DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
'THUYỀN TRĂNG' CỦA HỒ THẾ HÀ - TỪ MẪU NGƯỜI VĂN HÓA

                                                                                  Yến Thanh 

Thuyền trăng (Nxb Văn học, 2013) là tập thơ thứ tư của Hồ Thế Hà, một ấn phẩm từ khi ấn hành đến nay, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng đã tạo ra được nhiều hiệu ứng “tri âm” của bạn bè, đồng nghiệp, trước tiên như một sự cảm mến/ơn với tác giả, và sau đó, như một sự đồng cảm với những cung bậc trữ tình mà nhà thơ đã viết nên. Chúng tôi đồ rằng, văn bản thi ca lớn nhất, đặc sắc nhất mà Hồ Thế Hà đã viết, chính là cuộc đời ông. Khác với những nhà thơ khác, giữa văn bản với cuộc đời thường có “một khoảng cách”, thì ngược lại, với Hồ Thế Hà văn bản là cuộc đời, và cuộc đời ông chính là văn bản. Nói khác đi, Hồ Thế Hà “sống” trong thơ, chứ không phải thơ là sự ngẫm nghĩ, triết lý hay “bóng gió” về cuộc đời. Đọc thơ ông, chính vì thế, không thú vị bằng gặp ông ngoài đời, có lẽ ở một chừng mực nào đó, Hồ Thế Hà và Bùi Giáng là những case dùng hiện hữu của chính mình “như một sáng tạo”, chứ không phải, dùng sáng tạo nhằm chứng minh cho hiện hữu. Do đó, chúng tôi quyết định tìm một lối đi riêng nhằm giải mã thơ ca Hồ Thế Hà giữa vô vàn chi chít những dấu chân trên cát mà bạn bè tri âm của ông đã viết về Thuyền trăng. Từ những đặc trưng nói trên, “ga đi” được chúng tôi lựa chọn chính là từ tác giả, nhưng không theo lối xã hội học hay tiểu sử học, mà từ mẫu hình người văn hóa – gợi ý từ một công trình của Đỗ Lai Thúy, một trong những người bạn tri âm của chính Hồ Thế Hà.

1. Người say

Về bản chất, thì sáng tạo thi ca đã là một cơn say của cảm hứng, của trí tưởng tượng và của ngôn từ. Đặc biệt, ai quen biết Hồ Thế Hà đều biết nhà thơ là kẻ “lưu đày” trong men, uống nhiều, uống lâu, nhưng không phải vì thế mà trở nên kém mẫn tiệp và sáng tạo. Say với Hồ Thế Hà, cũng như nhiều thế hệ tiền nhân khác, là một hoạt động sáng tạo, là một cuộc phiêu lưu tư tưởng với sự thăng hoa nhờ dung môi của tinh thần. Người say sáng tạo khác kẻ say phàm tục. Kẻ phàm tục bị men rượu dẫn đường và tha hóa trong cơn say, kẻ sáng tạo dùng trạng thái say như một “cách xử thế”, trong hơi men đi tìm cảm hứng cho con chữ và đi tìm bản thể cho chính cuộc đời mình. Chính vì thế, trong nền tảng văn hóa phương Đông, mới có tiên tửu, có thi tửu, và trong nền thi ca Việt Nam, ngoài những Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Nguyễn Khuyến… những nhà Nho tài tử vốn đã có công đưa “việc say” lên một tầm triết học, thì Vũ Hoàng Chương trong phong trào thơ Mới là đại diện điển hình nhất cho một mẫu hình con người văn hóa (say). Từ tác giả đến văn bản, có thể thấy trong Thuyền trăng những “cơn say” triền miên của tác giả. Tuy nhiên, cũng như ngoài đời, Hồ Thế Hà luôn nỗ lực dùng say để tỉnh, dùng vui để buồn, dùng đám đông để đi tìm nỗi cô đơn. Cho nên, say và rượu trong Thuyền trăng đa phần đều buồn, đều là những hình tượng đồng cảm với tiền nhân hoặc người đã khuất. Trong cả hai bài thơ Cảm thức Phùng Quán (Ông mang theo Lửa, Rượu, Tình yêu vào cõi vĩnh hằng); Khóc Hoàng (Sao vẫn hồ trường thơ với rượu), Hồ Thế Hà muốn mượn rượu như một cuộc hành hương về cõi nhớ, một “khoảng khắc đồng hiện” với người thiên cổ. Do đó, người say trong đời và trong thơ Hồ Thế Hà, thực chất chỉ là nỗ lực “tỉnh táo” theo kiểu khác, ông không lấy rượu và bản thể “men” làm để làm trung tâm sáng tạo, mà say chỉ như một phương tiện và phương thức để nhà thơ đến với cuộc đời. Có một nghịch lý là, khi say người ta cảm thấy “tỉnh” hơn, do đó, dẫu uống nhiều ngoài đời, nhưng trong thơ Hồ Thế Hà rượu chỉ thấp thoáng, hoặc trong trạng thái phủ định: Tôi làm ngư phủ không hồn – Không buông cần trúc, không còn tỉnh say (Ngược phá Tam Giang), Như rượu uống vào môi – Đà Lạt uống vào tôi (Đà Lạt)… Hồ Thế Hà dẫu uống nhiều, ham ngồi lâu la cà, nhưng ông luôn tâm sự rằng bản thân rất sợ bia rượu, câu “nói ngược” ấy, soi chiếu vào văn bản mới thấy rằng thực ra là “thuận chiều” trong tâm thức sáng tạo của nhà thơ. Bởi vì, uống vì bạn bè, uống vì cô đơn, uống vì trăn trở, tức là vì “sự tỉnh” nên mới phải thông qua “say” nhằm khắc phục và thông hiểu, chỉ khi nào, sự uống vì chính nó, vì đi tìm cái đẹp trong lưu linh mới là người say nguyên nghĩa.

