DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGƯỜI ĐẤT QUẢNG VIẾT VỀ TRƯỜNG CA NGŨ QUẢNG

                                                                                           Nguyên An 

 Khi đã thâm nhập được vào sự dài lâu của lịch sử và nắm bắt được một vài để mà tâm đắc, khi đã ăn ý với một vùng đất đến độ chính nước da và giọng nói, dáng đi và cách nghĩ của mình như là một sản phẩm tự nhiên của thổ ngơi khí hậu, phong tục lề thói, thể cách của vùng ấy, thì cũng rất tự nhiên – như tôi biết, đã có nhiều người cầm bút nghĩ đến chuyện mình sẽ dựng cả một trường ca, tạo tác cả một thiên tiểu thuyết.

Lê Anh Dũng đã vào tuổi năm mươi, vẫn được coi là trẻ. Nhưng từ rất lâu, tôi chỉ thấy Dũng trẻ là ở sự hoạt bát nhanh nhẹn như là một phẩm chất ưu việt của tuổi 20,30, của chất trẻ ở một số người, bất chấp tuổi tác; còn nhìn chung, Lê Anh Dũng già, già dặn, ngay từ tuổi nảo nao rồi. Ngày đó, Dũng đã hỏi mà như khẳng định với tôi: Thì học sư phạm ra, em đi dạy, nhưng em sẽ làm báo, viết thơ văn, được không anh?

Thơ Dũng rất Quảng, không chỉ ở cái lối diễn đạt thẳng, có lúc căng, không chỉ ở cái giọng thơ - vẫn muốn dịu ngọt nhẹ nhàng như muôn thủa nay mong ước, nhưng nhiều khi vì đời là vậy, cảm nhận của mình là thế, nên anh viết ra thật tự nhiên, mà cứa vào lòng người đọc những sự thực rất riêng của một xứ, một người đất Quảng, khiến đọc lên, ta thây ngân rung mãi một nỗi niềm:

Có người mẹ nào như mẹ/ chín con đẻ/ một con rể/một cháu ngoại/ lần lượt lên đường cầm súng/ lần lượt hoá thành mây trắng trời xanh

Thời gian/xin đừng trôi nhanh/ mẹ bây chừ sóng dâng trên trán/ xin cho được phút giây thanh thản/ mẹ hình dung ra máu thịt của riêng mình…

Thi liệu trong thơ và trường ca của Lê Anh Dũng khá phong phú. Làm chiến sỹ trước khi làm thi sĩ, anh đã đi nhiều, trải nhiều, không chỉ ở vùng quân khu V, ở Tây Nguyên… mà ở cả nhiều nơi khác như Việt Bắc và Tây Bắc, vùng người Mông, người Êđê và vùng bà con người Chăm… Nhưng đọc thơ và trường ca của anh, tôi nhận ra chất Quảng vẫn có sự đậm đặc dồi dào hơn cả. Đó là Quảng Nam - Đà Nẵng, là Ngũ Quảng từ xa xưa nữa. Điều đang chú ý hơn là khi viết về mọi vùng miền Tổ quốc ta, anh thường bộc lộ một cảm quan, một cách nhìn nhận của người xứ Quảng. Từ lâu các nhà nghiên cứu văn chương và viết lịch sử văn chương – văn học – văn hoá Việt Nam đã hay nhắc đến cái đặc sắc của mỗi vùng miền, chung đúc lại, làm nên bản sắc Việt Nam. Nếu theo hướng ấy mà tìm hiểu thêm, có thể thấy là tiếp theo những Lê Văn Ngăn và Trần Vạn Giã, Thanh Thảo và Huỳnh Quang Nam… ở Nam Trung Bộ, thì có lẽ ở Trung Trung Bộ, tuy mới xuất hiện, thành quả chưa nhiều, nhưng Lê Anh Dũng là một gương mặt đáng kể. Riêng với Quảng - Đà, trong trùng trùng điệp điệp nhiều lứa tác giả đã và đang viết về đủ mọi đề tài, với nhiều giọng điệu, phong cách, góp cho thi văn đàn Việt Nam nhiều tác phẩm hay,  thì đến bây giờ, hình như chỉ có Lê Anh Dũng là chuyên chú với một đề tài : Đất và người xứ Quảng.

