DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG TRẦN CƯƠNG – PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ

Bùi Thị Cẩm Nhung


Đối với Hoàng Trần Cương, thơ ca là một mảnh vườn màu mỡ để anh “trồng cây sáng tạo”. Một điểm sáng nổi bật trong sự sáng tạo đó là về mặt thể thơ trong nghệ thuật thơ. Anh vận dụng nhuần nhuyễn cả thể thơ truyền thống lẫn thể thơ hiện đại, mà trong đó, chúng tôi đã khảo sát và nghiên cứu thấy rằng anh sử dụng rất nhuần nhuyễn thơ lục bát, rất điêu luyện ở thể thơ năm tiếng và biến tấu rất mực tài hoa ở thơ tự do. Có thể nói anh đã góp phần cách tân thơ Việt Nam hiện đại ở phương diện thể thơ.


Hoàng Trần Cương là một trong những nhà thơ hiện đại tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam sau 1975. Nhà thơ xuất hiện trên thi đàn từ những năm 70 của thế kỉ XX. Gần 40 năm sáng tác, Hoàng Trần Cương đã có nhiều đóng góp cho nền thơ ca dân tộc.

Nhiều công trình nghiên cứu cũng như nhiều bài tiểu luận, bài báo của các nhà nghiên cứu, phê bình đã viết về thơ và trường ca Hoàng Trần Cương, cũng như đã đánh giá cao thơ của anh và những đóng góp thơ anh vào tiến trình thơ hiện đại. Nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ về những tìm tòi sáng tạo cũng như những đóng góp quan trọng của nhà thơ. Việc nghiên cứu tìm hiểu về đặc điểm thơ và trường ca Hoàng Trần Cương là một yêu cầu cấp thiết để nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện những đóng góp của nhà thơ cho nền văn học nước nhà trong hơn ba mươi năm qua.

Muốn khai thác sâu những “lớp trầm tích” trong thơ Hoàng Trần Cương, người đọc trước hết phải khám phá bề mặt ngoài cùng, đó là những phương thức nghệ thuật thơ mà anh sáng tạo ra. Đọc thơ và trường ca Hoàng Trần Cương, không ai có thể phủ nhận những sáng tạo của anh trong cách lựa chọn, cách thể hiện về thể thơ.

Hầu hết thơ và trường ca Hoàng Trần Cương đều làm theo thể thơ tự do, kế đó là thể thơ năm tiếng và thơ lục bát. Ta có thể thống kê được trong 2 tập thơ (Dấu vết tháng ngày, Quà tặng hành tinh) là 61/81 bài được viết theo thể thơ tự do, chiếm tỉ lệ khoảng 75%, 14/81 bài viết theo thể thơ năm tiếng, chiếm tỉ lệ khoảng  17%, 4/81 bài viết theo thể lục bát, chiếm tỉ lệ khoảng 5%, còn lại là 2 bài thơ làm theo thể thơ bảy tiếng và thể thơ bốn tiếng; và 4 tập trường ca Hoàng Trần Cương (Trầm tích, Đỉnh vua, Cặn muối, Long mạch) thì ngoài chương Cá gỗ trong Trầm tích được viết theo thể thơ năm tiếng, còn lại thì toàn được viết theo thể thơ tự do.

Qua khảo sát và phân tích, chúng tôi nhận thấy về mặt thể thơ, thơ và trường ca Hoàng Trần Cương có một số đặc điểm sau:

1.1. Sự linh hoạt trong thơ lục bát

Thơ lục bát của Hoàng Trần Cương thường là những bài thơ ngắn, khoảng bốn hoặc tám dòng thơ, thường thể hiện những khoảnh khắc đời thường, những tâm sự dồn nén hay những cảm xúc bất chợt của nhà thơ. Ở thể thơ này, thơ anh vừa có những câu thơ thể hiện chất mộc mạc, mang dáng dấp của ca dao, dân ca, vừa có những câu thơ thể hiện sự cách tân. Điều đó thể hiện sự linh hoạt, tinh tế của nhà thơ khi sử dụng thể thơ truyền thống này để bày tỏ những nội dung trữ tình phong phú từ cuộc sống.

Ta có thể bắt gặp những câu thơ mang âm hưởng của ca dao, dân ca trong thơ lục bát Hoàng Trần Cương với nhịp thơ uyển chuyển cùng với những hình ảnh thật mộc mạc thân quen: “cổng làng”, “rơm rạ”, “mắt lá răm”,…: “Đá dăm rơi rụng lề đường/ Lạc loài hay trốn phố phường về đây/ Chiêm mùa rải nắng hây hây/ Nhớ ai rơm rạ nằm ngay cổng làng (…) Đường dài còn lắm đá dăm/ Thương anh khép mắt lá răm em chờ…” (Đá dăm).

