DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐỖ NAM CAO - THƠ - TIẾNG CHUÔNG THEO CÁNH SÓNG


Đỗ Nam Cao làm thơ từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước ngay tại chiến trường Nam Bộ khi chiến sự đang diễn ra ác liệt. Tốt nghiệp khóa 12 khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng với Bế Kiến Quốc, Nguyễn Thị Kim Cúc, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Nguyễn Thị Hồng, Vũ Dũng, Trần Bảo Hưng, Nguyễn Hiếu, Nguyễn Hữu Hùng… lập tức các anh chị xung phong vào chiến trường miền Nam. Mái đầu xanh, trái tim nóng ấm đập mãnh liệt trong lồng ngực trẻ. Những ngày đêm bám trụ vùng chiến sự ác liệt vùng ven Sài Gòn với các địa danh: Lộc Ninh, Bến Cát, Củ Chi, Trảng Bàng… đã dường như lập tức in hằn trong thơ Đỗ Nam Cao. Đó là những: Qua sông Sài Gòn; Đêm tràng cỏ; Màu xanh vùng ven; Cô gái thợ cày; Ớt Trảng Bàng; Gặp người bắn “cá rô” ở Củ Chi; Đêm đột ấp; Trăng địa hình; Những căn hầm bí mật… mô tả trực diện cuộc chiến đấu kiên trung, bất khuất, những hi sinh, mất mát để cho ngày toàn thắng. Ngay sau năm 1975, Đỗ Nam Cao đã có tập thơ Những cánh cò lửa (Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng) in chung với Nguyễn Khắc Thuần.
Làm thơ và in thơ sớm vậy nhưng Đỗ Nam Cao trong con mắt bạn bè và người yêu văn chương là một người không ưa thích sự ồn ào, nhất là trong in ấn và công bố thơ mình. Thơ anh thường được cất giữ trong lòng bè bạn. Nhiều khi hứng thú, Đỗ Nam Cao sáng tác trực tiếp rồi đưa luôn cho bè bạn mà chính anh còn không nhớ. Khi anh mất (tháng 8 năm 2011) bạn bè, với sự thương tiếc và tri ân một cá tính thơ đã tập hợp, tuyển chọn và gom nhặt để cho ra mắt "Đỗ Nam Cao - Thơ", một tập thơ như là tuyển tập của anh.

Với ba phần chính: Những cánh cò lửa; Dính; Thơ sau năm 2000 tập thơ có khoảng không gian và thời gian rộng lớn, xuyên suốt cuộc đời sống và viết của Đỗ Nam Cao. Cuộc đời sống và viết của anh luôn gắn chặt với đời sống tinh thần của dân tộc trong một chặng đường dài.

Viết về chiến tranh, Đỗ Nam Cao đã rất riêng, anh viết:
Chính em và mùa thu đưa anh đi/ Những chiếc lá bàng rơi màu đỏ thắm/ Gian khổ đấy, bàn tay em nhỏ nhắn/ Anh cầm mà không thể buông ra/ Nỗi xa này thử thách cả hai ta/ Vẫn là em và trời thu bát ngát/ Gió khẽ rung trên vòm lá bạc/ Trăng dội xuống chỗ mình những ánh ban đêm/ Anh nhìn mắt em sâu thẳm niềm tin (Mùa thu chia tay).
Và anh viết về thời bắt đầu đổi mới năm 1989:
Cái thời thiếu vắng hơi ấm lửa/ Ta ngờ ta sống lửa tâm hồn/ Ta ngờ luôn nửa hồn ta còn lại/ Một nửa bao giờ lên cháo cơm/ Cái thời đầy ứ ự thông tin/ Bộ lọc ta quen một chiều một cửa/ Có tin vui lại ngỡ tin buồn/ Đời sống động bỗng thấy đời phát sợ (Cái thời).
Và những vần thơ gần nhất trước lúc Đỗ Nam Cao giã biệt thế giới này:
Có không trong cõi vĩnh hằng/ Có cô cắt cỏ có trăng lưỡi liềm/ Có không trong cõi thần tiên/ Rượu ngon lại uống bạn hiền lại chơi/ Chỉ còn sờ sợ chút thôi/ Có thơ không để tôi rơi xuống trần (Có không). Thôi thì về bãi Tự Nhiên/ Cho em tắm để thánh hiền lòi ra/ Con vua cũng thể đàn bà/ Dẫu chàng đánh dậm vưỡn là đàn ông (Hỡi cô cắt cỏ).

Tôi luôn hình dung thơ Đỗ Nam Cao dù ở thời điểm nào, dù cách nói thế nào vẫn là một tiếng nói rất riêng và rất quyết liệt. Cái quyết liệt của anh không trôi nổi ở bề mặt mà đã lặn sâu trong các con chữ, thi tứ, hình ảnh. Cũng từ cá tính ấy, mà thơ anh sẽ theo thời gian định vị chắc chắn trong lòng công chúng yêu thơ.

Tôi cũng luôn hình dung, và có một suy nghĩ riêng, cứ len lỏi, cứ cháy sáng dần lên, đó là, thơ Đỗ Nam Cao, với tôi, chính là tiếng chuông trên cánh sóng.

