DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGUYỄN ANH NÔNG – NHỮNG THỎA THUẬN TỪ SỰ ĐỌC

Nguyễn Thanh Tâm[1]

 

Bàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh

 

1.     Bối cảnh của sự đọc

Sự đọc luôn tìm kiếm một hệ quy chiếu để nương tựa như là một thứ khế ước, một thỏa thuận cho diễn giải bởi tính tương đối, đầy chủ quan của các chân trời tiếp nhận. Đọc Nguyễn Anh Nông để tri nhận một chân dung, một hình hài sau chữ nghĩa rất cần xác lập một bối cảnh, nơi mà Nguyễn Anh Nông thuộc về, nơi anh được kiến tạo[2].

1.1.         Những chuyển động của thời đại

          Nguyễn Anh Nông có thơ từ đầu những năm 80. Chiến cuộc biên giới nổ ra, Nguyễn Anh Nông vừa cầm súng vừa cầm bút viết nên Những tháng năm ở rừng. Điều đó như một sợi dây nối anh vào với ký ức hoa lửa của dân tộc vừa mới tạm kết thúc sau 1975. Dẫu như thế, cái nổi trội lên trong dòng mỹ cảm của Nguyễn Anh Nông lại thuộc về thời bình với điều kiện và hoàn cảnh sống mới, tâm thức, thị hiếu mới. Sự đọc hiểu vì sao, Những tháng năm ở rừng Nguyễn Anh Nông có thể là cây súng, là lá chắn, là máu xương nhưng cũng Đăm đắm bàn tay lá cỏ. Sự kiện giải phóng đất nước (1975), tiến hành đổi mới (1986), sự sụp đổ của bức tường Berlin (1989), sự ra đời của Internet, các nhân tố làm phẳng thế giới,… tạo nên bước ngoặt quan trọng cho dân tộc, cho con người và các hệ giá trị. Đó là những điều kiện để dẫn đến sự chuyển đổi một “hệ hình” thẩm mỹ với hai xu hướng vận động: phục hưng các giá trị đã từng tồn tại và khảo tìm các hệ giá trị mới. Đó là thời mà Nguyễn Anh Nông thuộc về.

1.2.         Những chuyển động của thơ ca

Sau đổi mới (1986), người ta nhận ra những thay đổi có tính bước ngoặt trong quan niệm của các nhà thơ về chất thơ. Chất thơ trong cuộc sống hôm nay có mạch nguồn từ lẽ sống của con người trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thơ phát huy thế mạnh trong việc triển hiện đời sống nội tâm thành thật của cá nhân đang ráo riết tìm lại căn tính của mình từng bị khuất chìm trong thời gian. Đó là sự trở về của những giá trị nhân văn, nhân bản, hướng tới sự sống toàn nguyên. Sự khác biệt lớn nhất trong chất thơ đương đại với chất thơ thời chiến tranh và cả tiền đổi mới chính ở điểm này. Cái tôi trữ tình trong thơ là một nhân cách mang tính đại diện. Cái tôi thời chiến là cái tôi đoàn thể, tập thể gắn với một hệ giá trị phổ quát là tính Đảng, tính giai cấp, tính dân tộc, tính chiến đấu,… Đó là dưỡng chất chảy xuyên suốt trong sinh thể thơ ca thời kỳ chiến tranh và tiền đổi mới. Cá nhân chỉ có ý nghĩa khi đứng trong đoàn thể và “phục tùng” tối đa những giá trị phổ quát của thời đại đã được xác lập. Đổi mới, cái tôi có điều kiện sống đủ đầy hơn những phẩm tính của mình. Phải chăng, thơ đương đại là sự “hồi loan” của cái tôi thời Thơ mới?

 Cái tôi thời Thơ mới soi mình vào cộng đồng, tha nhân, ngoại vật để kiếm tìm sự khác biệt, nhằm định vị mình giữa cuộc đời – một cái tôi cá thể hiện diện. Chủ thể sáng tạo trong thơ ca đương đại trở về nhận diện cái tôi cá nhân thời Thơ mới như một “vốn liếng” để thực hiện cuộc hành trình xa hơn về phía trường thẩm mỹ của cái tôi bản thể hiện hữu. Cái tôi bản thể không chỉ đặt mình trong tương quan với tha nhân, ngoại vật mà quan trọng hơn hết là soi mình vào các giá trị phổ quát của con người để tri nhận lí lẽ của sự hiện hữu. Sự trần tình những diễn biến tâm lý phức tạp của con người đương đại là mảnh đất hoạt năng của thơ. Chủ thể sáng tạo thơ hôm nay vừa thấy mình được tự do trong môi trường toàn cầu hóa, lại vừa ám ảnh bởi muôn vàn truy bức, trập trùng những “bức tường”, những giới hạn mà nỗ lực vượt qua nó đã làm hoang mang loài người ở kỷ nguyên này. Khi nhân loại kéo đổ những bức tường, khi thế giới đang phẳng ra từng ngày, con người lại thấy chẳng còn trung tâm nào, chẳng còn đỉnh cao nào để ngưỡng vọng, tôn thờ hay ít nhất là để tự tín. Một thế giới đổ vỡ, một kỷ đại thiếu vắng đức tin, một chân trời trập trùng giới hạn là tâm thức của con người đương đại. Hoang mang, hoài nghi nên con người đương đại lại càng ráo riết xác lập giá trị bản thể - dấu hiệu, tư cách tồn tại của mình. Chất thơ trong thơ đương đại là sự hiện hình của kinh nghiệm đa chiều trong cuộc sống, gồm cả niềm vui, nỗi buồn, hi vọng, tuyệt vọng, thậm chí là hãi hùng, hoang mang, nghiệt ngã.

Nguyễn Anh Nông ở đâu trong bộn bề đời sống thi ca đương đại Việt Nam? Đó có lẽ là câu hỏi mang tính bản thể khi tiến hành sự đọc. Hẳn, sự đọc sẽ nhận ra, khi xã hội triển nở những thị hiếu mới, những vùng thi cảm, thể điệu mới, Nguyễn Anh Nông vẫn không phải là kẻ hăm hở lao theo để gắn lên vai áo mình huy hiệu thi sĩ cách tân. Một cách cứng nhắc, nếu tách thơ Việt đương đại thành hai dòng: cách tân hình thức nghệ thuật và tìm tòi những vùng nội dung, mỹ cảm mới, thì, Nguyễn Anh Nông cũng không nổi lên như một hiện tượng, một ngọn triều khiến người ta phải chú ý, phải bàn tán, xôn xao. Ngay cả, nếu Nguyễn Anh Nông có động thái ấy, cũng khó lòng có thể thu lượm được gì trên những cuộc phiêu lưu chữ nghĩa. Cái khác biệt, làm nên chất thơ của Nguyễn Anh Nông lại chính là sự lặng lẽ và cần mẫn như đất đai, ruộng vườn của một vùng quê nghèo khó nhưng khát khao dâng hiến. Đặt suy tưởng vào bối cảnh để kiếm tìm một thỏa thuận rằng đấy là Nguyễn Anh Nông, ngay cả khi đối thoại với Bill Gates, sống giữa nền văn minh công nghệ vẫn là hồn đất đai ấy mà thôi. Lạ thay, sự liên tưởng của Hàn Mặc Tử xưa kia, mỗi lời một vận vào Nguyễn Anh Nông: Người thơ phong vận như thơ ấy.

2.     Chất thơ mang hồn xứ sở

Bàn chân đã đi qua nhiều con đường, mỗi ngày một xa hơn khỏi bản quán của mình. Khoảng trời không xa, mà xa những vùng ký ức đã làm nên xác thân và tâm tính. Nghĩa là một sự tha hóa, một sự mất đi. Trong những ngày tháng lưu đầy, đôi khi thèm đến tê tái một giọng người, nghe nhức nhói một miền Thanh nồng nàn trỗi lên từ ký ức. Ngày về, nối sự đọc vào Nguyễn Anh Nông, cho tương lai đầy vết mỏi mòn bám vào ngày tháng thơ dại trên đất đai cỗi cằn, bao dung bên dòng sông Mã.