Có khi câu thơ lục bát có đưa vào những lời nhắn theo phong cách khẩu ngữ làm cho câu thơ sinh động, mang màu sắc mới: “Thôi thì đành gọi: ới...ơi/ Mà sao đáy mắt lại ngời cỏ xanh/ Cho lưng trời nắng thất thanh/ Để hoàng hôn mải loanh quanh với chiều”  (Hoàng hôn xanh).

Ngắt dòng, chuyển dòng, chấm câu,… là cách làm mới thơ lục bát trong thơ ca hiện đại. Cách làm mới thường thấy nhất trong lục bát Hoàng Trần Cương là ngắt câu giữa dòng thơ. Với kiểu ngắt câu ấy, nghĩa của câu chữ trong thơ dường như mở rộng hơn, nối dài hơn, chuyển tải được nhiều điều tác giả muốn gửi gắm hơn: “Thoạt nhìn. Chợt nhận ra em/ Phố đông. Vẫn dáng thân quen buổi nào/ Khát khao. Thăm thẳm lời chào/ Mưa bay. Để nắng lặn vào mắt trong” (Xa xăm). Cách ngắt câu ở bài thơ trên làm ta cảm nhận được sự ngập ngừng, bối rối và có chút gì ngậm ngùi, hụt hẫng trong ý thơ. Nó còn thể hiện sự trầm lắng, điềm đạm trong cái nhìn xa xăm của một người từng trải. Những dấu chấm câu như thể hiện một khoảng lặng, sự dừng lại, sự phân vân của cảm xúc để mà tiếp tục dòng suy tư: “Day dưa chi nắng chiều dâng/ Ráng vàng sắc mật bâng khuâng quá chừng/ Nửa muốn đi. Nửa muốn dừng/ Mắt em một thoáng ngập ngừng. Điều chi?” (Bâng khuâng). Nó cũng thể hiện một sự lý giải những cảm xúc ồ ạt, dồn nén và chân thực. Đôi khi dấu ngắt câu là dấu gạch nối: “Sương giăng mờ bóng người đi/ Bồi hồi mây trắng nói gì. Thiết tha/ Tình em – Ráng đỏ - không nhòa/ Trong tim anh. Giữa cánh xa. Lại về” (Bâng khuâng)

Thơ lục bát vốn đã đạt đến đỉnh cao trong nền thơ ca dân tộc với những tác giả và tác phẩm nổi tiếng, bây giờ vẫn được tiếp tục kế thừa trong sự sáng tạo. Hoàng Trần Cương đã góp thêm một phong cách đổi mới thể thơ này bằng nhưng dấu ngắt câu tài hoa, tinh tế, đồng thời vẫn giữ những nét mộc mạc giản dị, mềm mại, nhịp nhàng của thể thơ truyền thống này. Anh đã góp phần thổi vào lục bát hơi thở của cuộc sống hiện đại, khiến thơ vừa gần gũi quen thuộc, lại vừa mới mẻ, phù hợp với tâm thế đọc của độc giả đương đại và mời gọi người đọc khám phá.

1.2. Sự điêu luyện trong thơ năm tiếng

Đây là thể thơ truyền thống phổ biến trong tục ngữ và trong hát dặm Nghệ Tĩnh. Có lẽ sinh ra và gắn bó với vùng quê Nghệ Tĩnh, với những câu ví dặm ngọt ngào tha thiết nên nhà thơ đặc biệt có sự yêu thích và thật nhuần nhuyễn khi làm thơ năm tiếng.