Trường ca, như tiểu thuyết, là ước ao, là khát vọng thể loại mà nhiều nhà thơ, nhà văn từng muốn thử sức. Chuyện này hẳn không phải là ngẫu nhiên. Ai đã cầm bút sáng tác thì đều muốn bức tranh xã hội trong thi văn phẩm của mình phải có sức khái quát lớn, tầm trí tuệ, độ sâu dạt dào của tâm hồn phải tuyệt đỉnh. Và họ tìm đến hai thể loại tổng hợp có khả năng hàm chứa lớn lao này. Tuy nhiên, đến bây giờ, có vẻ như các nhà thơ miền Trung có thuận tay hơn khi viết trường ca, và họ cũng đạt thành công vang dội hơn. Cầm bút sau nhiều người, Lê Anh Dũng đã thừa hưởng được thành tựu của các bậc đi trước. Tôi biết là anh đã đọc kỹ Thu Bồn và Nguyễn Khoa Điềm với Thanh Thảo, gần đây anh tìm hiểu cả bút pháp của Hoàng Trần Cương nữa.

Là người con đích thực của xứ Quảng thời đánh giặc và thời nay, trong tư duy nghệ thuật của Lê Anh Dũng có cảm hứng thường trực với trường ca. Tác phẩm trình làng văn nghệ của Dũng là trường ca Thưa mẹ, phía trăng lên (2003), rồi từ đó, anh viết liên tục thể loại này. Không say mê thì hẳn là không đủ hơi và khí, không nuôi dưỡng ý chí thì chắc là không viết được đều đều như vậy. Còn tích lũy vốn đời? Đó là công việc đầu tiên, ai cũng phải lo rồi.

Tiếp theo trường ca Thưa mẹ, phía trăng lên (2003), Lê Anh Dũng liên tiếp cho ra đời các trường ca Giữa xanh thẳm đại ngàn (2004), Dòng sông di sản (2009), và mới đây là Về xứ Đồng Long (2013). Quả quyết như vậy, anh đã tự xếp mình vào hàng ngũ những văn nhân muốn hát mãi khúc quân hành bằng thể trường ca về miền quê yêu dấu của mình là xứ Quảng.

Bìa cuốn Trường ca "Về xứ Đồng Long" của Lê Anh Dũng

Trong trường ca và cả thơ của mình, Lê Anh Dũng thường gợi nhắc đến rất nhiều tên đất, tên người cùng các sự tích trung cang nghĩa khí của xứ Quảng, anh cũng hay lập tứ cho thơ ca của mình từ điểm tựa là các áng thơ ca dân gian. Và đôi khi, đang viết về phong thổ vùng thiên nhiên khốc liệt này, anh cũng không ngại giãi bày một ít cái tôi riêng tư mà qua đó, người đọc như càng thông hiểu và thấm thía hơn về bước đi- sự vận động không thể khác trong lịch sử của một vùng đất. Về phương diện này, anh làm ta nhớ đến một bậc tiền bối là Kim Lân trong văn xuôi, người đã không ngại kể ra cái sự thể, cái thân phận dưới bình dân nghèo đói một thời của mình và hàng xóm. Dũng bán báo, kẹo kéo, thằng Ảnh ròm (chữ rất Quảng) kem cây, “Báo mới, báo mới đây!”, giọng khàn mà lảnh lói lên, tóc cháy vàng hoe trên hè phố thị … Anh bộc bạch cả. Thế nên khi dựng lại niềm vui được giải phóng của những ngày tháng 3, tháng 4 năm 1975 trong trường ca của mình – các cảnh này nhiều người đã dựng – Dũng vẫn gây xúc động bồi hồi riêng, cũng là phải.