2. Người mộng

Mơ mộng là bản tính của thi ca, nó thù địch với lý trí và logic. Về mặt văn bản, thi ca có một “cấu trúc” khác, xét cả trên phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp so với lối nói thường nhật trong đời sống, và cả với kịch lẫn tự sự. Về mặt sáng tạo và tiếp nhận, khi đọc và viết thơ, mỗi cá nhân đều cần vượt thoát khỏi thực tại và những sự vật hiện tượng cụ thể, sinh động trong đời sống. Cấu trúc giấc mơ và tâm thức sáng tạo thi ca có sự tương đồng, đó đều là những hành vi gần gũi với vô thức. Người kiến tạo thế giới thi ảnh không bị quy định bởi một sự kiểm soát nào của lý trí. Hơn nữa, cả người viết lẫn người đọc không xét đoán thơ, không phân tích thơ, không dùng trục “lựa chọn” hay “kết hợp”, mà anh ta đích thực “sống” trong nó. Ấy vậy nên, chưa nói đến những trường hợp làm thơ trong mơ (như Hoàng Cầm), hay những người hoàn toàn sống trong mơ mộng giữa thực tại (như Bùi Giáng), mà chỉ đọc thơ Hồ Thế Hà thôi, chúng ta đã thấy hình tượng và trạng thái mơ xuất hiện nhiều lần trên bề mặt văn bản. Có đến 14 (trên tổng số 45) bài thơ xuất hiện những hình thức mộng mơ trong Thuyền trăng. Điều đặc biệt là, những bài thơ hay nhất trong tập thơ này đều có sự xuất hiện của các hình thức mơ mộng. Sở dĩ có đặc trưng ấy là bởi, Hồ Thế Hà luôn là người cảm tính. Sự cảm tính làm nên tâm hồn đồng ấu và cá tính đặc biệt ở ông, cả ở cõi thơ và cõi đời. Do đó, những bài thơ không đạt trong tập Thuyền trăng, theo cảm nhận chủ quan và thiển cận của chúng tôi, là những bài triết lý, những bài vượt ra khỏi cái khuôn khổ của sự mơ mộng và lãng mạn. Hồ Thế Hà lý tính không đạt, không phải do thiếu suy tư, mà bản chất của sự lý tính trong ông là lý tính giả, tức một hình thức cảm tính khoác áo lý tính. Do đó, cái hình thức thơ phù hợp nhất với sự mơ mộng, lãng mạn trong thơ Hồ Thế Hà vẫn là lục bát, hoặc thơ dẫu bao nhiêu chữ đi nữa vẫn phải có vần điệu. Tất nhiên, Thuyền trăng vẫn có nhiều bài thơ mang tính phản biện duy lý thành công, ngang nhiên dám Phản biện biển. Song với chúng tôi, sự phản biện đó không phải nhằm truy cầu chân lý, mà giản đơn chỉ là tìm cho cảm xúc của chính ông một chỗ neo, một điểm tựa mà thôi.

