DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
ĐẶNG ĐÌNH HƯNG – MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM

                                                                    NGUYỄN THỤY KHA

 

Đặng Đình Hưng - Tạ Tỵ

Đặng Đình Hưng – Tạ Tỵ

NTT: Đặng Đình Hưng là một thi sĩ “chín muộn”. Từ một cậu học sinh trường Bưởi, rồi sinh viên trường Luật Đông Dương, rồi cán bộ tuyên huấn, đến Đoàn trường kiêm chính trị viên Đoàn văn công Nhân dân Trung ương, người ta biết đến một nhạc sĩ Đặng Đình Hưng nhiều hơn. Mãi tới tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, Đặng Đình Hưng mới dốc mình vào thơ và tới khi “tạ mùa đi” ở tuổi 67, thơ ông mới thực sự chín sáng qua “Ô mai”, “Bến lạ”. Nhưng từ trong bản thể, Đặng Đình Hưng đã có khát vọng cách tân từ sớm. Khi hoạt động âm nhạc, ông đã từng định làm mới chèo bằng cách hát cộng minh,  bằng việc đệm piano cho các làn điệu. Qua khát vọng cách tân ngây thơ ấy, Đặng Đình Hưng đã ngộ ra hai chữ “dân tộc”. Khúc Rondo “Mừng chiến thắng Tây Bắc” (lời: Thái Ly) đã là một minh chứng cho sự tìm về bản thể của Đặng Đình Hưng. Trong ba nhạc sĩ “dính” vào “vụ nhân văn giai phẩm” là Tử Phác, Văn Cao và ông, Đặng Đình Hưng cũng hết sức quyết liệt dấn thân. Ông thôi mọi chức vụ và đi thực tế dài ngày ở Nông trường Quân đội cho đến khi về làm Tạp chí Âm nhạc. Cho đến khi cảm thấy đã tìm được nhịp điệu riêng cho thơ mình, ông mới bước sang địa hạt thơ và thực sự thành công cùng Hoàng Cầm, Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt. Nhân dịp trung tuần tháng 4/2013, Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace tổ chức hội thảo về thơ ông, NTT xin trân trọng giới thiệu bài viết về thơ Đặng Đình Hưng của nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha.

Gần đây rất mừng là trong Từ điển Văn học bộ mới (Nhà xuất bản Thế Giới) đã có mục riêng cho Đặng Đình Hưng. Tác giả Vũ Thanh đã viết về Đặng Đình Hưng với những đánh giá rất chân xác về đóng góp của ông trong cuộc cách tân thơ Việt Nam hiện đại. “Đó là thơ văn xuôi có nhạc tính, cách biểu hiện hiện đại nhưng vẫn chứa đựng chất dân gian, dân tộc … thơ Đặng Đình Hưng là những thể nghiệm mới nhằm cách tân tiếng Việt, góp phần làm phong phú thêm bộ mặt thơ ca Viêt Nam”. Vậy là phải chờ đợi tới hơn 20 năm – bằng cuộc long đong phiêu dạt của nàng Kiều – nàng thơ của Đặng Đình Hưng mới được chấm giải Hoa Hậu Việt Nam.

Trong số các nhà thơ được gọi là các nhà thơ trong nhóm Nhân Văn Giai phẩm thời ấy, Đặng Đình Hưng là người “chín muộn” hơn cả. Để tìm ra hướng cách tân riêng của mình, Đặng Đình Hưng đã tự dấn thân, tự lột xác tự nhúng mình nhức nhói trong thực hiện đầy giông bão của một thời đại. Và đến “Bến lạ”, cái riêng của ông đã lộ sáng khi nằm trên giường bệnh, kề sát với cái chết. Đấy cũng là cuộc trùng phùng vinh quang của hai cha con ông, khi Đặng Thái Sơn đoạt giải nhất cuộc thi dương cầm quốc tế mang tên F.Chopin lần thứ 10 vào mùa thu 1980. Chỉ có khác, vinh quang của Sơn là ở sự nổi tiếng. Còn vinh quang của Đặng Đình Hưng là sự chiến thắng chính mình. Chiến thắng nỗi cô đơn.