Câu thơ năm tiếng với nhịp thơ ngắn gọn, có khả năng biểu hiện rất linh hoạt. Với thể thơ này, nhà thơ có lúc trải dài mạch thơ để kể chuyện, diễn tả tập trung chủ đề trong một số khổ thơ nhất định. Chương Cá gỗ trong trường ca Trầm tích là một chương được viết theo thể thơ năm tiếng, nó như một câu chuyện đồng dao kể về tuổi thơ học trò thật êm đềm vời nhiều kỉ niệm và sự tích: “Lớp Một trong làng hoa/ Hương thơm tràn trang vở/ Cạnh sân xanh bóng nước/ Ao làng mây trắng qua (…) Lớp Một ơi lớp một/ Thật chẳng hiểu làm sao/ Hai bạn gái ngã ao/ Lại chơi thân con nhất (…)/ Bây giờ con cá gỗ/ Thong dong giữa đại ngàn/ Nghe nói rồi hoá thạch/ Lặn vào dòng sông Lam…” (Trầm tích). Chương này mang lại một sự chuyển đổi mạch cảm xúc giữa bản trường ca, từ chỗ những cảm xúc phức tạp đan xen nhau của những câu thơ tự do chuyển sang cảm xúc nhẹ nhàng, bay bổng của câu thơ năm tiếng. Điều đó rất thích hợp khi nhà thơ hồi tưởng về những kỉ niệm êm đềm lúc tuổi thơ của mình. Cách chuyển đổi linh hoạt này mang lại một điểm nhấn trong trẻo, một khoảng trời êm ái khoáng đạt giữa không gian tâm tưởng “xù xì gai góc” chung của bản trường ca.

Thể thơ này cũng rất thích hợp để nhà thơ dàn trải những tâm tình của mình. Có khi nó là nỗi buồn nén lại trong một bài thơ ngắn với tám dòng thơ: “Anh mong mà chưa thấy/ Anh tìm mà chưa ra/ Chiều như là em vậy/ Càng trông càng thẳm xa…/ Chút nắng vàng của hạ/ Ngẩn ngơ cuối trời đông/ Mặt anh buồn như đá/ Ai vứt ra ngoài đồng” (Đợi). Ta cảm nhận được sức nặng của lời thơ, của những tâm sự như quánh lại thành khối hiện ra trên khuôn mặt buồn như đá của nhà thơ. Và nhà thơ cũng có thể bộc lộ những cảm xúc miên man trong những bài thơ dài hơn như Bóng cỏ, Tất niên, Cuối năm, Đường chân trời, Phân thân, Nỗi Niềm,… Hầu hết đều thể hiện những tâm sự thầm kín, riêng tư của tác giả, thể thơ năm tiếng thích hợp để nhà thơ diễn đạt những tâm tình ấy, đó là một sự lựa chọn phù hợp. Nhịp thơ ngắn gọn, tâm tình cũng không dài dòng về cảm xúc riêng của mình, đặc biệt trong tình yêu, tính cách của nhà thơ là như vậy, trầm lặng, lạnh lùng vẻ bên ngoài mà dạt dào tình cảm trong tâm hồn.

Ở thể thơ này ta cũng bắt gặp những dấu ngắt câu linh hoạt để diễn tả những ý thơ thật phong phú: “Quặn bóng người xa xứ/ Tết về. Mỏi nhừ quê/ Cuối năm. Nhang đỏ lự/ Loay hoay kiếm lối về”(Cuối năm). Đó là cảm giác mệt mỏi, muốn dừng lại những bon chen để trở về quê cũ. Những dấu ngắt câu làm nhịp điệu dòng thơ cũng linh hoạt, câu thơ như rung động và chùng lại nhẹ nhàng với những cảm xúc tươi nguyên của tuổi trăng tròn, nhà thơ như muốn dừng lại cái giây phút hữu tình lãng mạn, nên thơ, có sự hòa quyện giữa hương thơm lựng của chè Phú Thọ và hương tình yêu “mới nhú”: “Những đọt mầm nhu nhú/ Ngực ai. Tuổi trăng tròn/ Nâng li chè.  Chưa uống/ Hương bay. Và người say” (Hương chè Phú Thọ). Lời thơ có khi là một lời chiêm nghiệm về những vui buồn trong cuộc đời: “Buồn, rỗ nhằng mặt đá/ Vui, nhòa tia chớp xa” (Nỗi Niềm), dấu ngắt câu ở đây giúp nhà thơ lí giải một cách cô đọng, súc tích những vui buồn trong đời mình, nó đến và đi thật dữ dội, thật là một cuộc đời quá nhiều biến đổi thăng trầm.

