DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CÁI BI CÁI HÙNG TRONG KHÁNG CHIÊN

Lê Thị Bích Hồng

 

 Nhận định về văn học chiến tranh cách mạng, có ý kiến cho rằng văn học thời kỳ này chỉ nghiêng về ca ngợi, biểu dương, chiến thắng, hoan caít hoặc thường không viết về đau thương, mất mát. Nghĩa là văn học của chúng ta không có yếu tố bi, hoặc có viết về sự mát mát, hy sinh vẫn chịu sự chi phối nghiêm ngặt của tinh thần sử thi. Thật ra, chiến tranh là một hoàn cảnh bất thường và đẩy con người vào cuộc sống cũng bất thường. Hệ quả của bất kỳ cuộc chiến nào không thể tránh được những tổn thất và mất mát. Cái bi là một phạm trù mỹ học. Nội hàm của nó mang bản chất của cái đẹp - cái đẹp bị thất bại hoặc hy sinh và tạo nên sự xót thương, đồng cảm cho con người.

 

Nói như nhà thơ Việt Phương, khi đã chọn con đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thì đồng nghĩa với nó, dân tộc ta phải chấp nhận mọi sự khó khăn, gian khổ, kể cả phải thu hẹp phạm vi sống. Cân lượng cho cảm xúc, các nhà thơ đều tự biết điều chỉnh, biết nén lòng, hoặc viết ra, hoặc cất giấu trong lòng, đợi cuộc chiến lùi xa mới công bố. Đó là chính là sự ý thức có trách nhiệm của cái tôi nhà thơ chiến sĩ, tự thuật về thế hệ mình:

 

Không có sách chúng tôi làm ra sách

Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình

 (Hữu Thỉnh)

 Như vậy, cái bi là hiện tượng bình thường trong chiến tranh, với bất kỳ dân tộc nào.

Hầu hết các nhà thơ đều nhận thức rõ chiến tranh là một hoàn cảnh bất thường gương mặt con người trong chiến tranh thường là gương mặt đau thương, nghị lực, ý chí[1]. Viết về hy sinh, con người sử thi vẫn là con người bình thường mà vĩ đại, vô danh mà cao cả.

 

Tuy nhiên, viết về hy sinh, mất mát, nhưng các nhà thơ mới khai thác con người trong hoàn cảnh bất thường chủ yếu ở khía cạnh nghị lực, ý chí. Vì thế, họ chú ý khai thác vẻ đẹp của sự hy sinh hơn là mất mát; khai thác con người khí phách hơn miêu tả chiến công...

Theo xu hướng bất tử hóa, cái chết của người anh hùng thường được xây dựng bằng hình tượng thẩm mỹ lẫm liệt, bi tráng, nhưng chủ yếu vẫn là hành động của con người khí phách, của người anh hùng:

 

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng

(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)

 

Tuân thủ xu hướng đó, người chiến sĩ khi hy sinh thường hướng về lãnh tụ, quê hương, đất nước, tổ tiên bằng thái độ bình tĩnh, bằng nụ cười thanh thản Phút thiêng liêng anh gọi Bác ba lần (Hãy nhớ lấy lời tôi - Tố Hữu), Võ Thị Sáu vùng răng cắn chặt - Giữ trung trinh đến phút cuối cùng - Đạn giặc xuyên lỗ cho ngực măng non - Đỏ thắm nụ cười Chào Bác Hồ và Việt Nam bất diệt (Cửu Long Giang ta ơi - Nguyên Hồng), Và anh biết khi bất thần trúng đạn - Em ra đi với mắt cười thanh thản (Bài thơ về hạnh phúc - Dương Hương Ly), Em nằm dưới đất sâu - Như khoảng trời đã nằm yên trong đất - Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng (Khoảng trời hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ)

 

Vì thế, con người dù hy sinh nhưng vẫn được cảm nhận như vẫn sống giữa muôn người: Cứ nghĩ như anh vẫn sống hoài... Anh vẫn là anh những sớm trưa (Một con người - Tố Hữu); để lại hồn thiêng quanh quất cùng đất nước có khi như một sự tái sinh: Cứ nghĩ hồn thơm đang tái sinh (Theo chân Bác - Tố Hữu)...

