DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TÁC GIẢ 'HÒN ĐẤT' VỚI CÁC NHÀ VĂN ĐÀN ANH

                                                                                                     BÙI QUÁNG TÚ

Trong các nhà văn miền Nam tập kết ra Bắc thì Anh Đức (tên thật là Bùi Đức Ái) là một trường hợp đặc biệt. Đặc biệt là bởi vì ông chưa hề bước chân vô một trường trại sáng tác nào hết. Trường Viết văn Nguyễn Du, Học viện Văn học Gorky, các lớp bồi dưỡng sáng tác ngắn hạn dành cho nhà văn trẻ ông chưa hề đặt chân đến. Thế mà ông lại có những thành công trong sáng tác, nhất là mảng đề tài chiến tranh. Vậy nguyên cớ nào giúp cho Anh Đức có những thành công như vậy?

Nghề văn đòi hỏi phải có năng khiếu, có vốn sống và kinh nghiệm. Năng khiếu thì Anh Đức đã có sẵn, vốn sống dày dạn là điều ông đã có được trong những năm kháng chiến chống Pháp, tám năm tập kết ra Bắc, mười ba năm ở chiến trường miền Nam và những tháng năm dài sau giải phóng. Thế còn kinh nghiệm? Dù không tham dự trường trại nào hết nhưng ông đã học hỏi ở các nhà văn đàn anh.

Nhà văn đàn anh đầu tiên phát hiện ra Anh Đức chính là Đoàn Giỏi. Thời kháng chiến chống Pháp, ở miền Tây Nam bộ, cây bút trẻ vừa làm Báo Cứu quốc vừa tập tành viết lách. Viết được bảy, tám cái truyện, Anh Đức rụt rè đưa cho tác giả "Đất rừng phương Nam" coi. Đoàn Giỏi lánh ra một cái chòi giữa rừng cắm cúi đọc, càng đọc càng ngạc nhiên, sung sướng. Giữa đêm khuya Đoàn Giỏi đến lay Anh Đức: "Cậu viết rất được, bỏ đi vài cái yếu là in được thành tập chững chạc". Nghe lời động viên, Anh Đức thổn thức suốt đêm không ngủ. Cánh cửa vào văn chương đã mở, đã có hứa hẹn, nhưng chặng đường phía trước còn dài và cam go. Sau này, những truyện ngắn ấy được tập hợp thành tập truyện ngắn lấy tên "Biển động" và được nhận giải thưởng văn học Cửu Long. Năm ấy Anh Đức mới mười bảy tuổi. Có lẽ chặng đường quyết định cho việc bồi dưỡng kinh nghiệm sáng tác cho nhà văn trẻ Anh Đức là tám năm tập kết ra Bắc, sống giữa Thủ đô Hà Nội. Mới cọ quậy được một hai đầu sách thì năm 1957, nhà văn Anh Đức từ Đài Tiếng nói Việt Nam được chuyển về Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà văn Anh Đức viết: "Thành thật mà nói, thời gian ở miền Bắc tôi được học hỏi rất nhiều, nhưng không phải học ở trường vì tôi chưa hề kịp dự một trường trại viết văn nào. Tôi học ở sách, ở người, người ở đây là các nhà văn lớp trước, trong đó có các nhà văn thật sự có tài và nổi tiếng mà tôi được đọc hầu hết tác phẩm của họ từ lúc còn nhỏ. Là một người viết trẻ, tôi hết sức quý trọng các anh chị ấy, trước hết là do đọc sách của họ, sau do nhờ sống chung biết được phẩm cách của họ, phẩm cách lớn nhất là hầu hết họ đứng về nhân dân, đi theo ngay với cách mạng, với kháng chiến. Tôi về công tác ở Hội Nhà văn vài tháng sau khi thành lập Hội, năm 1957, ở giữa những Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Bùi Hiển, Kim Lân, Xuân Diệu, Tú Mỡ…" (Con đường chúng tôi đi qua). Hồi ấy Hội Nhà văn Việt Nam phân công các nhà văn đàn anh có kinh nghiệm kèm cặp các nhà văn trẻ miền Nam. Anh Đức được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng kèm cặp. Trước khi tiếp nhận kinh nghiệm sáng tác, Anh Đức đã tiếp nhận được phẩm cách của Nguyễn Huy Tưởng. Nguyễn Huy Tưởng là một nhà văn chân chính, cẩn trọng, trung thực trong thái độ làm việc và cách cư xử hàng ngày. Sau chuyến đi thực tế năm 1958, nhà văn Anh Đức đọc cho Nguyễn Huy Tưởng nghe truyện ngắn "Người gác đèn biển" với tâm trạng lo lắng, hồi hộp. Nghe đọc xong, Nguyễn Huy Tưởng thốt lên rất khẽ: "Truyện được đấy, rất có hơi thở của thơ. Cậu nên đi vào hướng đó!".

Ông chỉ nói thế rồi dẫn ra cho nhà văn trẻ vài chỗ đối thoại chưa thật hợp lý, xét theo ngôn ngữ của một ông già miền Bắc. Đó là lời khen đúng mực, mang tính mở hướng mà không làm người được khen thấy tự mãn.

Một trong những người mà Anh Đức hết sức kính trọng là nhà văn Nguyễn Tuân. Chính Nguyễn Tuân, để xóa bỏ những mặc cảm tự ti cho cây bút trẻ, đã căn dặn: "Trong sáng tác không có già trẻ gì hết, mỗi anh đều có cái sự sinh của mình, biết đâu cái thằng trẻ nó bật ra những cái bất ngờ mà mình không có được".

