DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THƠ TỐ HỮU TRÊN VĂN ĐÀN TRUNG QUỐC

                                                                       Vũ Phong Tạo

Dịch giả Vũ Phong Tạo phát biểu

Dịch giả Vũ Phong Tạo phát biểu

Bài phát biểu tại Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất (9/12/2002 - 9/12/2012) của nhà thơ Tố Hữu, tại Hội trường Hội Nhà văn Việt Nam, 9-Nguyễn Đình Chiểu-Hà Nội, sáng 4-12-2012 của dịch giả Vũ Phong Tạo
 


Kính thưa các vị đại biểu!
Kính thưa hội nghị!
 
            Trong cuộc Hội thảo “Tố Hữu - Thân thế và Sự nghiệp”, do Ban  Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Văn hoá Thông tin - Du lịch và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, sáng 4 tháng 10 năm 2010, kỷ niệm đúng 90 năm tròn Ngày sinh của nhà thơ nổi tiếng Tố Hữu (4/10/1020-4/10/2010) và tại Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất (9/12/2002 – 9/12/2012) của nhà thơ Tố Hữu hôm nay, từ nhiều góc độ và khía cạnh, các bậc học giả,  nhiều nhà nghiên cứu, các nhà thơ nhà văn khả kính đã khắc hoạ đậm nét bức tranh     hoành tráng “Tố Hữu - Nhà thơ lớn của dân tộc”.
Là một dịch giả văn hoá, văn học Trung Quốc, tôi xin được phát biểu một số ý kiến tản mạn, nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm tính xuyên quốc gia, tầm quốc tế của thơ Tố Hữu, của thi nhân Tố Hữu, thông qua những tư liệu đăng tải trên sách báo Trung Quốc.
                                                   ***
Theo chỉ dẫn hóm hỉnh của nhà sử học Dương Trung Quốc: “Dân ta phải biết sử ta/ Điều gì chưa biết thì tra gu-gồ!”
Với cụm từ Hán văn “Việt Nam thi nhân Tố Hữu” (越南诗人素友), sau 0,28 giây, trang mạng google tiếng Trung đã cung cấp 4.010.000 kết quả liên quan đến từ khoá  “Nhà thơ Việt Nam Tố Hữu”.
Với từ khoá Việt văn “Nhà thơ Tố Hữu”, sau 0,43 giây, trang mạng google tiếng Việt đã cho 3.960.000 kết quả thông tin về nhà thơ Tố Hữu của chúng ta.
So sánh hai kết quả này, chúng ta có thể nhận thấy, thông qua mạng internet, sách báo Trung Quốc nói về nhà thơ Tố Hữu  nhiều hơn chúng ta đến 50.000 thông tin.
Song, điều đáng suy nghĩ là những thông tin ấy không hề nông cạn, hời hợt.
Xin nêu một số thông tin làm dẫn chứng.
 