Có một nghịch lý ở con người là không ai muốn chung sống với cô đơn. Nhưng chính nỗi cô đơn lại là nguồn năng lượng thúc đẩy con người lớn lên. Với các nhà thơ nói trên, có thể nói cô đơn là bi kịch của họ. Nhưng với bi kịch ấy, họ đã tự khẳng định tầm vóc đích thực của mình. Một tầm vóc mà không quyền uy nào có thể phủ nhận được. Họ đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng thơ ca của thế hệ mình bằng những sáng tạo trong dằng dặc cô đơn. Nếu Hoàng Cầm là chất thuỷ, Văn Cao là chất thổ, Trần Dần là chất hỏa, Lê Đạt là chất mộc, thì Đặng Đình Hưng là chất kim. Họ vừa tạo nên một ngũ hành tương sinh về tư tưởng, lại vừa tạo nên một ngũ hành tương khắc về biểu hiện. Hà Đồ – Lạc Thư nơi họ dựng lên một khao khát tự do trong sáng tạo đến cùng cực.

Tự hành trình ngược vào mình để tìm kiếm tới mức vô vọng từ “khắc biết” đến “hề biết”, Đặng Đình Hưng đã tạo ra một thi pháp hết sức độc đáo. Trong lời mở tập “Bến lạ”, người đại diện cho nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã viết: “Có lẽ cái cảm giác khó hiểu khi tiếp xúc lần đầu với thơ Đặng Đình Hưng cũng từ đó. Lại thêm lối nói nhiều chiều, dấp dính, lửng chửng mâu thuẫn, xa xôi, hàm súc, vốn là nối nói thường ngày của ông. Thơ ông là những đợt sóng ngược xuôi ngang dọc của trí tuệ. Mỗi hình ảnh mỗi cách nói đều có sự lấp lánh. Lại lắm khi lời, chữ tự động cuốn nhau đi như bị dẫn dắt bởi một lực giấu mặt, tạo ra một trường gợi tưởng hơn là một ý tưởng. Và trong dòng tâm thức triền miên thỉnh thoảng nhói lên một vết đau khiến ai cũng phải cảm thương”.

Người xưa nói: “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Đã đến tuổi 50 thì không còn thay đổi gì được mà tuân theo mệnh trời. Vậy mà ở tuổi lục tuần, nằm trên giường bệnh với khối u ngấp nghé di căn, Đặng Đình Hưng đã thiền tới mức đủ công lực mình thay đổi mình đến không ngờ. Vị đời đã nếm trải quá đủ. Đã sống tới mức “tìm ở sau cái gương – cũng không có gì hết”. Nhưng kể ra chiêm nghiệm này để thực sự thanh thản khi về với “Bến lạ” như một lời sám hối, một bài nguyện cầu thành khẩn mà mơ hồ thì chỉ có Đặng Đình Hưng mới làm được. Tôi đã đọc “Bến lạ” theo cách cầu kinh lầm rần lì rì, thấy lời, chữ như dâng dần sóng âm ra không gian xung quanh. Và tự nhiên thấy mình như cộng hưởng cùng ông trôi dạt ra một nơi nào đó ở ngoài cả thể phách. Sao con người lại phải sống trong một thời ghê gớm đến thế để có thể chắt ra: “Từ góc nhọn A, tôi đi ngềnh V ghê sợ nhất”. Có thể nào nói ngắn hơn, gây dư chấn mạnh hơn câu này? Nhịp điệu cầu kinh đã dịch chuyển “Bến lạ” loang xa, loang xa như không cùng. Những an-pha, mê-ta, mê-ga, tê-ta cứ thể trôi nổi như trong một dao động sóng của “hột khuya” khiến ngực ta cảm thấy “Có lẽ zẹt. Bởi ở trên ngực, cứ thình thình một tiếng đập”. Và những “hạt thóc giống của không biết” đã tự nhiên mọc lên sự biết trong cảm nhận của ta. “Đời gì – sao cứ đi đi những cái vali cứ về bến lạ”. Đời là thế, biết cả rồi, khổ lắm, nói mãi. “Bến lạ” cứ gởi gắm như vậy đó. Chuyện cũ nhưng qua Đặng Đình Hưng ta thấy sững sờ, thấy đầy nỗi niềm, nghẹn ngào. Tìm tới giọng này, Đặng Đình Hưng đã phải âm thầm ngẫm nghĩ qua bao chiêm nghiệm. Và hình như để gởi lại những chiêm nhiệm ấy cho đời trước lúc “tạ mùa đi”, Đặng Đình Hưng lại tiếp tục minh chứng cuộc cách tân thơ âm thầm của mình bằng “Ô mai” – tác phẩm cuối cùng của ông.