          Chất thơ của Nguyễn Anh Nông có nguồn vật liệu dồi dào đến kinh ngạc khai thác từ “Tiểu vùng văn hóa Xứ Thanh” (Ngô Đức Thịnh). Dĩ nhiên, chất sống không phải là chất thơ, nó chỉ là nguyên liệu để chưng cất nên rượu thơ có sức men say lòng. Nhưng, Nguyễn Anh Nông không phải chất rượu ấy, thơ anh là cánh đồng, là ruộng lúa, là gió, nước, men đời ngâm ủ trong năm tháng làm người gắn với Quê Thanh. Chất thơ của Nguyễn Anh Nông, từ Đoản thi tới Trường ca, từ Trường sơn dài rộng đến mai sau hay Bàn tay lá cỏ,… bao trùm một thứ khí hậu thôn dã, một tâm tính thôn dân, một vùng thôn ổ. Trên dòng suy tưởng kiến tạo, Nguyễn Anh Nông xa lạ với chất men tỏa ra từ Tay tiên rót chén rượu đào, mà vạm vỡ những đường cày vỡ đất, rạn giọt mồ hôi trên da thịt trai làng:

Sức rộng vai dài

Bao vướng víu đường vân tay chằng chịt

Xốc ba lô non nước trập trùng xanh

(254)

Nguyễn Anh Nông bị ám ảnh bởi bàn tay! Bàn tay chằng chịt gian nan đường cha ra trận, đường con tha hương, cánh đồng của mẹ, giấc mơ của em, phận người bỡ ngỡ trên bàn chân bùn đất bôn ba,… Chất Thanh không cứ phải là địa danh, là tên đất tên làng, sông Yên, sông Lý, Nam Ngạn, Hàm Rồng, chất Thanh là tâm tính, bản sắc của con người Quê Thanh. Trong thơ, không gì hơn chính là những ứng xử nghệ thuật để hiển hiện điệu hồn, thi cảm lên men từ khí chất bản nguyên:

Kìa trông, con sáo sang sông

Chợt nghe nước xiết va lòng trăng xa

(Đọc bài thơ: Ta ngồi chơi cuộc tình cờ của Văn Công Hùng, cảm tác)

Chất thơ từ miền Thanh hiện lên ở câu thơ thứ hai. Bao nhiêu vẻ ngang ngạnh, thô tháp, gồ ghề ở bề mặt gợi lên hình hài một kẻ quê vụng về đến mức “Ta như gấu biển chợt sa địa đàng” (Thơ Văn Công Hùng). Đích thực đó là hình tướng của kẻ Thanh. Kẻ xốc ba lô theo trập trùng xanh của non nước, kẻ đã lấy thân mình cùng đồng đội làm lá chắn bên cột mốc cũng là kẻ đã ký cược cả đời mình, dắt díu vợ con qua những khúc đời quanh co gai góc. Người Thanh ám ảnh câu “Khu Bốn đẩy ra/Khu Ba đẩy vào” như định mệnh lưu đầy, nên dường như cái giá phải trả cho sự tha hương không hề nhỏ. Con sáo sang sông còn mong gì nữa, nghĩa là tuột khỏi tay mình tất cả. Có một dáng núi, một mù khơi trong thơ Nguyễn Anh Nông (Buồn), còn có cả một “lòng trăng xa” nghe dòng đời gào xiết qua thương đau. Nơi đáy sâu ấy, cốt tướng của Xứ Thanh có lẽ đã bật khóc. Dường như, ở đây có một sự liên hệ nhỏ đến suy tưởng của G. Jung khi ông đề ra cặp Anima và Animus trong vô thức con người. Hình tướng càng gai góc thì chân cốt càng yếu mềm cũng như ý thức nam tính của con người thích nghi với xã hội lại ẩn sau nó là một thế giới vô thức chứa đầy tâm tính của nữ giới (Anima)[3].

Không phải Nguyễn Anh Nông không có khả năng trau chuốt. Hãy đọc Bàn tay lá cỏNhững tháng năm ở rừng để thấy anh cũng duyên dáng, cũng mượt mà. Nhưng, càng đi xa, ký ức quê mẹ, cái chân chất hồn quê Thanh lại lần hồi trở lại. Chỉ những ai đã thấm cái giọng Thanh, lối tư duy và cảm xúc của người quê Thanh mới thấy Nguyễn Anh Nông đang chắt lòng tìm về với cái lẽ dung dị, tự nhiên như cỏ giả, đất đai, bờ thửa:

Em nghiêng nón đợi

Chung chiêng ánh trời

Em nhoẻn miệng cười

Anh ngây dáng đá

(Em II)

 Khởi thủy là lời. Lời quê ấy là thứ vốn liếng, thứ ký ức ắp đầy trong Anh Nông. Tiếng Thanh thật quê mùa, ấy thế mà cứ mỗi lần bước lên xe ô tô rời khỏi phố thị này, tự nhiên như không tôi lại cất lời quê. Gặp người Quê Thanh, không nhủ mà thành, bụng nghĩ, miệng thốt lời đất đai miền cằn cỗi, vụng về.

Thơ Nguyễn Anh Nông có cái vụng về như chính người Thanh vậy. Thật khó để tìm thấy trong âm sắc người Thanh nét mềm mại xứ Bắc, cái thỏ thẻ ngọt lành xứ Huế. Lời Thanh cứ như nhịp tầu gõ vào đường ray, cứ như dòng sông Mã không bao giờ chịu lắng xuống để trong. Cái gấp, cái vội hằn lên trong chính âm vực chẳng bao giờ đủ Đầu - Đệm – Chính - Cuối và sai thanh điệu. Cái chuẩn của tiếng Thanh với người Thanh xem ra dễ trở thành lệch chuẩn với xứ người. Ấy vậy mà cứ muốn được về để nghe, để nói, để va đập với biết bao gàn bướng, ương ngạnh, róng riết đến thô bạo của Xứ Thanh. Không khéo léo là hệ quả của việc lời nói khiếm khuyết những sắc điệu mềm mượt quy định bởi thanh điệu, âm vực, tiết điệu, cả cách ví von, lúng liếng, thỏ thẻ làm duyên làm dáng cũng thật hiếm trong chuỗi lời của người Thanh.

Nguyễn Anh Nông có cái hồn nhiên rất cần cho thơ. Phẩm tính ấy khó kiếm giữa cuộc đời này. Hồn nhiên nhưng không buông tuồng, dễ dãi, không suồng sã, nông cạn. Cái hồn nhiên của Anh Nông là một lựa chọn, sự trở về sau nhiều cân nhắc, sau nhiều ngẫm ngợi. Đó là chất sống lắng lại trên bước tha hương của phận người mà Nguyễn Anh Nông đã nhận ra. Làm láng giềng xứ người, làm thân đất khách, ba chốn bốn nơi mới hiểu nước nguồn quê mẹ bao dung ngần nào. Va xiết đời mình vào guồng quay nghiệt ngã của thời gian, lăn lóc trong cơn bão nhân sinh, ở nửa cuối của chặng đường làm người, bao hào nhoáng mạ trên lớp thân thể đại diện được Nguyễn Anh Nông – hay đúng hơn đã được cuộc đời cạo gột, rũ bỏ. Chỉ còn lại cái lõi rắn chắc, bất biến là một đứa con của ruộng đồng, sông biển và núi rừng xứ Thanh:

Bếp đâu nổi lửa hừng than

Cây lim, cây nghiến miên man nỗi niềm

(Trường Sơn)