Phải chăng, văn hoá và văn học của loài người không hoạch định biên giới, không phân biệt quốc gia, không lệ thuộc dân tộc, cho nên một tờ báo điện tử Trung Quốc (www.yuenan.8.forumer.com), ngày 3/6/2005) đã giới thiệu tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp văn chương của 29 nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Việt Nam từ xưa đến nay, trong đó có nhà thơ Tố Hữu.
Họ xếp 29 nhà thơ, nhà văn Việt Nam tiêu biểu, theo thứ tự như sau: Nguyễn Trãi, Lê Tư Thành (Lê Thánh Tôn), Đặng Trần Côn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Tú Xương, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tố Hữu, Tô Hoài.
Về nhà thơ Tố Hữu, họ giới thiệu tóm tắt như sau:
Tố Hữu sinh năm1920, là nhà thơ Việt Nam. Tên khai sinh là Nguyễn Kim
Thành, người thôn Phú Lai, tỉnh Thừa Thiên. Phụ thân là công chức ngành bưu điện, am hiểu Hán văn.
Khi học trung học (16 tuổi), Tố Hữu đã tham gia hoạt động trong tổ chức Đoàn thanh niên, năm 18 tuổi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939, Tố Hữu bị    nhà đương cục thực dân Pháp bắt giam, năm 1942 vượt ngục. Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là một trong những người lãnh đạo chủ yếu ở khu vực Huế (Thuận Hoá).
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu làm công tác chính trị ở Liên khu Bốn, và phụ trách công tác lãnh đạo phong trào văn hoá, văn nghệ tại căn cứ địa Việt Bắc.
Sau năm 1951, Tố Hữu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Năm 1976, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1980 làm Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.
Thời kỳ đang học trung học, Tố Hữu đã công bố nhiều tác phẩm thi ca trên báo chí của Đảng; Trong thời gian bị giam cầm, Tố Hữu vẫn tiếp tục sáng tác.
Đại bộ phận tác phẩm của ông được tập hợp trong các tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, v.v…
Tố Hữu đã nhiều lần lên tiếng phản đối những việc làm sai trái của nhà cầm quyền Trung Quốc, đã công bố những bài thơ phản đối những việc làm sai trái của nhà cầm quyền Trung Hoa (phản Hoa thi tác), như “Tâm sự”, “Trên ngọn sóng Trường Sa” (năm 1976), và nhiều lần nói chuyện phê phán phản đối những việc làm sai trái của nhà cầm quyền Trung Quốc (phản Hoa giảng thoại).
                                                           *
Trên các trang báo mạng www.wanfangdata.com.cn; www.cqvip.com; www.dangzhi.com; đều giới thiệu tóm tắt bài viết của giáo sư Dư Phú Triệu, hướng dẫn nghiên cứu sinh Tiến sĩ của Học viện Ngoại ngữ Lạc Dương, với đầu đề “Nhà thơ hiện đại Việt Nam Tố Hữu”, dài 4 trang khổ A4 (tương đương 12 trang A4 tiếng Việt), từ trang 48 đến trang 51, số 6 năm 2005, của Tạp chí học thuật “Toàn cảnh Đông Nam Á” (Đông Nam Á tung hoành, tên tiếng Anh là Around Southeast Asia). Đây là tờ nguyệt san của Sở Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, trụ sở đặt tại thành phố Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.
Khi viết bài này, giáo sư Dư Phú Triệu đã tham khảo nhiều cuốn sách Việt Nam: “Thơ Tố Hữu” (Hà Minh Đức, 2004); “Hình thức lục bát biến thể từ ca dao qua thơ Tản Đà đến sáng tác của Hồ Chí Minh và Tố Hữu” (Nguyễn Xuân Kính, 1999); “Văn học Việt Nam 1900-1945” (Phan Cự Đệ, Trần Đình Huợu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoàng Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức, 1999); “Đối với tôi, làm thơ là làm cách mạng bằng thơ” (Tố Hữu, 2003).
Dưới đây là đoạn mở đầu của phần I “Bình sinh và Tác phẩm chủ yếu”:
“Tố Hữu (1920-2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920, là người thôn Phú Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Phụ thân là nhân viên bưu điện, am hiểu Hán văn, mê tục ngữ ca dao và thơ của Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng. Mẹ ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ. Tố Hữu được un đúc trong môi trường gia đình có học, sáu bẩy tuổi đã bắt đầu học thơ, làm thơ.”
Báo điện tử “Văn học Trung Quốc đương đại” (www.ddwenxue.com), ngày 10-10-2008, đăng tải Luận văn Tiến sĩ của ông Tống Bỉnh Huy, sinh năm 1964 tại thành phố Khải Đông, tỉnh Giang Tô, tiến sĩ văn học, giáo sư; Hiện là chuyên gia nghiên cứu Sở Nghiên cứu Ngữ văn Trường Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải, giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ văn học so sánh, văn học thế giới, văn học đương đại hiện đại Trung Quốc, Phó TBT tạp chí “Văn học so sánh Trung Quốc”, v.v…
Trong luận văn tiến sĩ “Ý thức dân tộc của văn học các dân tộc nhỏ yếu và văn học Trung Quốc”, giáo sư Tống Bỉnh Huy cho biết Trung Quốc đã dịch nhiều nhất là văn học Triều Tiên và Việt Nam, riêng Việt Nam đã dịch thuật xuất bản trên 70  tác phẩm nổi  tiếng của các nhà văn Việt Nam, trong đó có các thi phẩm của Tố Hữu “Việt Bắc”, “Tố Hữu thi tập”. Những tác phẩm này đều có ý thức dân tộc rất cao.
Tạp chí điện tử “Học thuật Trung Quốc” ( www.wuxizazhi.cnki.net), giới thiệu chuyên luận “Tố Hữu, nhà thơ đương đại Việt Nam kiệt xuất nhất” của giáo sư Trần Kế Chương (Giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, Học viện Ngoại ngữ Quân giải      phóng Trung Quốc, Hội trưởng Phân hội giảng dậy tiếng Việt của Hội giảng dậy ngôn ngữ phi thông dụng Trung Quốc) đã đăng trên tạp chí học thuật, phát hành 2 tháng một kỳ “Giải phóng quân ngoại ngữ học viện học báo”, số 6-1991, dài 6 trang khổ A4 (tương đương 18 trang A4 tiếng Việt). Chuyện luân mở đầu viết: “Báo chí nước ta (Trung Quốc) mỗi khi nhắc đến Tố Hữu, một trong những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, đều gắn thêm mỹ danh “Nhà thơ kiệt  xuất nhất Việt Nam” (‘Việt Nam quế quán thi nhân’, nghĩa là Nhà thơ Việt Nam mang vương miện nguyệt quế, Nhà thơ Vàng, Nhà thơ Hoa hậu, …).
Báo điện tử “Nhân dân nhật báo” (www.rmrbw.net) cung cấp nhiều thông tin vô  cùng quý báu.
Nhân dân nhật báo” ra ngày 20-7-1959, đăng  trên trang 8 toàn văn bài thơ “Người con gái Việt Nam” của nhà thơ Việt Nam Tố Hữu, tặng Trần Thị Lý anh dũng, bản dịch của Lý Á Thư, với Lời người biên tập: “Trần Thị Lý là một cô gái miền Nam Việt Nam. Chị đã từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bức hại tàn khốc. Nhưng, chị trước sau kiên trinh bất khuất, cuối cùng được nhân dân bảo vệ và giúp đỡ, chị đã thoát khỏi bàn tay ma quỷ của kẻ thù, trở về miền Bắc - mảnh đất tự do của Tổ quốc.”
Trang 2 “Nhân dân nhật báo” ra ngày 30-4-1965, in bài phản ánh không khí của cuộc Liên hoan văn nghệ ngâm vịnh thơ ca của trên một ngàn người, gồm các tầng lớp nhân dân Bắc Kinh và giới văn nghệ sĩ Trung Quốc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Nhà thơ Trung Quốc Quách Mạt Nhước, trên 70 tuổi, khi ấy là Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc, đã trực tiếp đọc bài thơ “Dân tộc anh hùng không sợ ma quỷ” do ông mới sáng tác ủng hộ nhân dân Việt Nam    đánh Mỹ. Ba bài thơ Việt Nam được ngâm vịnh bằng hai ngôn ngữ Việt - Trung là “Miền Nam” của Tố Hữu, “Gửi miền Bắc” của nhà thơ miền Nam Thanh Hải, “Năm 1965 vĩ đại” của Chế Lan Viên.
Trang báo mạng www.docin.com đăng tải “Niên biểu những sự kiện lớn trong lịch sử văn học phương Đông” cũng có phần giới thiệu “Thi nhân Việt Nam Tố Hữu”.
                                                           
