng. A men !”. Không gian nhà thờ chìm trong yên lặng rồi lại rộ lên tiếng kinh cầu nguyện cho người quá cố… 

 

Buổi lễ cầu nguyện cho thằng Mịch xong từ lâu nhưng Trùm Mộc vẫn quì trong nhà thờ, cạnh lão là quyển kinh dày cộp. Lão đọc kinh nguyện rồi lão khóc, lão làm dấu, miệng lẩm nhẩm: “Nhân danh Cha - Con - và Thánh thần Amen!”. Chẳng cần biết lão nghĩ gì nhưng ai cũng hiểu lão đang ân hận về những điều lão đã làm trước đây trái với lời răn của chúa, trái với pháp luật quốc gia. Chỉ có một điều - Thằng Mịch con trai lão đã làm nên một việc hơn cả điều thánh thiện!

Nguồn: phongdiep.net

 

Các bài khác:
· VỚI NGUYỄN ANH NÔNG VÀ THƠ
· THEO DẤU CHÂN THÁNH THƠ CAO BÁ QUÁT
· NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ BÚT TRE
· CHUYỆN TÌNH CỦA PASTERNAK VÀ LARA
· CUỐN TIỂU THUYẾT 'HÒN ĐẤT' VÀ TÔI
· TÁC GIẢ 'MÙA BIỂN ĐỘNG' ĐÃ QUA ĐỜI
· VĂN THÙY VÀ BẢN DI CHÚC BẰNG THƠ
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ TIẾNG ANH 'SINCE I LET YOU GO' CỦA VƯƠNG ĐẰNG
· BÀI THƠ ÍT ĐƯỢC BIẾT: 'MẮT EM NGẤN LỆ' CỦA HỮU LOAN
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? (Kỳ 1)
· HÌNH BÓNG HỒ XUÂN HƯƠNG QUA THƠ PHẠM ĐÌNH HỔ
· MAI VĂN TẠO - NGƯỜI CON CỦA NÚI SAM
· THƯ NGỎ GỬI HỘI THẢO THƠ 'THƠ HIỆN ĐẠI VN VÀ NGUYỄN QUANG THIỀU'
· PHƯƠNG XÍCH LÔ - 10 NĂM XÍCH LÔ HÀNH CHỞ GIÓ
· NHỮNG CON CHỮ HIỆN LÊN TỪ ĐÁY CHÉN TRÀ
· NGHI ÁN VĂN HỌC: KỊCH THƠ 'BÓNG GIAI NHÂN'
· LÊ THỊ MÂY VÀ VẾT SẸO THƠ
· SỰ THAY ĐỔI THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA CÔNG CHÚNG VĂN HỌC SAU ĐỔI MỚI
· NGUYỄN QUANG THIỀU - NẾU KHÔNG LÀM THƠ TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI
· ĐINH THỊ THU VÂN - 'NHỮNG CÂU THƠ EM VIẾT MẤT LINH HỒN'

 

  
Gia đình Bích Khê