 Đọc Nguyễn Anh Nông có hai cảm thức xảy ra ngược chiều nhau: thứ nhất thấy thơ Nguyễn Anh Nông nhiều vật liệu, còn thô mộc, ít được trau chuốt, dũa mài, lắm khi thơ chỉ là sự nôm na đến mức khó chịu. Hệ luận sau cảm thức này dĩ nhiên là sự phủ nhận chất thơ của Nguyễn Anh Nông. Cái lõi quê ấy cứ rắn đặc, gồ ghề, trơ lụi không chịu ngấm bám bất kỳ thứ thuốc mạ nào, nên kém hào nhoáng, không trơn bóng, mềm mại. Đánh giá này có thể đến từ chặng đầu của quá trình đọc Nguyễn Anh Nông. Đó là ấn tượng đầu tiên khi bước chân vào thi giới, khi tiếp xúc kẻ đại diện của Nguyễn Anh Nông trong biệt quốc của mình. Dĩ nhiên, ấn tượng ban đầu vô cùng quan trọng. Tôi chắc rằng, đã có người khó chịu mà buông rơi những vần thơ ấy, hoặc chí ít không đủ kiên nhẫn để kiếm tìm thứ “bụi quý” trong ngổn ngang đất cát, trong bề bộn những thứ ít có giá trị. Không thể trách sự đọc. Có chăng, lỗi là ở thơ Nguyễn Anh Nông không có được vẻ hào nhoáng cuốn hút tha nhân. Thơ Nguyễn Anh Nông giống như bản mệnh của kẻ quê Thanh. Cảm thức này sẽ dần vợi đi nếu sự đọc đủ kiên nhẫn tìm trong đất đai chữ nghĩa những vỉa quặng, những bụi, những hương lộ ra từ lõi trầm, từ mạch khoáng, từ lắng đọng. Đọc nhiều lần từ Bàn tay lá cỏ (I, II – 1993, 1995), Kỵ sĩ ngựa gỗ (1998), Mây bay (2000) đến Những tháng năm ở rừng (2005), Trường Sơn (2009), Lững thững xanh (2010), Gửi Bill Gates và trời xanh (2011), Hà Nội và em (2011), Trò chuyện cùng cha con cu Lập Sơn & Lập Thành (2012),… người ta mới nhận ra không phải Nguyễn Anh Nông khó nhuộm mà chính anh đã chủ động gột đi trên hình hài sự hào nhoáng, cuốn hút của lớp men thứ cấp. Đây là điểm yếu hay điểm mạnh của Nguyễn Anh Nông ? Tôi cho rằng đó là một sự lựa chọn khôn ngoan, nghĩa là một thế mạnh của tác giả. Lựa chọn, đúng hơn là cố thủ lấy hồn cốt của xứ quê là một cách “phòng vệ” (có thể cực đoan) trước sự tha hóa của cõi người. Với một thể loại súc tích, kiệm lời, cần nhiều yếu tố nhịp điệu, nhạc tính và thi ảnh như thơ, cái làm nên chất thơ trong thi giới Nguyễn Anh Nông cũng phải là thứ hồn cốt đã được thăng hoa, tinh lọc chứ không đơn giản chỉ là tập kết tất cả vật liệu của xứ sở về trong biệt quốc. Trong một quy trình có tính biện chứng, chất quê cần phải được tôi luyện để không thể phai nhạt nhưng lại cần thích ứng với những hình thái mới, những điệu thức mới để tồn tại hài hòa. Những câu thơ đọng lại của Nguyễn Anh Nông là những câu thi sĩ làm được điều đó. Đặt trong bối cảnh của sự đọc, nét quê mùa, vụng về của chữ nghĩa, những ví von liên tưởng như bật lên từ cuộc đời người nông dân quê Thanh đôi khi làm ta bật cười, có lúc khó chịu, nhưng khi xếp lại những tập thơ ấy lại cứ thấy thao thức bởi chính phần máu thịt trong mình chẳng chịu ngủ yên:

Bước tuổi tác thập thững làng xóm rộng

Tre và dừa vỗ nắng ngắm theo đi

(Ngày đầu xuân, tảo mộ)

 Nếu so với cái khéo léo, mịn màng, tinh tế trong chất thơ Xứ Bắc, có lẽ sự đọc phải gạn đi hơn 80 % những đất cát, sỏi đá để chiêu lấy phần còn lại là thứ quặng quý làm nên giá trị của Nguyễn Anh Nông. Kỳ thực, không phải cái khéo, cái mịn màng nào cũng quý, cũng là giá trị. Có những cái khéo quá, mịn quá, sàng đãi đôi lần đã trôi tuột đi, chẳng đọng lại gì giữa đôi tay nhiều trắc ẩn. Sáng tạo thi ca và nghệ thuật, cái đích cuối cùng phải là giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật. Đó là những giá trị có tác dụng lay động lòng người, cảm hóa, thanh lọc hoặc gây nên những rung chấn trong mỹ cảm, tinh thần của chủ thể tiếp nhận. Ngay cả cái xấu, cái ác cũng là đối tượng của nghệ thuật khi từ đó hướng đến Chân – Thiện – Mỹ. Cái thô mộc, gồ ghề của nghệ thuật khác sự thô mộc gồ ghề của vật liệu. C. Lévi Strauss đã nói rất đúng, ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ được cất cánh bay lên trên ngôn ngữ đời thường. 80% thơ Nguyễn Anh Nông vẫn nằm ở thế dự phóng, tiềm năng, chỉ một phần ít thôi như đã nói “cất cánh bay lên” thành nghệ thuật. Điều đó với một thi nghiệp đã quý giá vô cùng và không phải ai cũng có may mắn sở hữu.

3.     Giọt nước và ngọn nguồn gió mưa hay bụi quý từ thể loại

Đọc thơ là kiếm tìm nghĩa lý trong sự hiện hữu của thi sĩ. Ngôn ngữ thơ cho thấy công phu “uẩn nhưỡng tâm tư”, “thôi xao từ điệu”, biểu hiện nhận thức, thái độ, tình cảm và ứng xử nghệ thuật của chủ thể trong tương quan chằng chịt với các điều kiện sống của anh ta. Nói tóm lại, ngôn ngữ thơ chính là bản thể nghệ thuật của thi sĩ. Trong ý niệm đó, đọc Nguyễn Anh Nông là đọc nghĩa lý của sự hiện hữu từ ngôn ngữ thơ.

Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông có hình thức khá giống với haiku của Nhật. Đặc trưng của thể thơ này là thiên về biểu tứ. Bài thơ là hình hài cô đọng nhất gói trọn một tứ thơ. Sự tinh giản đến mức tối đa về chữ đặt ra yêu cầu phải có tứ thơ thật sáng, thật chụm:

Ven sườn núi

Những đóa hoa tím dại

Nở nụ đời khiêm cung

(Matsuo Basho)[4]

Đặc tính của haiku, hai câu và ba câu là nét ưu thắng về mặt tứ. Ngôn từ, thi ảnh để biểu đạt tứ phải là sản phẩm của một cơ chế “tuyển lựa” và “kết hợp” (R. Jakovson) thật minh nhiệm. Hầu như không có sự diễn giải, chỉ có niềm an nhiên giữa tịch lặng để cảm biết về sự sống lay động trong những khoảnh khắc vi diệu của thời gian. Với thể thơ rất kiệm lời này, tư duy và mỹ cảm trong tổ chức tứ thơ (cấu tứ) gần như trùng khít với bài thơ. Nghĩa là bài thơ chỉ là sự hiện hình của chất thơ trong mỹ cảm và tư duy ở dạng uyên nguyên nhất. Cần một sự im lặng để chất thơ lan tỏa. Im lặng là điểm hội tụ của ưu tư, suy nghiệm - tư tưởng. Martin Heidegger từng nói: “Hữu thể của hiện thể bao hàm trong ưu tư”[5]. Nơi ấy, tính thể của sự sống hiện lên diệu kỳ trong mỗi “sát na”.