                                                                 *
Kính thưa các vị đại biểu!
Kính thưa hội nghị!
 
Theo thống kê “Sách nước ngoài xuất bản ở Trung Quốc trong 60 năm (1949-2009)” của báo điện tử “Đọc sách” (www.dushu.com) của Tổng công ty Sách Trung Quốc, “Nhớ lại 100 năm dịch tác phẩm văn học” của báo mạng www.suho.com  thì Việt Nam đã có trên 180 đầu sách văn học được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc, trong đó có 22 tập thơ.
Người đứng đầu về số lượng  sách được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc là nhà thơ Tố Hữu, với 10 tập thơ. Đó là:
1- “Gió lộng”, dịch giả La Nhĩ Trang, 64 trang, nxb Tác gia, năm 1963;
2- “Tiếng hát đôi bờ”, 119 trang, nxb Ngoại văn Việt Nam, năm 1964;
3- “Miền nam Việt Nam đang chiến đấu”, dịch giả Lê Tiễn, 172 trang, nxb Tác gia, năm 1964, giá bìa 0,51 nhân dân tệ.
4- “30 năm đời ta có Đảng”, dịch giả Nông Gia Ngưu, 19 trang, nxb Tân Việt Hoa, năm 1959.
5- “Tố Hữu thi tập”, 190 trang, nxb Văn học nhân dân, năm 1960, giá bìa 0,06 nhân dân tệ.
6- “Chào Trung Quốc”, dịch giả An Chí Tín, 79 trang, nxb Văn học nhân dân, năm 1959, giá bìa 0,26 nhân dân tệ.
7- “Quê hương tôi”, dịch giả Tùng Liễu, 143 trang, nxb Tân văn nghệ, năm 1957, giá bìa 0,42 nhân dân tệ.
8- “Việt Bắc”, dịch giả Nhan Bảo và Bành Nãi Lương, 82 trang, nxb Tác gia, năm 1956, giá bìa 0,28 nhân dân tệ.
9- “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” (Tố Hữu cùng nhiều tác giả khác, Bạn dịch là Thâm thù đại hận), 130 trang, nxb Nhân dân Hồ Bắc, năm 1965, giá bìa 0,28 nhân dân tệ.
10- “Người con gái Việt Nam”, dịch giả Lý Á Thư, 55 trang, nxb Văn nghệ Thượng Hải, năm 1959, giá bìa 0,24 nhân dân tệ.
 