Có khi nhà thơ tách mỗi khổ thơ chỉ hai câu để diễn tả những rung động nhẹ nhàng, sâu lắng từ từ ngấm vào trong tâm hồn mình:

Nỗi buồn lem lém cháy

Bắt đầu từ  lặng im

Rồi lịm vào màu tóc

Rồi cháy trầm trong tim

Có những ngày cực nhọc

Ngực ta hoá than hồng

                                                                        (Cháy)

Phép tách khổ thơ như vậy có khi kết hợp với phép lặp ở những câu đầu mỗi khổ thơ để giãi bày cảm xúc miên man chợt đến chợt đi trong cuộc đời, những tình yêu như mây trắng bay đi, những đợi chờ vô duyên cớ không hề hẹn ước, những chiếc lá rơi khơi gợi bao tâm sự bất kể gió đã lặng im: “Có những chiều mây trắng/ Giong tình yêu về trời/ Có những ngày anh đợi/ Ở nơi không hẹn hò/ Có những mùa bặt gió/ Ai rung lá rụng đầy…” (Vô tình). Và những bồi hồi, thảng thốt của những nỗi cô đơn, quạnh quẽ lúc chiều về, thời khắc của ngày tàn hay đó cũng là khoảng vắng của tuổi trẻ đã đi qua, tuổi xuân đã muộn mằn. Nỗi cô đơn thì lại không có tuổi, cứ ray rứt lòng người, cứ như nghẹn lại trong lòng ngực, trong trái tim đã lưu dấu một bóng hình ai: “ Có một chiều ngoảnh lại/ Cô đơn không biết già (…) Có một chiều ngoảnh lại/ Ngực mình – ai bước qua” (Nỗi Niềm). Những câu thơ ngắn, những khổ thơ ngắn đã thành công khi diễn tả những cảm xúc thơ thật nhẹ nhàng sâu lắng nhưng vẫn thật chan chứa, sâu sắc và dạt dào. Có thể nói ấy chính là một sự tinh luyện, dồn nén lại những cảm xúc thơ, cũng như tinh lọc những hình ảnh và ngôn ngữ trong thơ.

Nhìn lại hầu hết thơ năm tiếng của Hoàng Trần Cương đều có sự phối hợp hài hòa giữa những câu vần trắc và những câu vần bằng. Chính điều đó làm cho câu thơ của anh vừa có sự chắc khỏe và vừa có sự uyển chuyển mềm mại của nhịp điệu. Nó tạo nên giọng điệu tâm tình sâu lắng và hồn nhiên trong tâm hồn thi sĩ. Việc lựa chọn và sự nhuần nhuyễn thể thơ này có thể nói đã tạo một nét phong cách rất riêng ở nhà thơ.

1.3. Sự lên ngôi của thơ tự do

Tâm hồn trẻ trung, phóng khoáng, sức nghĩ dồi dào của các cây bút sau 1975 đã tìm đến với thơ tự do như là tìm đến với một phương tiện hữu hiệu dung chứa hết và giữ trọn nguyên sơ những cảm xúc không chịu sự chi phối của bất kì thi luật nào. Hoàng Trần Cương cũng nằm trong dòng chảy của xu thế chọn cách thể hiện ấy. Và trong quá trình vận động và phát triển, thơ tự do của anh luôn có xu hướng tìm tòi và thể nghiệm đổi mới cấu trúc để thể hiện những ý tưởng, những cảm hứng, cảm xúc phong phú, dồi dào trong hồn thơ của mình. Điều đó làm thơ tự do của anh phong phú, linh hoạt, biến hóa đa dạng về hình thức với những câu thơ co duỗi tự nhiên, đóng mở lung linh, diễn đạt được những biến thái tinh vi trong ý thơ và những cảm xúc phức tạp trong tâm hồn.

Những câu thơ dài ngắn đan xen với nhau theo lời tâm sự, phân trần hết sức tự nhiên, như là cảm xúc sắp đặt từng chữ trong câu thơ, làm cho nhạc điệu câu thơ uyển chuyển khi bay bổng, khi trầm lắng thiết tha:

Em có nhớ chăng/ Cuối buổi cày con trâu nhà mình hay hỉnh mũi lên nghiêng sừng lựa gió/ Ra khỏi ngõ đàn chó láng giềng đứng ghếch chân đánh dấu lối về/ Cố hương rớt sau lưng hay áo cơm chờm mất lối/ Hoàng hôn hốt hồn những kiếp xa quê…/ Em có nghe chăng/ Một phần quá khứ trong anh cứ hay cựa quậy/ Một phần ước vọng của anh thường nhỏm dậy cuối ngày/ Mặc ban mai về, kệ hoàng hôn đến/ Giữa những buổi chiều túng thiếu mộng mơ (Một phần).