Bìa tập thơ "Thuyền trăng" của Hồ Thế Hà

Sự mơ mộng trong thơ Hồ Thế Hà là một nỗ lực kiến tạo một thế giới khác, lãng mạn hơn, thật thà hơn, vị tha hơn và tất nhiên, đẹp đẽ hơn cái thế giới của chúng ta đang sống. Thế giới đó là sự “bồng bềnh hư ảo” (Thuyền trăng), là mơ trong mơ: “Mơ tàn canh mộng ra ngoài tàn canh” (Nến tình), để (Giấc mơ) “xé vụn vầng trăng” (Hư vô), là dùng mơ để “nâng cánh giấc mơ”, là sự truy “tìm trong mộng” (Bến trăng mơ)… Chỉ có cái thế giới ấy, mới là nơi dung thân và chứa chấp sự trú ngụ bản thể con người cảm tính và tình cảm của Hồ Thế Hà. Nơi ông được “làm chính ông”, không mặt nạ, không mang những ám ảnh và vết thương thực tại. Hồ Thế Hà là người hay sợ hãi, cả trong đời thực và trong thơ, do đó, mỹ học của cái đẹp phủ kín vũ trụ thơ của ông, chứ không thể là cái hài, cái nhại (như Bút Tre, Bùi Giáng), cũng không phải là cái đau thương, điêu tàn (như Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Baudelaire), không phải là cái chết (E.Poe)… Chính cái đẹp mang tính chất cổ tích, hồn nhiên mới dung chứa được linh hồn Hồ Thế Hà, ấy vậy, nên thơ ông hay viết cho con trẻ, và thường viết rất hay bởi sự chân thành không hề nỗ lực cầu kỳ, hoa mỹ. Đứa trẻ ấy, thực chất trong vô thức, là chính ông, nó chính là bản lai diện mục cái tôi của Hồ Thế Hà – kẻ mộng mơ luôn: “Có một khu vườn cổ tích – Chập chờn, hư ảo trong giấc mơ con tôi” (Những khu vườn cổ tích).