Theo trang web “Thư viện Trung Quốc” (www.sinolib.com), mười tập thơ này của nhà thơ Tố Hữu, cũng như 180 đầu sách Việt Nam được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2009, đều được lưu trữ tại Thư viện quốc gia Trung Quốc.
                                                                    *
Trên trang báo mạng www.zhencang.net của Cựu học sinh Hoa Kiều, có đăng tải những chuyện vui: Cựu học sinh đã dùng thơ Tố Hữu để bày tỏ tình cảm tâm tư mình.
Có bạn đã sửa câu thơ “30 năm đời ta có Đảng” thành “30 năm đời ta chán nản” để hình dung tình hình quan hệ biên giới Trung Việt căng thẳng từ năm 1979 đến Đại hội Liên hoan hữu nghị thanh niên 2 nước Trung Việt, tại Nam Ninh năm 2009:
                “Ba mươi năm đời ta “chán nản
                 Hôm nay, ôn lại quãng đường dài
                 Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
                 Ra sông nhớ suối có ngày nhớ đêm
                       ….
                 Đời ta gương vỡ lại lành
                 Cây khô cây lại đâm cành nở hoa…
Có cựu học sinh nhớ lại những chuyện bất hoà với nhau từ trước, nay “mong các bạn dĩ hoà vi quý, lùi một bước là biển rộng trời cao”. Cuối cùng lấy lại mấy câu thơ của Tố Hữu trong bài “Tâm sự” để tỏ lòng  thông cảm châm chước cho nhau, và cầu mong  chú Tố Hữu thông cảm cho:
                “Chân lý mặt trời soi sáng mãi
                  Lỗi lầm âu cũng bóng mây qua
                  Lương tâm đều vẫn trong như ngọc
                  Tình nghĩa anh em lại một nhà!”
 
Nhắc lại vài chi tiết vui vui này, tôi chỉ có một mục đích duy nhất là muốn nhấn mạnh thơ của Tố Hữu, một nhà thơ tầm cỡ quốc tế, đã khá phổ biến và từng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn người đọc Trung Quốc, và chắc rằng cũng là của nhiều bạn đọc ở  nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác trên thế giới!
 
Xin chân thành cảm ơn!

Nguồn: tapchisnhavanonline

 

Các bài khác:
· NHÃ CA TRONG CỰU ƯỚC: TÁC PHẨM TÌNH DỤC TUYỆT MỸ CỦA NHÂN LOẠI
· HOÀI KHANH SẦU XANH VƯỜN CÔ LIÊU
· HAI BÀI THƠ CỦA TRƯƠNG QUANG THỌ CẢM NHẬN 'THỊ TRƯỜNG LỤC BÁT' CỦA MAI BÁ ẤN
· NHÀ THƠ NGHIỆP DƯ VÀ NỖI ĐAU HÀN MẠC TỬ TỪ TRẦN
· TRẦN NHUẬN MINH VỚI THỂ THƠ TỰ DO
· TỐ HỮU LÀ AI?
· ĐI TÌM CÁI CHẾT
· PHAN THỊ THANH NHÀN: TÌNH YÊU VỚI TÔI ĐƠN GIẢN LẮM
· TÊN DÂN GIAN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI
· NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA NHÀ VĂN LÊ VĂN TRƯƠNG (1906-1964)
· CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA 'CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN'
· NGUYỄN KHẢI: BỚT THAM THÌ SẼ TỐT LÊN THÔI
· NHÀ THƠ YÊN THAO - TRỮ TÌNH VÀ TRÀO LỘNG
· 'THỦ ĐÔ' CỦA HỮU LOAN QUA BẢN CỦA ĐẶNG ÁI
· NGHĨ THÊM VỀ LƯU QUANG VŨ QUA 'GIÓ VÀ TÌNH YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI'
· CHO TÔI VỀ VỚI THIÊN ĐƯỜNG CỔ TÍCH
· SÔNG NƯỚC TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT
· ẨN HIỆN CHUYỆN ĐỜI NGUYỄN ĐÌNH THI
· MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
· THỬ BÀN MỘT CHÚT VỀ SEX TRONG VĂN HỌC

 

  
Gia đình Bích Khê