 Quan trọng bây giờ không còn là số câu, số chữ hay là vần nữa mà là nhạc điệu, mà chi phối là nhạc điệu của tâm hồn. Những tâm tình của nhà thơ như thổn thức theo lời thơ hay là lời thơ cũng thổn thức theo nhạc điệu của tâm hồn, ấy là tâm sự của kiếp xa quê, của số phận thăng trầm “túng thiếu mộng mơ”, cứ xót xa về quá khứ, quê hương, những kỉ niệm xa xôi, những ước vọng chưa thành,…

Những dòng thơ dài ngắn đan xen nhau để lí giải, kể chuyện một cách khúc chiết, nhiều khi nhà thơ kết thúc mạch thơ bằng một dòng thơ ngắn tạo ra một khoảng trống hụt hẫng trong tâm hồn người đọc cũng như trong mạch cảm xúc thơ:“ Cha đi vắng/ Những người đàn ông miền Trung thường đi vắng/ Vài năm tạt qua nhà một lần/ Để lại đứa con/ Để lại mùi rạ thơm trên mái nhà vừa dọi/ Để lại những nỗi buồn không biết nói/ Rồi biệt tăm” (Trầm tích). Dòng thơ ngắn “Rồi biệt tăm” như xóc vào lòng người ta một khoảng buồn lặng câm, một khoảng trống của sự đợi chờ như đã được định trước, người ta phải chấp nhận, phải nén lòng mà chịu đựng. Dòng thơ ngắn nhưng để lại một tiếng thở dài, một nỗi buồn dai dẳng… Những dòng thơ ngắn kết thúc có khi nối tiếp nhau là những câu hỏi day dứt: “Vết đi của thời gian xếp nỗi buồn xạm trán/ Dấu ấn tình yêu/ ở đâu?/ ở đâu?” (Cơn mưa không tạnh), nhà thơ tìm mãi mà không lời giải đáp cho những suy tư về dấu ấn tình yêu theo năm tháng, một sự khát khao tìm lại những khoảnh khắc chân thực của tình yêu. Đó chẳng phải là câu hỏi, là khát khao muôn đời của nhân loại đã làm tốn bao nhiêu là tâm huyết và bút mực của bao nhiêu là thi nhân hay sao? Hình thức thơ tự do đã giúp Hoàng Trần Cương thể hiện cách nhìn, cách cảm rất riêng mà cũng rất tự nhiên của mình.

Nhà thơ cũng thường kết thúc mạch thơ của mình bằng một dòng thơ đứng riêng biệt như một lời kết, một cảm xúc dư ba còn lại trong hồn, hay như một ám ảnh day dứt khôn nguôi:

Em - cơn mưa không tạnh

Ngấm lạnh suốt đời anh

 

Nhớ nhung màu gì mà mắt em xanh...

(Cơn mưa không tạnh)

Em như một một nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi suốt cả đời anh, như một cơn mưa ám ảnh mà xa xôi làm anh lạnh lẽo đến se sắt lòng. Dòng thơ kết “rơi” ra như một khẳng định niềm thương nhớ là không bao giờ nguôi được trong anh và trong em. Đọng mãi lại trong lòng người là thương và nhớ… Cũng là nỗi nhớ ám ảnh nhà thơ, nhưng không là nỗi nhớ trong tình yêu mà là nỗi nhớ về mẹ. Nhà thơ nhớ về mẹ, về tuổi thơ hết sức tha thiết, thấm đậm ân tình, nhớ như đứa trẻ mồ côi lưu lạc, một cuộc đời lật đật những lo toan muốn tìm một lối về, một hơi ấm trong vòng tay mẹ:

Ấy là lúc thóc rúc về nhà

Ấy là lúc nồi đội vung hể hả

Ngấn nước mắt của Mẹ rẽ vào nỗi nhớ của  con

 

Lật đật suốt đời nỗi nhớ lon ton...

(Khoảng vắng)

Nỗi nhớ có khi cồn cào day dứt khi nhà thơ nghĩ về đồng đội, về cuộc chiến đã đi qua, về những hi sinh, mất mát. Dòng thơ kết tách ra tạo nên một âm hưởng vang động của nỗi buồn chiến tranh. Nhà thơ như vật lộn với những trăn trở cứ mãi đọng lại, cay cứa trong lòng mình:

Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực

Và nằm xoài anh ôm anh trên đất

Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội

Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang


Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng…

(Giải pháp)