Haiku vốn là thể thơ truyền thống của xứ sở Phù Tang. Mỹ học haiku đề cao chất sabi (cô tịch, cổ kính và u huyền), đồng thời haiku được quy ước bởi những đề tài theo mùa, theo tháng và quý ngữ. Chính sự ước lệ về thi đề, thi ảnh, kết hợp với quý ngữ và chất sabi nên haiku dù rất kiệm lời (17 chữ) nhưng uyên súc, uẩn nhưỡng. Thơ ngắn, ba câu hiện đại dù hình thức khá giống haiku Nhật nhưng do giải trừ các ước lệ, quý ngữ, sabi nên sự uẩn súc cũng theo đó mà phai nhạt, đặc biệt là chất sabi. Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông về hình thức khá giống haiku, cũng 17 chữ, bố cục 5/7/5, có khi anh đoạn thủ, đoạn vĩ để hiện hình dưới dạng 4/7/4, 4/7/5, 5/7/4,… Nhưng cảm nhận rất rõ xác thân ấy nhưng hồn vía khác. Nguyễn Anh Nông không gọi là haiku cũng là một ý thức rất rõ của anh về sáng tạo thể loại của mình. Đơn giản, đó là thơ ngắn. Thơ ngắn, hai câu, ba câu, haiku có thế mạnh thiên về biểu tứ. Tứ thơ là hạt nhân, dồn chứa năng lượng thơ của các thể thơ này. Khi thiên về biểu tứ, ý tình trong thơ cần phải thật sáng, cô đọng và tập trung (chụm). Tính chất uẩn nhưỡng, uyên súc của các thể thơ này không cho phép sự tản mát về ý tình, sự dàn trải lan man về thể điệu. Tất cả phải được “thôi xao” đến mức tinh diệu để chỉ trong một lượng vật chất rất nhỏ mà sức công phá thật lớn:

Chiếc lá nặng nề

Buông xuôi về với đất

Trong một ngày lặng gió

(Nozawa Boncho ? - 1714)

Chẳng tại gió, ấy là vô thường. Vô thường là chân hình của hóa sinh. Thấu đạt lẽ ấy sẽ tránh những vọng động khởi sinh từ vô minh, tham – sân – si. Im lặng quy theo vô thường là minh triết tối thượng của Thiền (Zen) mà chỉ những bậc thiền giả vĩ đại, nhờ công phu thiền định mới có thể chứng ngộ[6]. Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông dứt khoát không phải là một thực thể chân truyền của dòng phái haiku Phù Tang. Thơ ngắn của Anh Nông là sự chắt lọc những kinh nghiệm sống, những đúc kết của con người đang vật lộn giữa khổ ải của đời. Tuy nhiên, trong dạng thức tối giản này, Nguyễn Anh Nông đã biết tiết chế tối đa những vọng động để lắng lấy cái phần vi diệu nhất:

Người đi theo bóng núi

Khuất chìm năm tháng xa

Sim mua tím sớm chiều

(211)

Thơ ngắn hiện hình rõ nhất tư duy thơ, mỹ cảm và năng lực kiến tạo thi ảnh, ngôn từ nghệ thuật của Nguyễn Anh Nông. Anh khá nhạy bén với bản chất của các hiện tượng, luận ngay được tính chất của sự vật, sự việc. Sự trải nghiệm đã hun đúc cho anh đôi mắt và cảm quan nhìn đời trong ý nghĩa nhân sinh phổ quát, không bị kẹt bởi hiện tượng. Đó cũng là một dạng thái của bản thể nhận thức được quy luật – cái lẽ thường của sự sống. Nhưng khác với trình độ nhậm vận của thiền giả, Nguyễn Anh Nông giải trừ chất sabi, gia tăng tính chất tếu táo, hài hước với hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đời thường. Lối ví von, liên tưởng khá hồn hậu khởi xuất từ tâm tính con người lao động, của một kẻ đi ra từ đồng ruộng, lớn lên cùng giọt mồ hôi và bao buồn vui cay đắng mưu sinh đã trở thành một lợi thế để Nguyễn Anh Nông tung tẩy trong cách diễn đạt những cảm nghiệm của mình:

Ngỡ đời suôn sẻ mãi

Gió bay gặp tường cao, núi dựng

Loay xoay vòng trời hẹp

(5)

Không có quý ngữ, cũng chẳng có biểu tượng ước lệ, thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông là khoảnh khắc thức nhận của người đi nhiều, trải lắm, lắng đọng trong những lời giản dị, chân thành. Tri thức trong thơ Nguyễn Anh Nông gắn với làng quê, đồng bãi, dòng sông, vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè, đồng đội, tha hương, phiêu dạt, đất khách,… Nguyễn Anh Nông hồn nhiên, thuần phác, cứ vục vào quê mà múc, đổ tràn những không gian Thanh lên ngày tháng tha hương của mình. Cuộc sống quê Thanh tự nó ít chất thơ. Có lẽ đó là cảm nhận của riêng tôi. Cái khó nghèo của đời, cái cỗi cằn của đất, cái nắng gió của trời,… khiến người ta ít mơ mộng.

Thật khó và chưa hẳn đã trúng khi đứng từ haiku để luận về giá trị thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông. Việc làm đó, đôi khi lại tố cáo một sự bảo thủ hay sự chật hẹp của các khuôn thước giá trị. Phải thừa nhận, thơ Nguyễn Anh Nông, không chỉ ở thơ ngắn, cái thô mộc, vật liệu, nôm na có phần trội lên, nó làm khuất lấp, thậm chí che hết những hạt “bụi quý” vương trong thế giới ngổn ngang của anh. Như anh đã từng thú nhận, “Nhà mượn, người không mượn”, “Dù lồng đời chật chội/Vẫn hót tiếng riêng mình”. Cái riêng của anh chính ở chỗ anh không cố chạy theo một thứ ánh sáng được hắt lên từ thần tượng nào. Sự đọc có lẽ phải cần mẫn như Giăng Samet, người cựu binh khốn khổ của trung đoàn thuộc địa thứ Hai mươi bảy. Đó là sự ứng xử mà hẳn Pautopxky trong vai trò một nhà văn có tuổi đã ý thức được:

“Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và mỗi cái nhìn vô tình ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc vui đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, cũng như cả đến một bông xốp của hoa dương đang bay hay lửa sao trong một vũng nước đêm – tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng”[7].

Bụi quý thường không nhiều và đồng thời phải ý thức một cách nghiêm túc rằng, giữa cuộc đời đầy rác rong của chúng ta, hy vọng kiếm được một kho tàng là điều cũng hiếm như bụi quý. Đấy là còn chưa kể đến biết bao trang sức, giả kim đánh lừa con người trong ngổn ngang, lẫn lộn bao giá trị. Hiểu điều đó, người ta hẳn sẽ trân trọng những hạt bụi quý của Nguyễn Anh Nông:

Mây bay, ừ nhỉ ? mây bay!

Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trời

Mưa rơi

Từng giọt mưa rơi

Bàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh

Ngắm nhìn giọt nước lung linh

Mà sao thấy cả bóng hình nước non

-         Ô hay, giọt nước con con

Mà như tích tụ ngọn nguồn gió mưa

(Giọt nước)

Với thơ, cái hay và cái tiêu biểu rất khác nhau. Cũng như có nhà thơ có nghề, chắc tay và thi sĩ thiên bẩm. Nổi lên khá rõ trong thơ Nguyễn Anh Nông có lẽ là cái thô mộc, nôm na (dù rất đáng quý) chưa siêu thoát để thành thơ. Nhưng, cái hay của anh cũng có thể điểm được để không đến nỗi không dám sánh với các thi gia khác trong trường văn trận bút. Bài Giọt nước ở trên là số ít mang được cái hay của thơ Nguyễn Anh Nông. Theo tôi, gia tài đời thơ không cần nhiều, chỉ cần đôi bài neo vào tâm trí nhân gian thế là đã đủ cho một thi kiếp. Tương tự thế, có lắm nhà thơ chắc tay, viết rất có nghề, đọc thơ của họ thấy ổn lắm, nhưng để tạo nên một rung chấn trong tâm thức sự đọc thì hẳn mất khá nhiều công để đãi lọc. Thơ hay như luồng điện thế, không chờ ta phải suy luận, phải truy vấn xem nó được viết từ tâm thức nào, lý thuyết nào, Tây hay Tàu,… Hay nghĩa là giá trị, tác động tự nhiên vào tâm thức, vào trực cảm của người đọc, gợi dậy từng vùng mỹ cảm, khơi dẫn những miền không gian tinh thần và trí tưởng, suy tư và cảm giác. Người ta nhắc nhiều đến hai câu cuối của bài Giọt nước âu cũng là lẽ thường, bởi nó hay. Nhưng vừa hay, vừa tiêu biểu cho Nguyễn Anh Nông theo tôi lại là hai câu trên: Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trờiBàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh. Đó là những câu thơ làm sáng tập thơ và đáng giá cho bất kỳ nhà kim thuật nào ao ước. Cái hay trước hết chưa cần lý giải. Sự lý giải sẽ bổ sung làm đầy đặn thêm cảm giác. Cái hay đem đến khoái cảm thẩm mỹ tức thời, đôi khi rất phi logic. Sự diễn giải luôn dừng lại ở cái hay, cái có vấn đề, có nghĩa lý. Với thơ và thưởng thức thơ, cái có ý nghĩa lại là cái đôi khi nằm ngoài lý trí thuần túy. Hegel đã phân chiết một cách chi li hơn khi ông cho rằng đối tượng của thơ không phải là con người mà là những xung động của tinh thần. Ngược lại, để hình dung về sự tiêu biểu rất cần phải mô tả và lý giải. Chất ngang tàng với tâm thức ngửa tay hứng trời; ôm mộng cưới trăng vàng của gã trai quê chính là nét tiêu biểu của thơ Nguyễn Anh Nông. Thật lý thú, khi tôi hình dung hai bàn tay gầy gộc, thô sần đang bụm lại để hứng giọt nước trời, chứa ngọn nguồn gió mưa thể hiện sự tinh tế hiếm có, cái biệt lệ chỉ có thể trỗi dậy trong tận cùng tâm thức hay nói như G. Jung là trong cấu trúc tâm lý vô thức của con người. Bàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh có được phẩm tính ấy, đặc biệt là ở từ “đậu”. Giọt mưa có lẽ chưa tan, còn nguyên trong “lòng tay” nâng niu. Trên vòng sáng của mình, giọt nước diệu kỳ mới lấp lánh những ngọn nguồn gió mưa và khoảng trời xinh xinh mới lẫn vào trong đáy mắt.

Bụi quý không có nhiều, những câu thơ hay và tiêu biểu cũng không phải là thứ sẵn có trong thi trình của một thi sĩ. Nguyễn Anh Nông còn có đôi câu, đôi hình ảnh khác khá ám ảnh:

Chiều đi sao em không tới

Nắng buồn nắng đọng lưng nương

(Buồn)

Câu đầu thường tình không có gì đáng nói, ai cũng có thể viết được. Nhưng câu thứ hai thì khác. Những ai đã từng ngắm sự cô độc của ngọn núi trong một chiều biên ải, trong ngày nắng tắt trên một đỉnh mù khơi mới hiểu cái buồn của hạt nắng đọng lại trong thung khe, trong nương đồi. Cứ thà đổ hết vào chiều để ngả sang đêm, đằng này, vương vấn gì, mòn mỏi nữa, hạt nắng đọng lưng nương là nỗi buồn không tắt trên ngày đời đã lụi. Chẳng phải Nguyễn Anh Nông đã từng lặng lẽ bao chiều như thế trên ải Bắc ư? Sự họa điệu của tâm trạng, xúc cảm với thiên nhiên trong một khoảnh khắc tinh tế chính là bụi quý mà ở đây Nguyễn Anh Nông đã chạm được vào.

          Đến đây, có thể gạn lại đôi dòng để nói về nguyên cớ khiến những vần thơ của Nguyễn Anh Nông đậu lại trong ký ức nhân gian. Đó chính là sự tu sức của hình ảnh để trở thành biểu tượng. Trong quan niệm đơn giản nhất, biểu tượng chính là hình ảnh, hình tượng giàu giá trị biểu trưng, có tính tượng trưng cao, xuất hiện với tần suất lớn, ám ảnh trong thi cảm nhà thơ. Biểu tượng khiến cho mạch thơ kín đáo, ý tình sâu sắc hơn, cho thấy bề sâu của xúc cảm, suy tưởng khởi sinh từ một nền tảng văn hóa sâu dày của chủ thể sáng tạo. Biểu tượng còn là một trong những nhân tố tạo nên tính đa nghĩa, tính mơ hồ, tính liên/xuyên văn hóa của thơ. Thơ khác vè, diễn ca cũng bởi có sự hiện diện của biểu tượng. Những câu thơ đã dẫn của Nguyễn Anh Nông và một vài câu khác, có thể nhận thấy đôi lần hình ảnh thơ đã được thi sĩ dụng công nung luyện thành biểu tượng hoặc chí ít là sự thành công trong các thủ pháp hàm ẩn. Ở bài Giọt nướcGiọt nước, khoảng trời, ngọn nguồn gió mưabàn tay. Vượt lên tính chất tương đồng của các thực thể được định danh thay thế trong ẩn dụ, đó là một hệ biểu tượng hàm nghĩa sâu xa chính ở khả năng tượng trưng. Các chỉ dấu vừa nêu có thể đem đến nhận thức về vũ trụ, về cuộc đời, con người, cũng có thể là một lát cắt qua khoảng trời, sự lắng đọng qua giọt nước, gió mưa hay sự vần vụ của vũ trụ, bàn tay chắc hẳn là con người, là nhân sinh với những khát khao đầy nhân bản. Nếu không có sự nối kết với truyền thống dân gian, rất có thể những chỉ dấu vừa nêu trong bài Giọt nước chỉ là ẩn dụ. Nhưng khi ta hiểu rằng, trong ký ức cư dân nông nghiệp, giọt nước, khoảng trời, ngọn nguồn gió mưabàn tay là những hằng số văn hóa. Ký ức của cộng đồng và cá nhân, trong lịch sử lâu dài của sự ám chỉ, ví von, hình tượng hóa những tương đồng, khiến cho ẩn dụ đã trở thành biểu tượng.

Hạo Nhiên Nghiêm Toản khi bàn về Thơ mới trong cuốn Văn học sử trích yếu đã cho rằng hãy để “giai tác bệnh vực thi nhân”[8]. Sự đọc dẫu có được thỏa thuận bằng suy tưởng, kiến tạo nào cũng không thể cất dựng trên những điều vô thực. Theo cách ví von của Nghiêm Toản, phải dọn đi thứ có dại che lấp cả chồi lan. Trong tình thế của thơ ca Việt Nam đương đại, đó là công việc không hề đơn giản, thậm chí là bất khả thi. Một vài chồi lan hé sáng trong vườn thơ Nguyễn Anh Nông bởi thế thật đáng quý, đáng nâng niu.

4.     Sự đọc chiêm ngưỡng những khoảng trời khác nhau

Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trời! Những khoảng trời, những ngọn nguồn gió mưa ánh lên trong những vùng thi cảm khác nhau của Nguyễn Anh Nông. Nếu đoản thi cho ta giọt nước với khoảng trời xinh xinh trong đáy mắt thì trường ca lại nhắc sự đọc về những cơn mưa, những chuyển động kỳ vĩ của cuộc đời.