3. Người chơi

Trong mẫu hình nhà Nho tài tử đầu thế kỷ XX, sự chơi và cuộc chơi đã biến thành “nghề chơi” (Nghề chơi cũng lắm công phu – Truyện Kiều), hoặc một “nghệ thuật chơi” (Chơi cho đài các, cho người biết tay – Nguyễn Công Trứ), là “kinh doanh lạc thú” (Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy – Nguyễn Công Trứ)… Tóm lại, nâng tầm sự chơi thành một cách xử thế, một ứng xử có tính triết học. Những người ham chơi, về thực chất, là những người đã vượt qua trung tâm để đến với ngoại biên, vượt qua sự đạo mạo và quy tắc để đến với sự bông đùa, bỏ qua lý thuyết của đạo đức và lý trí đến với lý thuyết trò chơi. Chẳng phải rằng, bước ngoặt triết học ngôn ngữ lớn nhất thời hậu hiện đại, là lúc Wittgenstein phát hiện ra trò chơi ngôn ngữ, và sau này đã được Lyotard kế thừa và hoàn thiện trong Hoàn cảnh hậu hiện đại đó hay sao. Từ đó, nói đến hậu hiện đại là nói đến lý thuyết trò chơi, cả trong văn học và triết học. Hồ Thế Hà ngoài đời là kẻ ham chơi, ham la cà. Câu hỏi bạn bè thường nhật của ông không phải là đang làm gì, hay đang ở đâu, mà là đang chơi ở đâu? Hồ Thế Hà luôn có xu hướng biến mọi hành vi nghiêm túc trở nên bông đùa, không theo hướng giễu nhại, phê phán đơn thuần, mà có tính nghịch dị (grotesque), phồn thực, tái sinh, lấp lửng hai mặt theo lý thuyết về “nền văn hóa trào tiếu dân gian” của Bakhtin. Nói cách khác, ông luôn có xu hướng đồng hóa mọi hành vi “không chơi” trở nên “đang chơi”. Trong Thuyền trăng, hình ảnh người ham chơi hiện ra rõ ràng. Đó có thể là sự chơi rất “phi mục đích” – bởi thực ra mọi sự chơi đều phi mục đích: Thì ngồi thả lá mà chơi (Nến tình), là sự chơi mang dáng dấp tiêu dao, “ngất ngưởng” (Cảm thức Phùng Quán), hoặc vô vàn những sự “lang thang”, “du lãm” trong Âm thanh từ gió, Mắc nợ, Bến trăng mơ… Đọc Thuyền trăng, bám theo từng cuộc chơi và địa điểm chơi của Hồ Thế Hà, ta cũng đủ thấy sự phong phú, từ Hồ Tây đến Hàng Châu, từ Đà Lạt đến sông Tiền, sông Hậu, từ đêm sang ngày, từ say sang tỉnh… Tuy nhiên, dù đi nhiều, song theo chúng tôi, trong thơ Hồ Thế Hà ông đã chẳng thực sự đi đâu cả. Ngoại cảnh chỉ là cái cớ để ông quay về với bản thể của chính mình, nhằm tự thú và tự thuật. Thơ Hồ Thế Hà do đó, không phải là cuộc chơi du hành, mà là nhân du hành để “tự chơi với chính mình”, lấy mình làm bạn chơi với mình trong thơ.

Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điểm, những “đối tác chơi” của Hồ Thế Hà trong Thuyền trăng. Đối tác chơi ở đây không phải là “em”, mà chính là những người được đề tặng, hoặc được viết về trong tập thơ. Hiếm có tập thơ nào mà những người được viết về và đề tặng nhiều đến như thế. Bởi vì, trong trò chơi, một trong những điểm quyến rũ mang lại giá trị cho nó, ngoài việc “phá bỏ quy tắc, luật lệ đời thường” nhằm đề cao tính ngẫu nhiên, thì tính đối kháng là hết sức quan trọng. Tính đối kháng tạo ra bạn chơi, có thể là đồng đội hoặc là đối thủ. Nhưng dù thế nào đi nữa, bạn chơi làm ta không cô đơn, tức được thoát ra khỏi sự ám ảnh cô đơn của cuộc đời. Thơ của Hồ Thế Hà viết ra không phải để cho mình, cũng không phải để cho người, mà là để kết nối mình với người, truyền tải thông điệp từ ông sang ai đó. Thơ như một phương tiện của những cuộc chơi với những bạn chơi tri kỷ. Hồ Thế Hà luôn là người sợ cô đơn, ông đi tìm sự sẻ chia với những người đã sống (Lê Huy Bắc, Phạm Xuân Nguyên, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch…), và với cả những người đã chết (Hồ Xuân Hương, Trịnh Công Sơn, Xuân Hoàng, Phùng Quán, Chế Lan Viên, Whitman…), và cuối cùng, là ngay với người trong nhà của ông, tức con gái của mình. Những cuộc chơi của Hồ Thế Hà, như thế, là một nỗ lực sống ngoài thời gian (thời gian chơi), không gian (địa điểm chơi) và quan niệm (thế giới là trò chơi). Nhờ khắc phục được sự hữu hạn, uy mật và những định chế, quy tắc, nên ông được an ủi và vượt thoát được khỏi nỗi cô đơn bản thể.