Tôi nhớ mùa thu 1989, Đặng Đình Hưng lại vào nằm viện. Khi tôi đến thăm, tuy còn mệt nhưng Đặng Đình Hưng rất vui. Rì rầm trò chuyện, ông lại đọc nghe vài đoạn “Ô mai ”. Vẫn đích thị là “ô mai Hàng Đường” rồi. Ông ngỏ ý muốn anh em xúm vào để đưa “Ô mai” ra với cuộc đời. Nhưng cái chết đã ập đến số phận ông quá sớm. Phải tới sau khi ông mất ba năm, “Ô mai” mới được ấn hành. Cũng là người đại diện nhà xuất bản Hội nhà Văn, trong lời nói đầu đã viết: “Ô mai mang một hình thức đặc biệt, có lẽ chỉ có riêng ở tác giả và cũng chỉ xuất hiện một lần, trên một độc thoại nửa thơ, nửa văn xuôi, hiện lên câu chuyện tình hư hư thực thực với những đoạn hát đôi của nhạc kịch, xen kẽ là những tùy bút đầy không khí và những đối đáp lý thú về công việc sáng tạo mà ông gọi là “thể nghiệm”. Gọi đây là một tác phẩm thơ thì nó là một thứ thơ không chút bận tâm đến những quy ước có sẵn về thơ. Và quả thật nó là thơ đến tận cùng, ở một thứ ngôn ngữ đầy nhạc tính bên trong, nén chặt và âm vang, gợi cảm và gợi tưởng, ở chất trữ tình trí tuệ, bông đùa rớm máu. Nó là thơ ở công phu làm bằng tiếng Việt, thứ tiếng Việt – Đặng Đình Hưng, quanh co và nhảy vọt, chắc nịch và lan man”.

Tôi may mắn có một thời gian dài thường xuyên uống rượu cùng ông tại nhà và tại các quán quen quanh nhà từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Vậy nên những hiện thực mà Đặng Đình Hưng chuyển vào “Ô mai” đều rất quen thuộc với tôi. Nhưng lạ, khi qua thơ ông những hiện thực ấy đều lấp lánh một ánh sáng khác thường chiếu dọi từ tinh thần cách tân thơ của ông.

Vẫn là cái buồng tầng hai của tòa nhà 5 tầng khu Giảng Võ nhìn ra đường, cái buồng ông được đích danh thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ thị thành phố cấp cho ông sau khi Đặng Thái Sơn đoạt giải F.Chopin, cái buồng mà ông đã viết: “Sống khuôn nhịp. Tới mức người cùng cái ngôi nhà năm tầng này như thuộc. Thuộc giờ đi, về, sức nặng, nhẹ, dài, ngắn bàn chân cầu thang”, cái buồng mà ông đã từng bao năm “thường ngồi giờ dài, chẳng nghĩ. Chỉ cảm. Cảm bằng da. Da của mắt – bàn tay – chủ yếu là lưng. Tới mức toàn thân gắn hẳn vào không khí, đồ vật, tường, buồng”, khi vào thơ ông thấy khác lạ nhường bao.