Nguyễn Anh Nông đã có 4 trường ca. Trường Sơn, Gửi Bill Gates và trời xanh, Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn, Lập Thành. Bàn về trường ca, Nguyễn Văn Dân đã khẳng định: “Điều quan trọng là trường ca phải có một dung lượng nội dung và cảm xúc lớn lao, nếu không nó chỉ là một bài thơ đơn thuần”[9]. Gặp gỡ với quan điểm này Chu Văn Sơn cho rằng: “…khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kỳ vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng”[10]. Cũng theo Chu văn Sơn, để có thể sáng tạo trường ca, người viết phải có “cảm hứng trường ca” và “tư duy trường ca”. “Cảm hứng trường ca phải là những bức xúc lớn của cá nhân nhưng do một cú “sốc” lịch sử nào đó gây nên. Nói khác đi, đó phải là những chấn động lịch sử dội vào cá nhân, tạo nên một tâm sự lớn. Còn tư duy trường ca có thể gói gọn vào năng lực xử lý các đối cực căn bản của thể tài như: cái kỳ vĩ và cái bình thường, cái kỳ ảo và cái chân thực, chính sử và huyền sử,…”[11]. Những quan điểm này gợi cho sự đọc những hình dung về phía trường ca truyền thống với những thành tựu đã được vinh danh qua nhiều tên tuổi. Tuy nhiên, trong tình thế đương đại, nơi mà những truy vấn về bản thể con người cũng là bất khả, thì sự định danh thể loại hay những phác thảo diện mạo, hình thái cũng chỉ có tính chất tương đối, thao tác. Người ta đã nói về “Thơ phản thơ”, “phản trường ca” và những thứ “phản” (trái) khác trong bối cảnh hậu hiện đại. Điều đó lại hướng sự đọc đến nẻo khác trong những trình hiện ngôn từ, suy tưởng, thi cảm được Nguyễn Anh Nông gọi là trường ca.

          Với 4 trường ca, không thể nói Nguyễn Anh Nông đang thể nghiệm ở thể loại này. Không biết, khi để ký ức và dòng mỹ cảm của mình rong ruổi trên Trường Sơn, đối thoại với Bill Gates hay trầm lặng suy tư về sự kỳ vỹ của nhân sinh qua một vài thân phận, Nguyễn Anh Nông có ý thức về những điều chúng ta đã nêu lên ở trên hay không ? Sự đọc luôn tìm được những lý do để thỏa thuận. Đúng hơn, sự đọc đã tuân thủ một nguyên lý khởi sinh từ bối cảnh hiện đại và hậu hiện đại: sự thông diễn. Mặt khác, Arthur Danto đã tỏ ra có lý khi cho rằng: “Không gì có thể trở thành một nghệ phẩm nếu thiếu đi một diễn giải giúp nó trở thành như thế”.

Trường ca của Nguyễn Anh Nông về cơ bản có thể nhận diện từ hai hướng: truyền thống và cách tân – trường ca và “phản trường ca”. Hình thái truyền thống của trường ca Nguyễn Anh Nông chính là sự hiện diện trở lại của những dòng suy tưởng và xúc cảm có tính chất kỳ vỹ, đậm chất sử thi về Trường Sơn (về lịch sử dân tộc). Ở dòng cảm thức này, trong hành trình của trường ca Việt đã ken dầy những dấu chân của: Thu Bồn (Bài ca chim Chơ-rao), Trần Đăng Khoa (Khúc hát người anh hùng), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố), Thanh Thảo (Những người đi tới biển), Nguyễn Khoa Điềm (Mặt đường khát vọng), Lê Thị Mây (Lửa mùa hong áo),… Đó là là thách thức cũng là động lực để tạo nên những động thái mới của Nguyễn Anh Nông. Đọc Trường Sơn, người ta thấy hiện ra nhiều Trường Sơn – “Những trường Sơn dài rộng tới mai sau”: Trường Sơn một thời khói lửa hào hùng, bi tráng, Trường Sơn của đất nước khi chiến tranh đi qua, Trường Sơn trong ký ức người cha, trong tâm niệm của người con, trong ánh mắt trẻ thơ tới lớp, trong lời cô giáo giảng, trên bảng đen và trang giấy mới, trong màu xanh của núi rừng, mầu thắm tươi của hoa lá, trong cả những tủi cực của kẻ đào ngũ,… Trường Sơn được nhìn từ nhiều góc độ, nhiều điểm nhìn. Có thể, trong dụng ý, Nguyễn Anh Nông muốn giảm áp lực trữ tình dài hơi của thể loại thông qua hình thức lời của các nhân vật. Tính tự sự được đẩy lên tạo nên hiệu ứng khách quan về những trải nghiệm. Tuy nhiên, chính ở đây, tư duy trường ca, cảm hứng trường ca lại thử thách Nguyễn Anh Nông. Kết cấu theo lời của các nhân vật làm cho Trường Sơn giống như một hoạt cảnh thơ. Đôi khi, có cảm giác Trường Sơn bị vỡ ra thành các bài thơ. Điều này được Nguyễn Anh Nông hiệu chỉnh bằng suy tưởng xuyên suốt khiến các hoạt thoại chụm vào mạch chính: Những Trường Sơn - dài - rộng - của - riêng - mình. Để khơi tạo mạch nghĩ này, Nguyễn Anh Nông tổ chức lời dựa trên sự đồng hiện, sự ùa về của suy tưởng, liên tưởng. Kết cấu của Trường Sơn biểu thị tư tưởng: Trường Sơn vạn đại. Cái vạn đại không chỉ là những gì lớn lao, kỳ vĩ. Cái vạn đại hiện lên trong muôn nẻo nghĩ, tưởng và kiến tạo một Trường Sơn trong tâm thức con người Việt Nam. Trường Sơn vạn đại giải trừ chính tư duy sử thi về Trường Sơn. Sự đọc hiểu vì sao, Trường Sơn đọng lại là những câu thơ sâu lắng nghĩ suy trên phận người:

Em thét gào đau đớn xé tim gan

Trong tiếng nổ rực trời hoa và máu

Em hóa thành ánh chớp lóe không gian

Anh trở lại, gom nỗi buồn vương vãi

Đắp mộ em bông huệ trắng mơn man

Thắp ngọn nến niềm tin em gửi lại

Nỗi buồn anh thăm thẳm đại ngàn

(III - 1)

Mẹ bất lực nhìn cha thoi thóp thở

Dằng dặc Trường Sơn trong mắt mẹ buồn

(Lời một người con)

Đã sinh ra ở trên đời

Cầu mong trọn kiếp phận người là tôi

Nguyện làm ngọn cỏ nhỏ nhoi

Thắp tia hy vọng trên môi tháng ngày

(Lời kẻ đào ngũ)

Trường Sơn kỳ vĩ và lớn lao, Trường Sơn đau thương và tang tóc, Trường Sơn dằng dặc buồn, dằng dặc luân hồi, lấp lánh sắc màu, quá khứ và hiện tại, hồi tưởng và hoài tưởng,… Đó là những mạch nguồn dồn về trong chủ lưu Trường Sơn vạn đại. Nguyễn Anh Nông đã không ưu tiên cho mạch sử thi, trái lại, có thể thấy anh miên man nhiều hơn về những con suối, những cảm thức âm thầm và hy vọng về một kỷ đại khác của Trường Sơn:

Tiếng ve ngân co kéo nắng hè

Gió mùa thu chim cu gù ngọt lịm

Mía bên đồi hong gióng tím loang xa

(V)

Em vào lớp học

Vang nhịp chiêng ngân

Dịu dàng câu hát

Lời cô trong ngần

(Lời một em bé)