Các trường ca của Dũng, như trường ca Về xứ Đồng Long mới nhất này, đã dựng lại nhiều trạng huống, tình cảnh cụ thể mà có sức khái quát, biểu trưng về đất Quảng trung dũng kiên cường một thủa và đất Quảng sung sức đang được đà đi lên hôm nay, như cảnh này:

Đêm pháo hoa vỡ oà sức trẻ/ tình người tình đời xích lại gần nhau/ một trời sắc màu/ một trời nhạc/ trăng sao mờ trước pháo hoa toả sáng/ ngời ngợi nụ cười tở mở trẻ thơ

Người ta đã viết nhiều về hai chữ đồng bào, nay Lê Anh Dũng viết về hai chữ Đồng Long. Chữ, tên này đã thấp thoáng trong văn bản cổ, để chỉ đất Quảng - Đà, nhà thơ đã khảo cứu ngọn ngành một sự thật lịch sử mà có lúc ngỡ như bị lãng quên, rồi kể:

Không phải bây giờ Đà Nẵng mới có rồng/ hơn năm trăm năm xưa trên Hải Vân quan/ Minh quân Lê Thánh Tông thốt lên lời ngọc:/Đồng Long kia- trực chỉ- dải đất Hàn

Năm móng rồng – huyền tích Ngũ Hành Sơn/ Cổ tự An Long bên Hàn giang muôn đời thao thiết/ bao chí sĩ danh thần về Thăng Long phò vua cứu nước/ bao chiến sĩ, anh hùng tiến về Hà Nội – rồng bay

Ta như luôn luôn được hoà nhập với hồn thiêng đất nước, đó là một cảm nhận thường trực ở mỗi người khi có dịp đọc trường ca, như trường ca của Lê Anh Dũng. Trường ca, nhất là trường ca chiến tranh, rất có lợi thế và thành công khi viết/ dựng lại những cảnh hành quân và xung trận hoành tráng, dữ dội. Lê Anh Dũng cũng biết thế và đã làm như thế. Nhưng tôi quý hơn ở Lê Anh Dũng là nhiều khi, anh như ngẫu hứng tạt ngang giữa chừng mà viết về những lần dừng chân ở nghĩa trang, hay một buổi sớm ngụ dưới mái chùa, và một buổi tà tà trưa kia, trên đỉnh Sơn Trà Cao cao ngọn núi mái nhà miền Trung/ Chiều cuối năm nắng đầy thung/ Gió mưa quấn quýt bập bùng ghi ta, rồi nữa:

Thả bè lau trắng trên sông/ sắc không không sắc mênh mông cuội nguồn/ tham sân si thảy đều buông/ lợi danh bèo bọt thả buồn trôi xuôi

Chiều ba mươi tôi và … tôi/ tâm nhang trước nghĩa trang đồi cát bay/ anh hùng nghĩa sĩ xưa nay/ hồn thành sống núi dựng xây đất này

Khổ thơ trước, gợi một chút vô vi vô thường để luận về kiếp người giữa trường sinh tồn biến cải của tạo hoá vô biên ngút ngát; khổ thơ tiếp theo, lại là rất đời, rất thực tại mà như chỉ riêng có ở một người, một số người …

Chiều ba mươi Tết tíu tít việc nhà, mà vẫn giành thời gian ra với Người cõi thiêng, đã là nếp quen, đã thành thông lệ rồi ư? Người thơ ấy là trẻ hay già đây? Tôi hay về miền Trung, thấy người Việt ta ở đấy đã thường như vậy, có phải vì vùng đất này vốn chinh chiến can qua quá nhiều không?

Thế mạnh của trường ca là tổng kết lịch sử – một lịch sử bi tráng và hào hùng. Muốn thế, tác giả phải biết chọn một độ lùi, một cách nhập và giãn với thời sự mỗi ngày. Nhiều trường ca của ta lâu nay ít khả năng cập nhật, cố nhiên, đó là thực tế sáng tác mà không hẵn là một thiếu sót. Có điều, đọc trường ca Về xứ Đồng Long của Lê Anh Dũng, ta thấy rất thời sự, ví như chuyện pháo hoa trên bầu trời – ở Đà Nẵng người ta ý tứ gọi là trình diễn pháo hoa chứ không nói là bắn pháo hoa- kìa, giữa dòng sông Hàn, với những cây cầu như cầu Rồng náo nức mấy bữa nay, là cảnh:

Những cây cầu tao nôi qua sông/ hoa đăng trôi ấm áp mặt hồng/ đêm pháo hoa sông Hàn trẩy hội/ âm thanh sắc màu rạng rỡ tầng không.