Vẫn là những quán bình dân quen thuộc mà ông “một ngày hai lần, anh ra quán. Uống và nhìn. Nhìn người. Anh ngồi dài, tắm vào cái số đông di động ở quán. Cùng ngần ấy cảm giác – lạc thú. Cái ầm ầm ở quán, anh ầm ầm vỗ theo” thì chỉ với hai động từ “tắm” và “vỗ theo”, Đặng Đình Hưng đã gợi cho ta những gì nhàm chán, tẻ nhạt của kiếp người phải “ăn dần thời gian sống” một cách vô vị đến thế.

Vẫn là cái chợ quen mà sao khi qua thơ Đặng Đình Hưng, nó tràn trề, cựa quậy một nỗi đời nhưng nhức. Cái chợ – nói như Thanh Thảo – đã ở trong ông mà trào ra từ khi nào, trào ra từ cơn thèm một cái gì đó: “Điểm cao của thèm có khi chạm lại tất cả các thứ thèm: ăn – nghe – nhìn – ngắm, chẳng hạn ăn một quả chuông buông giờ”

Vẫn là một cuộc dọn dẹp, thanh lý các thứ thừa trong nhà, nhưng khi qua thơ Đặng Đình Hưng ta thấy sửng sốt ngạc nhiên như cả một thế hệ khi chợt ngoái lại hồi ức, quá vãng, kỷ niệm: “ Ảnh. Thuốc long ra. Những khuôn mặt chập lại. Phải nhẹ tay bóc ra. Lâu chưa? Không mở ra nhìn – Không mở do thiếu tình – hay ghim tình mà thời gian ăn mặt. Thời gian ăn cả đá, cả sắt, cả sỉ, sắt chuyển thành vôi đất – chả cứ người – nhan sắc và công danh”. Một cuộc “lọc – thải và giữ” những gì đã sống qua, đã lưu lại đến chất chồng trong cõi lòng tan nát: “Dùng dằng trước cái đống này. Ở hay đi? Cái đống hiện thân một mảng đời dài. Một cuộc tổng tảo mộ. Để làm gì mà tổng tảo mộ! Một quyết định gì đây? Hay chỉ là cơn nghiện bệnh tật quen ăn quá khứ che lấp đi cái hiện hành”.

Vẫn là phố quen của Hà Nội cổ xen lẫn Hà Nội cũ và Hà Nội nay. Vậy mà khi qua âm hưởng thơ Đặng Đình Hưng ta cứ thấy ngỡ ngàng lạ thường: “Phố: những dòng đi lúc đậm, lúc nhạt. Vội – vướng – tránh xa nhau … Đi! phố – ngoặt fố – lại ngoặt fố … anh đi fố fố cột đèn … Về – fố lác đác đèn …”. Cái mòn mòn, quen quen, nhạt nhạt cứ xâm lấn ta bởi nhịp lời, chữ cứ cuốn đi, cuốn đi không cưỡng nổi.

Ngay đến cả nàng “Ô mai”, ta cũng nghĩ là đã gặp nhiều lần ở đâu đó trong quán quen. Cũng đã từng thấy thấp thoáng trong căn buồng ông. Vậy mà khi ông thốt lên những dòng thơ tội nghiệp về thân phận nàng, ta cảm thấy như những oan nghiệt nàng đã trải cứ cứa vào ta một cách chẳng thông thường. Cứa nhay nhứt:

Em đã mất ấu thơ

Mất ước mơ

Mất mùa tổ ấm

Nhà thơ ơi! anh có phép diệu kỳ

ước mơ mất

làm lại hộ em đi

lửa tắt ngang chừng

nhóm lại hộ em đi

Đặng Đình Hưng đã phong thánh cho nàng “Ô mai” của mình cũng rất nhẹ nhàng và tự nhiên:

-         đừng khóc

Đau thương bằng thánh

Em là người thánh

Oan là thánh

Nghe, em của anh

Đã thốt ra được lời

Em lấy lại được đời rồi

Lấy lại y nguyên

Vẫn là căn buồng “siêu hầm” ở góc đầu tòa nhà trên tầng hai, nhưng khi Đặng Đình Hưng đắm chìm trong cơn thể nghiệm, cái “siêu hầm” ấy trở nên một cõi thiền để Đặng Đình Hưng siêu thoát hết thủy mọi cô đơn trong suốt cuộc rong rêu phận người gớm ghiếc và lạnh lẽo. Cái hầm của Đặng Đình Hưng, cái ghế của Trần Dần ngày nào cũng ngồi đến lõm cả tường, cái gác xép của Hoàng Cầm, cái góc tối của Lê Đạt ,cái ghế mây của Văn Cao, tất cả đều đã trở thành giới hạn nơi các ông bay lên qua nỗi cô đơn để hòa nhập vào vô cùng.

Đặng Đình Hưng cách tân thơ âm thầm nhưng không hề cố ý. Bằng tất cả tình yêu da diết con người, cuộc đời ông đã thôt lên bằng cái giọng Kim rất Việt của mình những gì ông đã trải nghiệm, đã thấm thía. Nếu “Bến lạ” mang nhịp điệu cầu kinh thì “Ô mai” mang nhịp điệu nhạc Rap. Vẫn là lời khép lại của người đại diện nhà xuất bản Hội nhà Văn: “Nếu “Bến lạ là cơn mê sảng của một tâm hồn đầy khát vọng bị dồn nén, thì có thể coi “Ô mai” như một sự giải thoát. Sự giải thoát mà tác giả đã gặp được ở cuối cuộc đời bi kịch của ông”.

Sự giải thoát ấy đã thực sự chấm dứt vào ngày 21.12.1990. Trong cái buồng “siêu hầm” ấy, tôi thấy Đặng Đình Hưng nằm im nặng như những lúc thiền. Nằm im lặng như vẫn âm thầm ngẫm nghĩ những câu thơ, những nét vẽ, những mảng màu. Bỗng thấy như có một cái gì đó bồng bềnh không nhìn rõ cứ bay bay trong ánh sáng huyền ảo của lúc ông “tạ mùa đi”. Bay bay mà để lại mãi mãi.

Nguồn: nguyentrongtao.org

 

Các bài khác:
· NGUYỄN ĐÌNH TÚ TẤU 'HỒN TỬ SĨ' RA MẮT SÁCH
· CHÙM TRUYỆN MINI CỦA PHÙNG THÀNH CHỦNG
· NGUYỄN NGỌC HƯNG - NGƯỜI NĂM ĐÂY MÀ CÂU THƠ LƯU LẠC
· LÀM BÁO VĂN NGHỆ THẬT KHÔNG ĐƠN GIẢN
· CHÙM THƠ TỰ DO CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· 'VIỆT NHÂN CA' - BÀI CA NGƯỜI VIỆT CỔ
· HÀ QUẢNG - THAO THỨC NHỮNG MIỀN QUÊ
· TIỂU THUYẾT SỬ THI - ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
· VÕ HỒNG TRONG TRÍ NHỚ
· MỘT VÀI DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT 10 NĂM QUA
· CHÙM THƠ CỦA TRẦN ANH DŨNG
· THƠ XUÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
· 'GẦN NHƯ LÀ SÔNG' – ĐỖ PHẤN VÀ VĂN CHƯƠNG PHÂN LẬP
· VĂN CHƯƠNG KỲ ẢO - NHÌN TỪ HAI PHÍA
· TRỊNH CÔNG SƠN VÀ HAI KHÚC TƯỞNG NIỆM CỦA TRẦN THỊ CỔ TÍCH
· HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÀI THƠ
· TÌNH KHÚC TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG BÍ ẨN CỦA KHÁNH LY
· TẾ HANH - SÁNG TÁC, DỊCH THUẬT VÀ PHÊ BÌNH
· CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI NÀNG THƠ
· NGUYỄN TRÃI LẠI TRỞ VỀ CỔ VŨ CON CHÁU CỦA NGƯỜI

 

  
Gia đình Bích Khê