 

Các nhà thơ nhận ra phẩm chất thực của cái hùng trong những con người bình thường. Thơ chống Mỹ là bản hợp xướng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ngã ba Đồng Lộc là một trong những nơi hội tụ những con người anh hùng. Huy Cận đã dùng ngôn ngữ đắp nổi chân dung 10 cô gái: Ngã Ba Đồng Lộc xây bằng xương máu Mộ mười cô kề bên đường đó - Các cô như còn đứng đó - Chờ lấp hố bom - Đường thông xe các cô mới đi nằm. Trong Lời người liệt sĩ, Bế Kiến Quốc tiếp nối cách nghĩ của thế hệ đi trước qua lời người cha (đã hy sinh) dặn con: Cha vẫn sống trong lòng mọi người - Cha vẫn sống trong ánh sáng bầu trời. Cẩm Thơ vẫn như thấy Bác vẫn ngồi kia, râu sáng nụ cười - Nhìn em tới lớp...

 

Người lính trở nên bất tử trong lòng nhân dân và tạo nên hình tượng thẩm mỹ sâu sắc bằng hành động dũng cảm: Nhận cái chết cho đồng đội sống - Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng - Đồng đội xông lên nhìn rõ Hùng cười (Nấm mộ và cây trầm - Nguyễn Đức Mậu). Cô gái thanh niên xung phong trong Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ Đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa - Đánh lạc hướng quân thù hứng lấy luồng bom được xây dựng bằng hình tượng đẹp, ám ảnh, khiến người đọc thương cảm,  xót xa...

 

Mẫu số chung của thơ kháng chiến đều theo xu hướng Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc. Các nhà thơ chống Mỹ đều có cách nhìn cuộc sống đầy yêu thương, khát vọng vươn lên. Thơ có bi nhưng không bi lụy, có chết chóc nhưng lại chứa đầy sự sống, trong hố bom đã xuất hiện một khoảng trời nho nhỏ, để từ đó soi vào, gợi nên những suy tư sâu xa, thấm thía: Đất nước mình nhân hậu - Có nước trời xoa dịu vết đau (Khoảng trời hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ). Có nấm mộ, nhưng lại xuất hiện trên đó một Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ - Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị - Thân hy sinh thơm đất, thơm trời (Nấm mộ và cây trầm - Nguyễn Đức Mậu). Cái chết không mất đi mà đang gieo mầm sự sống. Tgieo mầm xuân cho một sự sống mới đến: Hôm nay trở về, một chân anh mất - Nhưng quê hương tất cả hãy còn Có một xóm vui - Đám cưới mùa xuân (Hoa chanh - Nguyễn Bao). Con người dù vào cõi vĩnh hằng, nhưng vẫn để lại tâm hồn cao đẹp cho người sống bước tiếp: Mỗi chúng ta mang hồn anh hoa nở - Đầu súng balô trên mọi nẻo đường (Hoa mười giờ - Thuý Bắc). Sự hy sinh là mang đến cho dân tộc một tượng đài bất tử cho Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)...

 

Cái chết của nhân dân anh hùng là Nụ cười của chủ nghĩa lạc quan hơn là nụ cười hiện thực của một tấm thân đang hứng chịu trăm nghìn viên đạn[2]. Cách nghĩ về sự hy sinh như vậy rất phù hợp với thơ kháng chiến. Nó không đối lập sự sống, cái chết, mà chú ý đến sự kế thừa, tiếp nối có tính liên tục giữa các thế hệ giữa các thế hệ, giữa những người đang sống với những người đã khuất. Quan niệm đó xuất phát từ tư tưởng đề cao cái chung, cái cộng đồng của toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Vì thế, đôi khi thơ phớt lờ tiếng khóc nỉ non nơi thôn cùng xóm vắng của những số phận cá nhân5. Thơ nhấn mạnh sức mạnh tinh thần, tạo nên những hình tượng đẹp về con người bất tử, hy sinh vì nghĩa lớn bằng cảm hứng sử thi. Nhưng đồng thời, thơ cũng bộc lộ hạn chế trong cách nhìn và khai thác mất mát của chiến tranh một chiều.