­Trong cuộc viễn du đến những miền đất mới, tưởng lạ, ừ thì mới lạ mà vẫn có gì quen quen, và trong cả những lần tự tìm về với chính tâm khảm mình, như vô thức, như ngẫu nhiên, có phải đã rất nhiều khi ta chợt thốt lên: Cảnh trời đất nhân sinh này, tình huống tâm trạng này, đã có những ai dựng lại trong thơ văn? Và ta tìm. Có khi đã thấy một áng thơ nào na ná vậy, một tình tiết truyện gần gần như thế, và cũng nhiều tháng, nhiều ngày ta tìm kiếm, chờ đợi mãi, mà có thấy/ gặp được đâu. Thôi đành tự bảo: Đất ấy, năng gió thổ ngơi ấy, và bao nhiêu năm, bao nhiêu đời vật lộn mưu sinh ấy… thế nào rồi cũng được hình tượng hoá cho bây giờ và mai hậu biết tới mà sẻ chia, chiêm ngưỡng. Đành hy vọng chứ biết làm sao.

Tìm kiếm và hy vọng với ước nguyện cháy bỏng và sâu xa rằng rồi ra, trong cuộc trường chinh tìm lẽ sống và tự do, công bằng và cơm no, binh an và phát triển… của làng quê mình, đất nước mình mãi, ta mới nhận ra: Không phải sự cần lao nào, ở bất cứ nơi đâu, cũng đều đã và còn có thể được văn chương chưng cất. Có nhiều lý do của thực trạng này.

Thế nên, ở đâu đó người ta đã mừng mừng tủi tủi, đã hân hoan và tự hào khi thấy có hình bóng mình, sự tích của cha anh mình được thơ văn phản ảnh, thì cũng là hạnh ngộ chứ sao! Tuy nhiên, trong cuộc đời cầm bút của bao nhiêu thế hệ văn thi gia, số lần hạnh ngộ như vậy cũng thật không nhiều

Thơ ca Lê Anh Dũng cho thấy tác giả là một người nặng tình xứ sở quê nhà, một sức nghĩ sức viết đáng kể. Anh đã có đóng góp cho sự bùng khởi mới trong văn nghệ ở vùng đất đã sinh dưỡng ra anh. Anh là nhà thơ chiến sĩ từ nhân dân mà ra, và được hạnh ngộ cũng bắt đầu từ xứ Quảng quê mình. Các văn thi gia thành danh rồi, có viết thêm về họ, biết đâu lại là chuyện khen phò mã tốt áo. Vả chăng, những người mới mà có chất trẻ trung như Lê Anh Dũng đâu phải không có chuyện để viết./.

Nguồn: vanvn.net

 

Các bài khác:
· LIỆU DOSTOEVSKY CÓ THỂ LÀM CHÚNG TA CHOÁNG VÁNG!
· TINH THẦN BI TRÁNG VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN
· 10 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ THU BỒN: THU BỒN VÀ TÔI
· THỜI GIAN VÀ PHẬN NGƯỜI TRONG THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· ÔNG THÔNG SẦU
· XIN MỘT LẦN CHO NÀNG KIỀU THÔI KHÓC
· VĂN HỌC TRONG LÒNG TÔI
· “HOA LÚA” ĐÃ BAY ĐI THEO 'MÀU TÍM HOA SIM'
· 10 TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM
· LÚC GẶP KIM TRỌNG, THÚY KIỀU BAO NHIÊU TUỔI?
· CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH
· TẠ HỮU YÊN - TRANG VIẾT NÀO CŨNG NẶNG TÌNH ĐẤT NƯỚC
· 'KHÔNG NÓI' - TÌNH YÊU VÀ NỖI BUỒN
· ĐI TÌM CON NGƯỜI THỰC CỦA HOÀNG TRUNG THÔNG
· MAI BÁ ẤN - SAU PHỒN HOA, SAU TRẦN AI...
· MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐÊM THƠ BÙI VĂN TẠO
· CON GÁI NHÀ VĂN NGÔ TẤT TỐ TIẾP TỤC LÊN TIẾNG...
· BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN
· BÙI XUÂN PHÁI - ĐÃ 25 NĂM
· NHÀ THƠ TÀI HOA TRONG AN NAM NGŨ TUYỆT

 

  
Gia đình Bích Khê