PHÙNG VĂN KHAI
chọn và giới thiệu



Nhà thơ của một mầu
              Kính tặng nhà thơ Hữu Loan

Người từng nắm cục than
Gan có tía
Để một đời niu niu hoa lúa
Thế giới lắm sắc mầu
Đi tận cùng mầu ấy

Người khóc người vợ chết cực kỳ
Khóc ai còn che dấu
Kìa xem con cá sấu
Nước mắt cũng lắm mầu
Đi tận cùng mầu ấy

Người giữ lửa
Nùi rơm ngun ngút cháy
Có một chiều mưa nào chạnh thấy
Mống cụt cũng bẩy mầu
Đi tận cùng mầu ấy

Người câm như hạt thóc
Ba mươi năm
Ba mươi năm là mấy
Bỗng nẩy mầm
Òa lên mùa màng con gái lúa ứa sữa

Người hư thực bên tôi
Mái tóc bạc ảo mờ sương dĩ vãng

Bất chợt
Chảy nhểu ra từ bên con mắt lớn
Giọt nước mắt mầu sim.



Trăng ngà

Tưởng nhớ bạn tôi: Liệt sĩ Vũ Dũng hy sinh tại thành cổ Quảng Trị 1972


Ẩn khuất đâu đây đầu làng cuối xóm
Dưới bếp hay trên nhà
Bên âm ẩm mùi đống rạ
Con trâu già đứng nhai rơm

Có tiếng quẫy
Soi mói cành sung bói cá
Bờ ao đỏ nhói con chuồn
Ẩn khuất đâu đây Dũng ẩn
Lẫn vào đêm trốn tìm

Nghe thấy thì thầm trai gái
Trong bụi chuối quả vàng lập lòe đom đóm
Trên cánh đồng mùa màng ngờm ngợp
Người người í ới say mê
Đòn gánh uốn cong deo dẻo
Lúa nằng nặng ngực gái quê

Nơi con dốc ngày ngày lững thững
Dũng khuya sớm đi vè
Thăm thẳm thuyền từ Kẽm Trống
Vạt cỏ bờ đê vang động

Ba bờ sông ngẩn ngơ
Dũng ngồi nghe mãi câu hò
Ẩn khuất đâu đây rút ruột
Nỗi đau nghèn nghẹn miên man

Niềm vui hiếm hoi giấu nhẹm
Bao nhiêu thăng trầm có Dũng sẻ chia
Kìa như chênh chênh mái rạ
Dũng ơi đâu đây bàng bạc trăng ngà.



Thăng Long


         Cúi lạy các vua Hùng
          Đội ơi Lý Thái Tổ


Không biết yêu
Hà Nội
Những phố cổ còng lưng
Cõng mùa thu cốm
Hồ Hoàn Kiếm
Xanh xanh
Lục rùa
Gió chen ùa qua tháp Hòa Phong
Phố động lòng
Chùa đâu tiếng mõ
Hoa sấu nhỏ
Từng giọt
Mơ hồ
Tiếng guốc gõ trên hè giấc mơ

Không biết yêu
Cột Cờ
Cờ trong mắt
Cửa Bắc
Lỗ pháo khoét giữa ngực
Ấn tay dìm B52 xuống hồ
Ơ Ngọc Hà
Thủy tiên
Hà Nội hào hoa
Hà Nội đẹp Khuê Văn Các
Ba Đình thiêng liêng lời Bác
Mặt trời nghiêng nghe đọc tuyên ngôn

Không biết yêu
Không biết yêu
Kinh thành
Bao lần giặc thiêu cháy
Bao lần vươn dậy
Lộng lẫy hơn
Kinh thành

Không biết yêu
Không biết yêu
Ở ngã ba Bạch Hạc
Mẹ sông Hồng rạng háng
Đẻ nền văn minh

Thôi lên đê phù sa
Hít sâu luồng khí dưỡng
Thôi em vào Hoàng Thành
Uống ngụm nước giếng Lý
Diệu kỳ thay
Công chúa nào dắt tay
Áo mớ ba mớ bảy
Vui trẩy hội mùa xuân

Tháp Bút
Tả thanh thiên
Đồng bào
Mài máu viết
Cuốn sử non sông
Ngời đất
Thăng Long.

     Tp. HCM 6-2010

Nguồn: lethieunhon.com

 

Các bài khác:
· ĐÔI ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ LÃNG THANH
· ĐỒNG ĐỨC BỐN - BAO NHIÊU LÀ THỨ BÙA MÊ...
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? -KỲ 3
· TẾ HANH - DÒNG SÔNG, MÙA HẠ
· NGUYỄN TRỌNG KHÁNH – THƠ VÀ ĐỜI
· 'GỬI BILL GATES VÀ TRỜI XANH' - THÔNG ĐIỆP XANH
· SỰ TƯƠNG GIAO CẢM GIÁC TRONG THƠ THANH THẢO
· THƠ KHÓ HAY LÀ SỰ HÙ DỌA NGƯỜI ĐỌC?
· MẬT MÃ THANH THẢO
· NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG TRẦN CƯƠNG – PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ
· THU BỒN VIẾT VỀ NHÀ VĂN, NGHỀ VĂN VÀ CHUYỆN LÀM THƠ
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? -KỲ 2
· BÀN VỀ BÚT HIỆU HÀN MẠC TỬ
· ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
· NGUYỄN MAN NHIÊN - KHÔNG CHỈ CÓ ĐÊM VÀ GIÓ
· NHÀ VĂN LÊ PHAN NGHỊ QUA ĐỜI
· VỚI NGUYỄN ANH NÔNG VÀ THƠ
· THEO DẤU CHÂN THÁNH THƠ CAO BÁ QUÁT
· NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ BÚT TRE
· CHUYỆN TÌNH CỦA PASTERNAK VÀ LARA

 

  
Gia đình Bích Khê