Hồ Thế Hà ngoài việc làm thơ, có lẽ ông nổi tiếng và nổi bật hơn ở chân mệnh một người “thuộc thơ” (thuộc cả rất nhiều thơ của…vợ) và phê bình thơ thời danh. Tuy nhiên, với chúng tôi, việc thuộc (nhiều) thơ người khác và bình thơ hay (cả bình “miệng” và bình bằng chữ) của Hồ Thế Hà, chẳng qua cũng là sự “sáng tác thơ” theo một “cách khác” của ông mà thôi, tức là một nỗ lực tái sáng tạo thi ca và bộc lộ “cái mình” trên văn bản của những người khác. Cả việc làm thơ, bình thơ và thuộc thơ của Hồ Thế Hà, chẳng qua là những giai đoạn biểu hiện khác nhau của bản tính lãng mạn, chân tình và đầy cảm tính trong tâm hồn của ông. Đọc thơ Hồ Thế Hà, ta gặp lại nhiều hình tượng thơ của những tiền nhân và tri kỷ văn chương mà ông yêu mến, thậm chí là những hình tượng thơ mà ngoài đời thực ông vẫn hay nói đến, hoặc đã từng làm thành văn bản đăng ở những nơi khác, trong những tập thơ khác. Điều ấy ắt hẳn không phải là sự lặp lại, mà là một nỗ lực chơi mang tính “đối thoại” với những tri kỷ thơ ca của Hồ Thế Hà. Đó phải chăng chính là “thi cách Hồ Thế Hà” mà Đỗ Lai Thúy đã từng nhắc đến trong lời tựa?

Đi tìm Hồ Thế Hà trong những mẫu người văn hóa là một việc làm không dễ, bởi con người thì sinh động, mà mọi quan niệm và lý thuyết chỉ như màu xám. Với Hồ Thế Hà, nỗ lực đó lại càng nan giải hơn, bởi ông có quá nhiều những cá tính đặc biệt trong thực tại, nhưng trong thơ thì lại thuần giọng đến thống nhất. Tuy nhiên, cái còn lại sau cùng, là văn bản chứ không phải con người hữu hạn trên mặt đất. Tôi tin rằng, với những di chỉ và chứng tính chữ đã để lại đó, chúng ta đã bắt gặp con người đích thực và chân thật nhất trong ông.

Nguồn: vanvn.net

 

Các bài khác:
· NGƯỜI ĐẤT QUẢNG VIẾT VỀ TRƯỜNG CA NGŨ QUẢNG
· LIỆU DOSTOEVSKY CÓ THỂ LÀM CHÚNG TA CHOÁNG VÁNG!
· TINH THẦN BI TRÁNG VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN
· 10 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ THU BỒN: THU BỒN VÀ TÔI
· THỜI GIAN VÀ PHẬN NGƯỜI TRONG THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· ÔNG THÔNG SẦU
· XIN MỘT LẦN CHO NÀNG KIỀU THÔI KHÓC
· VĂN HỌC TRONG LÒNG TÔI
· “HOA LÚA” ĐÃ BAY ĐI THEO 'MÀU TÍM HOA SIM'
· 10 TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM
· LÚC GẶP KIM TRỌNG, THÚY KIỀU BAO NHIÊU TUỔI?
· CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGÔ MINH
· TẠ HỮU YÊN - TRANG VIẾT NÀO CŨNG NẶNG TÌNH ĐẤT NƯỚC
· 'KHÔNG NÓI' - TÌNH YÊU VÀ NỖI BUỒN
· ĐI TÌM CON NGƯỜI THỰC CỦA HOÀNG TRUNG THÔNG
· MAI BÁ ẤN - SAU PHỒN HOA, SAU TRẦN AI...
· MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐÊM THƠ BÙI VĂN TẠO
· CON GÁI NHÀ VĂN NGÔ TẤT TỐ TIẾP TỤC LÊN TIẾNG...
· BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN
· BÙI XUÂN PHÁI - ĐÃ 25 NĂM

 

  
Gia đình Bích Khê