Cũng có khi lời thơ là những dòng thơ rất ngắn liên tiếp nhau tạo cảm giác về sự gân guốc, mạnh mẽ và cũng thật chông chênh của sự vật, đó là hình tượng đất nước “thân gầy đét” trải bao năm tháng nhọc nhằn của thiên tai, binh lửa,…: “Đất nước/ Tượng hình xương cá/ Đêm úp/ Ngày đơm/ Nhảy vật lên bờ/ Thân gầy đét/ Cong mình chống nắng/ Lưng rộp phồng/ Thâm cả trời đông/ Ròng rã tháng năm/ Nhọc nhằn vây bủa” (Trầm tích). Mà lời thơ cũng có khi là những dòng thơ dài liên tiếp để diễn tả những cảm xúc sâu lắng, chứa chan trong lòng người, nó tuôn trào mềm mại như hình hài con sông Đuống: “Sông Đuống buông vào anh tiếng sóng/ Của những cánh buồm trôi ngang ngọn tre/ Của luống cải ngồng đồng tháng giêng phơi lụa/ Của ngấn phù sa treo trước cổng nhà/ Sông Đuống dịu lành ấm đượm phôi pha/ Của gái đương thì có gương mặt trái xoan và dáng đi thon mềm như lúa…” (Dư ba Kinh Bắc).

Trong thơ ca hiện đại, nhiều bài thơ tự do đã thấy xuất hiện hình thức câu thơ bậc thang. Nhịp của dòng thơ bị ngắt thành nhiều đoạn nhỏ mà mỗi đoạn nhỏ thường là một tiết tấu. Những tiết tấu đó không thể xướng ngâm liên tục mà lên xuống theo nhịp ngắt của câu thơ. Sự ngắt câu theo hình thức bậc thang có tác dụng nhiều phương diện: nội dung và nhịp điệu, và cảm giác của người đọc khi “nhìn thơ”. Câu thơ sẽ tăng thêm sức gợi cảm, nhạc điệu của thơ ngân vang hơn, ý thơ được nhấn mạnh hơn. Hoàng Trần Cương đã vận dụng thành công lối thơ bậc thang ấy để diễn tả những những cảm xúc phong phú trong cuộc sống. Đó là nỗi buồn len lỏi vào mênh mang sóng nước:

Sót lại xa khơi

                    Một chấm

                                  Buồn ...

                                                                        (Cặn muối)

Nhìn vào những bậc thang, người đọc có thể cảm giác được nỗi buồn như cô lẻ, như nhỏ nhoi, rơi lại, điểm lại một cách chênh vênh giữa không gian “xa khơi” bao la và sâu hút. Ấy chính là sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ khi thể hiện nỗi buồn. Và cũng có khi những câu thơ bậc thang làm ta có thể hình dung được nhịp đi của thời gian và hành trình qua núi qua sông của thế hệ sinh viên ra đi vì Tổ quốc:

Ngày đi

          Đêm đi

                     Chúng mình đi

Nước mắt

               Chắt muối cặn

Nuôi núi sông

                     Dậy thì ...

                                                                 (Cặn muối)

Hay là những suy tư liên tục về những màu sắc trong cuộc đời, những màu sắc tuôn chảy, phủ bụi thời gian, nhuộm những vui buồn, những hơi thở thân quen, những mông lung huyền ảo. Ấy là những màu sắc dân dã thân yêu của quê làng, của núi sông.:

Xanh huyền ảo

                       Xanh chàm

                                        Xanh quân phục (…)

Nâu dân dã

                   Nâu sồng

                                  Nâu man mác (…)

Bạn bè ơi

              Sắc màu tuôn chảy

                                           Nhuộm vui buồn

                                                                      Uốn lượn cuốn thời gian ...

(Sắc màu sáng tối)

Nhìn vào lời thơ, ta thấy những sắc màu hết sức thân quen, giản dị đang bao phủ, trải dài theo cuộc đời của mỗi người, mỗi thế hệ bè bạn, trải dài cùng những năm tháng thăng trầm trong cuộc sống. Ấy không chỉ là những sắc màu bình thường, mà còn là kỉ niệm, là cuộc sống có sự oai hùng, sự đau thương, sự nhọc nhằn, và cả những niềm vui hội ngộ, nhưng nỗi niềm dân dã,… chúng “uốn lượn cuốn thời gian” và lắng vào không gian…