 

Các nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ có thiên hướng vượt qua cái nhìn chiến tranh giàu cảm hứng lãng mạn cu#a thế hệ đi trước. Xóa bỏ ngôn từ hoa mỹ, họ đưa vào thơ một hiện thực trần trụi, bụi bặm, thô ráp

 

Giai đoạn cuối chiến tranh, cảm nhận về hy sinh khác xa so với tinh thần sử thi. Có điều phải cuối chiến tranh, hoặc chiến tranh đã kết thúc, sự hy sinh, mất mát mới được đề cập một cách trực diện ở những trường ca, như: Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Những người đi tới biển (Thanh Thảo), Đường tới thành phố, Sức bền của đất (Hữu Thỉnh), Đất nước hình tia chớp (Trần Mạnh Hảo), Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu)...

 

ở cự ly sát gần, đằm mình với thực tiễn chiến đấu, các nhà thơ trẻ có điều kiện đề cập đến nhiều hoàn cảnh hy sinh khác nhau. Có thể gặp những chi tiết trùng hợp, nhưng mỗi nhà thơ vẫn có cách khai thác riêng từ những trải nghiệm cá nhân. Chi tiết nắm cơm của người lính như một tín hiệu hiện thực được mỗi nhà thơ cảm nhận theo cách riêng. Hữu Thỉnh miêu tả nắm cơm cháy thành than của người chiến sĩ xe tăng, gợi nên nỗi ám ảnh khôn nguôi: Có nắm cơm đã cháy thành than - Đen chỉ còn một nửa - Có dấu tay in lõm vào trong -Ngón tay to bè của đồng chí lái - Các anh ăn nửa bữa trong ngày - Phần để dành - Làm ta day dứt mãi (Đường tới thành phố). Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu chọn chi tiết nắm cơm thừa khi anh nuôi điểm quân sau trận đánh ác liệt: Rồi hôm ấy mười căn hầm sập - Người nuôi quân thành người giữ chốt - Mười nắm cơm thừa - Mười khẩu súng - Một mình anh (Trường ca sư đoàn)...

 

Từ chiến trường Đông Nam Bộ, Thanh Thảo mang đến giọng thơ đầy trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm về mất mát, hy sinh. Anh chọn cách diễn đạt cái bi hùng qua hình ảnh thơ ám ảnh Chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi rách với cách so sánh táo bạo Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời (Những người đi tới biển)....

 

Có một thời, người nghệ sĩ luôn biết cân lượng cảm xúc và vì thế, nguyện ước tự nhiên, nhu cầu chính đáng của con người phần nào bị biến dạng, tước bỏ (Việt Phương). Song người nghệ sĩ không cho phép kéo dài tình trạng đó, đã đến lúc thơ cần trực diện đề cập những vấn đề thuộc số phận cá nhân mà trước đó vì nhiệm vụ chính trị đã tạm gác lại cái tinh tế cỏ hoa tạm thời chưa nghĩ đến. Hiện tượng ngập ngừng, giao thoa trong tâm trạng nảy sinh ngay trên chính cái trục sử thi khá nghiêm ngặt. Vì thế, không phải chờ đến những trường ca viết sau chiến tranh, ngay chính thời điểm cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên một số báo, tạp chí đã xuất hiện một số bài thơ, như: Sẹo đất của Ngô Văn Phú (Tạp chí Thanh Niên số 6/1974), Vòng trắng của Phạm Tiến Duật (Tạp chí Thanh niên số 01/1974), tập thơ Cửa mở của Việt Phương xuất bản năm 1970 ngổn ngang tâm trạng... và nhiều bài thơ khác dưới dạng bản thảo.

 

Và ngay thời điểm chiến tranh thì ở một số bài thơ yếu tố sử thi đã nhạt dần. Hy sinh không còn là sự thăng hoa, hồi sinh sự sống, mà thật sự là mất mát, đau thương, là tổn thất không có gì sánh nổi. Có điều số những tác phẩm này đều được người nghệ sĩ cất giữ, nghiền ngẫm, nén giấu sau chiến tranh mới công bố công khai trước văn đàn.