Trường ca không phải là thể loại dành cho ai cũng được. Điều này nhiều người nghiên cứu đã chỉ ra. Chu Văn Sơn cho rằng: “Muốn viết trường ca phải trường sức. Mà muốn trường sức thì phải trường vốn và trường hơi. Hơi sáng tạo của trường ca là cái gì đó phải dài, khác với sự tỉa tót của thơ lẻ. Viết trường ca mà hụt hơi, đứt đoạn thì không thể thành trường ca”[12]. Tuy vậy, không cứ là trường ca thì phải viết về những điều lớn lao, cao cả, những cái kỳ vĩ thuộc về cộng đồng, thời đại. Trường ca hậu hiện đại đang mở hướng về phía những suy tưởng, xúc cảm về cuộc đời, thân phận con người, những hiện thể có khi rất nhỏ nhoi, thuộc về ngoại biên. Từ Trường Sơn đến Gửi Bill Gates và trời xanh, đặc biệt là hai trường ca Trò chuyện với cha con cu Lập sơnLập Thành, Nguyễn Anh Nông dường như có dụng ý hướng về miền không gian mới của thể loại này. Phản trường ca thực ra là một cách nói nhấn mạnh tính chất cách tân thể loại. Tuy nhiên, cũng cần nhất quán quan điểm của sự đọc ở đây, dù có mở về chân trời nào, dù thu hẹp dung lượng, gia tăng độ nén, mở sâu vào cấu trúc suy tưởng,… trường ca vẫn phải cần một mã Gen nào đó để không lạc loài trong nhiều biến thái của thể loại, loại hình nghệ thuật đương đại. Trường ca không phải là sự kéo dài một bài thơ, không phải là nhiều bài thơ ghép lại. Hậu hiện đại dường như đã dung dưỡng cho nhiều tùy tiện (đúng hơn, nhiều sự tùy tiện đã lợi dụng hậu hiện đại để cất lời – mặc dù vậy, ngay cả điều này trong bối cảnh hậu hiện đại ta lại cũng không thể bỏ qua). Trường ca, dù có hướng đến những đề tài thế sự, đời tư, cá nhân, hay những không gian ngoại biên, phi trung tâm,… nhưng vẫn phải cần đặt tất cả trong một cấu trúc chỉnh thể, với những dồn nén, hàm chứa suy tưởng mang tính phổ quát về cuộc đời, con người. Đơn giản hơn, đối tượng có thể vi mô, nhưng tư tưởng phải vĩ mô, lớn lao, phổ quát. Con người đó chính là điều kỳ vĩ nhất. Cái kỳ vĩ hiện lên trong bản thân sự sống của con người với nhiều hoàn cảnh, tình thế. Kỳ vĩ, phi thường, cao cả,… không phải do một nhóm người, trong một thể chế, thời đại nhất định quy ước. Walt Whitman nói: “Bạn muốn tìm tôi hay tìm dưới gót giày của bạn”. Lá cỏ ấy chính là thân phận con người trong ý nghĩ đời thường nhất nhưng cũng kỳ vĩ nhất. Từ suy nghĩ này, nhìn dọc chiều dài thi nghiệp của Nguyễn Anh Nông thấy từ Bàn tay lá cỏ đến Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn, Lập Thành có một mối liên hệ khá logic. Nguyễn Anh Nông bị ám ảnh nhiều hơn ở phía thường nhật, nơi sự sống hiện hình một cách kỳ diệu qua những lặng thầm, vần vũ, nghiệt ngã, kỳ diệu của thời gian. Cuộc đời của Đ K, K O, sự ra đời của Lập Sơn, Lập Thành, mối quan hệ với nhà thơ, những suy tư “bời bời” về định mệnh, sự may rủi, mất mát và hạnh phúc, thơ ca và cuộc đời, được và mất,… hiện về trong dòng suy tưởng của Nguyễn Anh Nông. Có thể nhận thấy, trong tư duy thể loại, Nguyễn Anh Nông đã giải trừ giọng điệu sử thi, gạt đi hào quang xung quanh thần điện, xóa bỏ khoảng cách sử thi, để suy tưởng về hạt nhân của sự sống là con người. Con người, được đặt trong hoàn cảnh khá trớ trêu nếu không muốn nói rằng bất hạnh. Ở đây, có thể nhận ra Nguyễn Anh Nông chủ động kiến tạo thế giới nghệ thuật trường ca của mình bằng một tư duy “phản trường ca” (Phản trường ca cũng là một ẩn dụ, ám tượng về sự hóa giải, thậm chí là vạch mặt những hóa trang, giả tạo đang khoác lên nhiều hình tượng – thần tượng). Để kiến tạo thế giới nghệ thuật của mình, bên cạnh sự loại trừ, giải ảo, giải thiêng các sắc thái trường ca truyền thống, Nguyễn Anh Nông đã dung nạp một hệ thống thi ảnh, sự kiện, ngôn ngữ, các thao tác tư duy, mỹ cảm gần gũi với sự sống thường ngày. Có ba tuyến nhân vật duy trì suy tưởng, xúc cảm của Nguyễn Anh Nông: Đ.K và K.O, Lập Sơn và Lập Thành, Nhà thơ. Chủ thể trữ tình, chủ thể phát ngôn trong hai trường ca của Nguyễn Anh Nông đã dựa vào chính mối quan hệ, những thể nghiệm thân tình của mình với các tuyến nhân vật để suy tưởng. Cảm xúc vì thế chân thành, sâu sắc, suy tưởng gần gũi, đời thường, tránh được sự lên gân rất dễ sa vào của trường ca truyền thống. Khi giải cấu trúc trường ca truyền thống, ngả theo hướng cách tân thể loại, dung nạp chất đời thường, mộc mạc, dĩ nhiên Nguyễn Anh Nông tránh được hư sáo. Tuy nhiên, vì mải mê theo đuổi việc kiến tạo một thực tại trong suy tưởng về bản chất của cái kỳ vĩ, kết cấu của hai trường ca đang đề cập khá lỏng lẻo, hay như cách anh hay nói đó là những bời bời chữ nghĩa, hình ảnh, xúc cảm chưa được tổ chức một cách chặt chẽ, châu tuần vào lõi tư tưởng chủ đạo. Căn nguyên của hình thái này có lẽ bắt nguồn từ việc tư tưởng chủ đạo đã có lúc không được duy trì một cách riết róng, mạch cảm xúc và suy tưởng bị phân tán. Có cảm giác, các mảng miếng, các phần tử của cấu trúc đã lan tỏa đi hơi xa mà sức hút kiến tạo chỉnh thể dường như không đủ sức gọi về.

Có ba không gian được kiến tạo trong hai trường ca của Nguyễn Anh Nông. Không gian của Lập Sơn, Lập Thành, Không gian của Đ.K và K.O, Không gian của nhà thơ. Các thành tố trong cấu trúc không gian này là cây đa làng, cây tre, con cóc, cái kiến, củ khoa, lá trầu, con trâu, bê vàng, cánh diều, đến những vật dụng trong nhà, những thiết yếu dành cho cuộc sống đầy khó nhọc của Đ.K,… Sự đan xen tự sự và trữ tình xoay quanh ba tuyến nhân vật này giúp sự đọc hình dung về một cuộc sống đời thường, ân nghĩa, hạnh phúc sau bao tai ương và bất hạnh. Nếu Lập Sơn, Lập Thành sinh ra và lớn lên như bao trẻ em khác, trong những điều kiện bình thường, hẳn sáng tác của Nguyễn Anh Nông sẽ mất đi hơi thở trường ca. Trong ranh giới của cái thường tình, tầm thường với cái bình dị mà phi thường, Nguyễn Anh Nông đã có lý khi gọi tác phẩm của mình là trường ca. Tác giả tỏ ra ý thức được điểm cốt lõi làm nên yếu tính của thể loại. Đó là bản trường ca về sự sống nảy sinh trong điều kiện gần như không tưởng. Không tưởng về sự sống (sót), không tưởng về không gian sống và hạnh ngộ, không tưởng về khả năng sống bình thường, không tưởng về khả năng vươn lên,…

Ta bây giờ đã là người đến muộn

Em xinh tươi lỗi hẹn với ai rồi

                      (Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn)

Các nhà nghiên cứu đã nhận ra sự chuyển hướng của trường ca đương đại (không chỉ trường ca) về phía thế sự, đời tư, hàm chứa nội dung “phản trường ca” với giọng điệu, cấu trúc cùng những dấu hiệu mới của thể loại. Nếu cần phải dẫn chứng những trường hợp cho thấy sự chuyển hướng đó, Người cùng thời của Mai Văn Phấn, Ngày đang mở sáng của Trần Anh Thái, Metro, Chân đất của Thanh Thảo, Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn, Lập Thành của Nguyễn Anh Nông,… có thể được nêu lên với những đáp ứng khác nhau về sự tiêu biểu. Với riêng trường hợp Nguyễn Anh Nông, bốn trường ca đủ để nói rằng anh không còn ở chặng thể nghiệm, tuy nhiên cũng để nói rằng anh đã thành công thì hẳn phải cần nhiều thêm những nỗ lực từ bản thân anh - sự đọc của không chỉ một người đã nhận ra. Bởi thế, trường ca còn là câu chuyện chưa hoàn thành.