Thêm một hình thức thơ tự do khác: Có khi lời thơ như là câu thơ bảy tiếng bẻ ra để diễn tả những trúc trắc trong cuộc đời: “Tháng năm qua/ áo anh lấm bụi/ Và mắt em trong vắt không màu/ Ai tình núi/ ai mang hồn biển/ Để đêm ngày lặng soi bóng nhau” (Manh áo hoàng hôn), những dòng thơ được lặp lại theo một cấu trúc ổn định thể hiện ở số tiếng của mỗi dòng (3/4/7). Nó tạo nên một nét riêng mới mẻ, thú vị trong sáng tạo nghệ thuật và tạo hứng thú với người đọc. Không chỉ là những trúc trắc của cuộc đời, lời thơ có khi diễn tả những khắc khoải, mong chờ trong những khoảnh khắc thời gian, vừa có cảm giác nhọc nhằn lại vừa sâu lắng, cũng vừa có chút gì tin yêu, hi vọng: “Có khoảnh khắc/ Hoàng hôn đặc quánh/ Ngày lủi vào tiếng cuốc thất thanh/ Có đông lạnh/ Trầm mình vớt nắng/ Mong đêm về em bớt đợi trăng” (Nắng ra ràng).

Nhà thơ cũng có khi tận dụng những dấu chấm câu giữa dòng thơ để diễn tả những khoảng lặng, những ngậm ngùi trong lòng mình: “Tôi trở lại Trường Sơn. Mười năm (…) Như mười năm xa. Tôi đã sống xuôi tay/ Không ngó đến tương lai. Không đoái hoài kỷ niệm” (Trước nghĩa trang Trường Sơn).

Hình thức hợp thể của thơ tự do cũng được nhà thơ tận dụng một cách hiệu quả. Những câu thơ bốn tiếng mang lại nỗi buồn man mác xen lẫn vào những câu thơ năm tiếng, hai tiếng, sáu tiếng để cắt nghĩa mùa thu và sự gặp gỡ trong tình yêu: “Chúng mình gặp nhau/ Sao không đầu hạ/ Mà vào cuối thu/ Da diết lời mẹ ru/ Dặt dìu kỷ niệm/ Mùa thu/ Gió chưa thành cơn/ Mưa chưa thành trận/ Một nửa ngưng vào đáy mắt/ Đủ cho em dỗi hờn/ Một nửa che mờ gương mặt/Để anh mơ màng nhớ trăng/ Phố nhỏ sương giăng/ Những chiều lá đổ” (Nói với em).

Có khi sự hợp thể có sự góp mặt của nhiều thể thơ: những câu năm tiếng, tám tiếng kết hợp với những câu thơ tự do dài ngắn xen với nhau. Mạch thơ chuyển tự sự kể lể của dòng thơ năm tiếng, đến những cảm xúc cao trào của dòng thơ tự do, rồi lại giàu chất suy tưởng thâm trầm và cảm xúc lai láng hơn với câu thơ tám tiếng:

Bắt lửa ken thành lưới/ Bứt trọc đầu núi non/ Vót sóng cao có ngọn/ Gió như là trẻ con/ Ngỡ đi thì lại đến/ Tưởng hết hoá ra còn/ Chỉ có gió là không cần khoảng đệm/ Gió không thức với ngày/ Gió không ngủ cùng đêm/ Gió ở trên cao, gió sà xuống thấp/ Gió quanh mình và gió bủa rất xa/ Bỗng rưng rưng anh nhớ cánh rừng già/ Nhớ cơn gió thổi suốt mùa giặc giã/ Phút trúng đạn bạn rùng mình hoá đá/ Là lúc gió về mốc trắng chân mây... (Gió).

Xuân Diệu từng nói rất có lý về thơ tự do:

Tự do là tự đặt kỉ luật cho mình, một kỉ luật linh động, tùy theo mỗi trường hợp nhưng luôn luôn có kỉ luật. Muốn ca, muốn hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe. Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài lại tự tạo ra một nhạc điệu riêng cho thích hợp, cái điệu ấy không được phiêu lưu mà phải cần thiết. Phải cao tay lắm mới sai khiến được thơ tự do. Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm  [4, tr,341].

Theo thống kê và phân tích bên trên, có thể nói rằng thơ tự do đã lên ngôi trong thơ và trường ca Hoàng Trần Cương với những biến tấu vô cùng tài hoa về hình thức và phong phú về nội dung trữ tình. Nhà thơ đã tận dụng tất cả những biến hóa tự do có thể trong thể thơ một cách có ý thức theo những cảm xúc tự nhiên của mình. Anh đã “sai khiến” thơ tự do một cách tài tình, góp phần làm thể thơ này càng thêm màu sắc và tinh luyện trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại cũng như đương đại.