 

Thơ sau 1975 đã vắng hơn âm hưởng hùng ca, nói nhiều hơn đến nỗi đau hậu chiến bằng sự cảm thông chân thành. Chiến tranh mang đến những bi kịch cho mỗi gia đình, mà sản phẩm ấy là những người vợ hoá đá thành nàng Tô Thị, núi Vọng Phu; là những Bến không chồng (Dương Hướng); là những làng không cha... Dư âm chiến tranh và đề tài hậu chiến vẫn tiếp tục trong thơ và được thể hiện một cách trực diện với trái tim đồng cảm của người nghệ sĩ

...

Thơ kháng chiến không nói nhiều cái bi, hoặc nếu có đề cập, thì nhà thơ vãn biết nén cảm xúc, nén tiếng thở dài để nói những điều lớn lao, động viên, cổ vũ kịp thời nhân dân ta đánh giặc. Thơ kháng chiến thực sự đứng ở mũi nhọn và phát huy tối đa công năng của nó. Tính sử thi và cảm hứng lãng mạn là đặc điểm cơ bản của thơ trong giai đoạn này. Vì thế, thơ kháng chiến dù có nói tới cái chết cũng không mang ý nghĩa đối lập với sự sống mà chủ yếu thơ quan tâm đến sự hy sinh đẹp, tư thế đẹp mang ý nghĩa gieo mầm cho sự sống, phơi phới niềm lạc quan. Điều đó xuất phát từ cội nguồn văn hóa - tâm lý truyền thống lâu đời của dân tộc, kết hợp với niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, vào lý tưởng cách mạng và tương lai của dân tộc. Một nén nhang thơm tri ân với sự hy sinh của người chiến sĩ qua bài thơ Thăm mộ chiều cuối năm của Nguyễn Thái Sơn thay cho lời kết:

 

  Vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội

  Hương trầm một thẻ biết làm sao

  Thắp lên đành cắm nơi đầu gió

  Hương khói đừng quên nấm mộ nào.

                                                  

                                            

 

 

 



[1] Nguyễn Duy Bắc – Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975), tr 164.

[2]Nguyễn Bá Thành –Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại – Nxb Giáo dục, 1998, tr.80.

Nguồn: Văn nghệ

 

Các bài khác:
· NGUIỄN NGU Í (1921-1979) : THƠ ĐIÊN
· FRANCOIS WEYERGANS - NHÀ VĂN LẠ ĐỜI
· TIẾP NHẬN ĐỒNG CẢM
· VAI TRÒ CỦA TƯỞNG TƯỢNG TRONG THƠ
· TÌM TÒI & CÁCH TÂN MỘT LỐI THẨM THƠ
· LÊ ANH XUÂN VÀ KHÁT VỌNG SỐNG
· TIN TỨC TỪ MỘT VỤ... MẤT TRÍ
· THẨM THỆ HÀ - NHÀ VĂN YÊU NƯỚC ĐẤT NAM BỘ
·
· HÀNH TRÌNH TRUYỆN KIỀU TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN THẾ KỶ XXI - KỲ II
· CÂY ĐƯỢC TRỒNG Ở NGHĨA TRANG TỪ GỢI Ý CỦA... THƠ CA
· MỘT CÁI NHÌN TOÀN DIỆN
· NGUYỄN VIỆT CHIẾN - TRONG HOẠN NẠN GẶP 'NGUYỄN DU'
· KHÁM PHÁ BÍ ẨN: AI LÀ T.T.Kh? - KỲ 4
· TÍM NGÁT MÀU THỜI GIAN
· ĐỘC GIẢ ĐAU LÒNG VÌ GARCIA MARQUEZ MẤT TRÍ
· HÀNH TRÌNH TRUYỆN KIỀU TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN THẾ KỶ XXI - KỲ I
· CHỦ NGHĨA NỮ TÍNH
· TRÒ CHUYỆN VỚI HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN VỀ NHỮNG 'HŨ MẮM THÚI' CỦA CỰU THIẾU TÁ CẢNH SÁT LIÊN THÀNH Ở MỸ
· HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VH PHƯƠNG TÂY TK XXI

 

  
Gia đình Bích Khê