5.     Kết luận

Một vài hạt bụi quý không bảo chứng cho Nguyễn Anh Nông là thi sĩ thiên bẩm. Nhưng, chí ít cũng đủ cho Nguyễn Anh Nông hiện hữu trong cuộc đời với tư cách là một nhà thơ. Không gì có thể thay thế được những giai tác trong việc kiến tạo và định vị một thi kiếp. Qua những nâng niu của lòng tay (sự đọc), hy vọng những vần thơ trên sẽ vương lại vĩ thanh trong lòng nhân gian. Sự đọc rồi lại sẽ ruổi rong qua những chân trời với nhiều “thỏa thuận”. Trên bước chân ấy, miền Thanh vẫn hằn lên những ứng xử khu biệt. Để kết thúc cho một lần đến và thỏa thuận của mình với chữ nghĩa mang cốt hồn người Thanh, xin được nhắc lại lời GS Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về Tiểu vùng văn hóa Xứ Thanh: “Với miền Trung, Xứ Thanh như là sự mở đầu, trước nhất cho một mô hình hệ sinh thái kết hợp chặt chẽ giữa đồng bằng, rừng núi và biển cả. Thanh Hóa chưa được coi là Tứ trấn nội Kinh như Kinh Bắc, Sơn Nam, nhưng cũng không phải là vùng trại xa xôi như Xứ Nghệ. Tính trung gian chuyển tiếp không chỉ trên bình diện môi trường địa lý tự nhiên mà cả về phương diện lịch sử và văn hóa, khiến người ta coi Thanh Hóa lúc thì nhập vào Bắc Bộ, lúc thì nhập vào Trung Bộ. Đó chính là "tính cách" của một vùng mang tính chuyển tiếp văn hóa, từ đó tạo nên tất cả những gì gọi là nét riêng của Xứ Thanh[13].

NTT

(*) Bài in Tạp chí Tri thức thời đại, số14/ tháng 5/2013

 



[1]. Viện Văn học

[2]. Ở bài viết này chúng tôi sử dụng hai khái niệm “thỏa thuận” và “sự đọc” xuất phát từ cách hiểu của mình về Hiện tượng luận và Lý thuyết tiếp nhận. Thỏa thuận được hiểu như là “ý hướng tính” trong quan điểm của Hiện tượng luận. Khái niệm sự đọc xuất phát từ quan điểm cho rằng con người, thế giới là những văn bản. Tìm hiểu các diễn ngôn chính là quá trình tiến hành các sự đọc, giải mã hay thỏa thuận, quy ước – thiết lập một diễn ngôn khác. Trong bài viết này, sự đọc có khi được dùng như động từ, có khi là những ẩn dụ về chủ thể mang ý hướng tính về văn bản Nguyễn Anh Nông.

[3]. Carl Gustav Jung, Thăm dò tiềm thức, Vũ Đình Lưu dịch, NXB Tri thức, 2007, tr 32.

[4]. Basho (1644 - 1694), người đã hoàn thiện haiku cổ điển, đưa thể thơ này trở thành Đạo trong nghĩa thâm viễn của minh triết Đông phương. Chimyo Horioka, Siewart W. Holmes, Thiền trong hội họa, Thanh Châu dịch, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2004, tr 51.

[5]. M. Heidegger, Hữu thể và thời gian, tập 2, Trần Công Tiến dịch, Quê hương xuất bản,  S, 1973, tr 5.

[6]. Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến haiku cổ điển. Basho trong tập Lối lên miền Oku đã thể hiện cảnh giới nhậm vận của mình. Oku không chỉ là một địa danh, nó còn có nghĩa là “thẳm sâu”. Vì thế, Lối lên miền Oku là những con đường nhỏ/hành trình về miền sâu thẳm – chất thơ của haiku. Trong diễn trình của haiku Nhật, sau cải cách Meiji, haiku tiền vệ với các cảm thức mới mang tinh thần canh tân cũng đã trỗi dậy và giải cấu trúc chính tiền sử loại hình của mình.

[7]. Pauxtopxky, Bụi quý, Bông hồng vàng, NXB Văn học, 1983, tr 23.

[8]. Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Văn học sử trích yếu, Vĩnh Bảo xuất bản, Sài Gòn, 1949

[9]. Trần Thiện Khanh, Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại, Tạp chí Thơ, 11/2009, tr 16.

[10]. Như trên, tr 18.

[11]. Như trên, tr 22.

[12]. Chu Văn Sơn phát biểu tại tọa đàm về Trường ca Trần Anh Thái, 4/6/2009 – Lược ghi của Nguyễn Minh, http://www.viet-studies.info.

[13]. Ngô Đức Thịnh, Tiểu vùng văn hóa Xứ Thanh, Tạp chí Văn hoá Dân gian Số 1(91)/2004.

(*) Một phần bài viết này in  tạp chí Văn nghệ Quân đội số cuối tháng 4 năm 2013 với tiêu đề” Bàn tay tôi đậu  khoảng trời xinh xinh”

 

Các bài khác:
· BÀN VỀ CÁI GHEN TRONG THƠ TRƯƠNG NAM CHI
· HOÀNG TRẦN CƯƠNG - NGƯỜI THƠ TRẦM TÍCH
· KỶ NIỆM NHỎ VỚI MỘT NHÀ THƠ LỚN
· MỘT LÊ LỰU TRONG TÔI
· THƯ NGỎ CỦA CHỦ NHIỆM CLB NGƯỜI YÊU SÁCH NGUYỄN HUY TƯỞNG
· THƠ LỤC BÁT CỦA HUY TRỤ
· NGƯỜI CON GÁI TRONG BÀI THƠ 'MÀU TÍM HOA SIM' LÀ AI?
· CHUYỂN ĐỘNG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI – ĐƯƠNG ĐẠI
· BÀN TAY TÔI ĐẬU KHOẢNG TRỜI XINH XINH
· VÕ THỊ XUÂN HÀ - TỪ A ĐẾN Z
· NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH
· 'PHẢN TIẾP NHẬN' NHƯ LÀ SẢN PHẨM CỦA THỜI HIỆN ĐẠI
· VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
· VŨ QUẦN PHƯƠNG - 'CÀNG ĐI CÀNG KHÁT NHỮNG CHÂN TRỜI'
· BỜ SÔNG VẪN GIÓ - MỘT BÀI LỤC BÁT HAY
· VẤN ĐỀ SỬ DỤNG DẤU CHẤM CÂU
· HIỂU THÊM VỀ THƠ CA CHỐNG MỸ
· CHÙM THƠ CỦA THANH THẢO
· BA BÀI THƠ KHÓC TIỄN HUỲNH VÂN HÀ
· LÊ THÁI SƠN – THƠ VÀ VĂN VÀ…

 

  
Gia đình Bích Khê