Có thể nói thơ và trường ca Hoàng Trần Cương đầy biến hóa và sáng tạo về thể thơ. Nó góp phần tạo được một thế giới thơ đầy ám ảnh và thú vị, hấp dẫn. Hồn quê đưa anh về với những câu thơ lục bát truyền thống mang âm hưởng ca dao, và điệu hò ví dặm mượt mà xứ Nghệ thổi vào những câu thơ năm tiếng hết sức điêu luyện của nhà thơ. Tinh thần thời đại cuốn hút nhà thơ vào những biến tấu sáng tạo trong thể thơ truyền thống ấy cũng như trong sự lên ngôi của thơ tự do. Thơ tự do xuất hiện và chiếm lĩnh thơ ca hiện đại từ phong trào Thơ Mới, và thể thơ ấy càng được ưu ái và đạt những đỉnh cao trong nền thơ ca đương đại Việt Nam. So với Thơ Mới, thơ tự do của Hoàng Trần Cương đã vượt hẳn khỏi từ trường thơ tự do kiểu Thơ Mới. Và có thể nói, nó đã đạt đến đỉnh cao với những biến tấu vô cùng đa dạng, tinh tế để diễn tả những cung bậc cảm xúc cũng hết sức phong phú trong tâm hồn thi sĩ.

 

 

HOANG TRAN CUONG POETRY ART - ASPECTS OF POETRY VERSE.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Hoàng Trần Cương (1992), Dấu vết tháng ngày, Nxb Hội nhà văn.

2.      Hoàng Trần Cương (1999), Trầm tích, Nxb Hội nhà văn.

3.      Hoàng Trần Cương (1999), Quà Tặng hành tinh, Nxb Hội nhà văn.

4.      Hoàng Trần Cương (2002), “Đỉnh vua”, Tạp chí nhà văn, số 5, 9 – 24.

5.      Hoàng Trần Cương (2004), “Long mạch”, Thời báo Tài chính Việt Nam, số 105+106, 12.

6.      Hoàng Trần Cương (2010), “Cặn muối”, Báo Văn nghệ, số 39, 15.

7.      Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (2006), Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

 

Thông tin cá nhân:

Họ và tên: Bùi Thị Cẩm Nhung

Học viên lớp: Cao học Văn học Việt Nam khóa XVIII, Đại học sư phạm Huế.

Nơi công tác: Trường THPT Tân Hồng, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ hiện tại: ấp 2, TT. Sa Rài, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Điện thoại: 0673 832 075. Di động: 0939 288856.

Email: btcnhung2910@yahoo.com.

 

 

Các bài khác:
· THU BỒN VIẾT VỀ NHÀ VĂN, NGHỀ VĂN VÀ CHUYỆN LÀM THƠ
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? -KỲ 2
· BÀN VỀ BÚT HIỆU HÀN MẠC TỬ
· ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
· NGUYỄN MAN NHIÊN - KHÔNG CHỈ CÓ ĐÊM VÀ GIÓ
· NHÀ VĂN LÊ PHAN NGHỊ QUA ĐỜI
· VỚI NGUYỄN ANH NÔNG VÀ THƠ
· THEO DẤU CHÂN THÁNH THƠ CAO BÁ QUÁT
· NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ BÚT TRE
· CHUYỆN TÌNH CỦA PASTERNAK VÀ LARA
· CUỐN TIỂU THUYẾT 'HÒN ĐẤT' VÀ TÔI
· TÁC GIẢ 'MÙA BIỂN ĐỘNG' ĐÃ QUA ĐỜI
· VĂN THÙY VÀ BẢN DI CHÚC BẰNG THƠ
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ TIẾNG ANH 'SINCE I LET YOU GO' CỦA VƯƠNG ĐẰNG
· BÀI THƠ ÍT ĐƯỢC BIẾT: 'MẮT EM NGẤN LỆ' CỦA HỮU LOAN
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? (Kỳ 1)
· HÌNH BÓNG HỒ XUÂN HƯƠNG QUA THƠ PHẠM ĐÌNH HỔ
· MAI VĂN TẠO - NGƯỜI CON CỦA NÚI SAM
· THƯ NGỎ GỬI HỘI THẢO THƠ 'THƠ HIỆN ĐẠI VN VÀ NGUYỄN QUANG THIỀU'
· PHƯƠNG XÍCH LÔ - 10 NĂM XÍCH LÔ HÀNH CHỞ GIÓ

 

  
Gia đình Bích Khê