Khi Anh Đức viết được cái truyện ngắn hay, Nguyễn Tuân đến bắt tay động viên, khen viết đã có "cựa", có giọng riêng, giọng miệt vườn. Và như một mối duyên tiền định, năm 1962 Anh Đức vào chiến trường miền Nam (bút danh Anh Đức được đặt vào thời điểm này), Nguyễn Tuân và Anh Đức đã có tất cả 12 bài ký dưới dạng những bức thư gửi cho nhau, chân thật, sinh động, hấp dẫn đăng trên báo Văn nghệ. Những bài ký ấy là tiêu biểu cho tiếng nói của nhà văn hai miền Nam Bắc ca ngợi vẻ đẹp tinh thần quật khởi của quân dân miền Nam và nói lên khát vọng độc lập, thống nhất của nhân dân ta.

Trong tám năm sống trên đất Bắc, nhà văn Anh Đức đã có nhiều chuyến đi thực tế. Ông cùng nhà văn Bùi Hiển đi Cao Bằng, Lạng Sơn, cùng nhà thơ Hoàng Minh Châu đi Quảng Bình và cùng nhà văn Nguyên Hồng đi Hải Phòng. Tác giả của "Bỉ vỏ", "Những ngày thơ ấu" đã chu đáo, cẩn trọng trao đổi kinh nghiệm với nhà văn trẻ. Khi Anh Đức hỏi: "Tôi thấy ông Gorky bảo mở đầu một truyện ngắn không nên là một câu đối thoại, anh Hồng thấy thế nào". Ngẫm nghĩ một lát, Nguyên Hồng trả lời: "Mình cũng có đọc thấy ông Gorky nói thế, nhưng theo mình không nhất thiết phải như thế miễn sau đó ta miêu tả ngay cái tình huống phát ra lời thoại đó". Chỉ một giải đáp nhỏ cũng giúp nhà văn trẻ thêm kinh nghiệm quý báu.

Đối với các nhà thơ, Anh Đức cũng rất quý trọng. Ông đặc biệt biết ơn nhà thơ Xuân Diệu. Thời gian phụ trách Tạp chí Văn nghệ, khi nhận được truyện ngắn "Con cá song" của Anh Đức, Xuân Diệu đã khen là truyện tốt và khuyến khích nên dự thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ. Truyện ngắn này sau đó đã được tặng giải nhất cuộc thi.

Nhà thơ Chế Lan Viên có một vị trí đặc biệt trong cuộc đời nhà văn Anh Đức. Không chỉ kính phục về nhân cách, thơ ca, Anh Đức còn biết ơn Chế Lan Viên đã chăm lo hạnh phúc lứa đôi cho mình. Vào những năm 1956 - 1960, Chế Lan Viên vừa trải qua một cơn bệnh nặng, một bi kịch gia đình và đã vượt qua nỗi đau riêng để hòa hợp với nhân dân, Tổ quốc, thế mà ông đã lo tác thành cho nhà văn Anh Đức và cô Loan, thủ thư của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Là người đưa đường chỉ lối, đưa thư và nhất là khi Anh Đức vào chiến trường miền Nam, ông đôn đốc để cô Loan được đi vào chiến trường cùng chồng.

Tố Hữu vừa là nhà thơ vừa là người lãnh đạo văn nghệ. Vào cái thời điểm bước ngoặt 1962, khi Ban Thống nhất điều nhà văn Anh Đức vào chiến trường miền Nam, nhà thơ Tố Hữu đã mời nhà văn trẻ và nhà văn Nguyễn Văn Bổng (người cùng đi vào chiến trường) đến ăn cơm. Tin tưởng và đánh giá cao năng lực sáng tác của Anh Đức, nhà thơ Tố Hữu căn dặn: "Vào đó thì anh Bổng có thể tham gia một phần vào việc lãnh đạo, quản lý văn nghệ, nhưng Bùi Đức Ái thì không, dứt khoát lo đi thâm nhập thực tế và viết".

Nhớ lời căn dặn của Tố Hữu, nhà văn Anh Đức đã trở lại thâm nhập thực tế vùng đất Rạch Giá, Cà Mau, viết nên nhiều truyện ngắn, bút ký và tiểu thuyết "Hòn Đất". Khi tiểu thuyết "Hòn Đất" gửi ra miền Bắc thì có một bức điện ở miền Bắc gửi vào, trong đó có ý kiến của nhà thơ Tố Hữu: "Không thể để bà Cà Xợi trực tiếp giết con mình là Xăm, dù đó là một tên ác ôn…". Nhà văn Anh Đức đã sửa lại chi tiết này. Khi tiểu thuyết "Hòn Đất" ra đời, nhà phê bình văn học uy tín Hoài Thanh hồ hởi ca ngợi bằng một bài viết trên Tạp chí Văn học với tựa đề "Hòn Đất, hòn ngọc".

Mười ba năm sống và viết ở chiến trường miền Nam, từ ngày giải phóng tới nay, nhà văn Anh Đức sống và viết ở thành phố Hồ Chí Minh. Vốn là cây bút có văn phong điềm tĩnh, thanh thoát nhưng trước một số luận điểm phủ nhận tính kế thừa của văn học, nhà văn Anh Đức gay gắt: "Tôi không bao giờ quan niệm văn học lại có thể cắt rời truyền thống, không có trước có sau. Gần đây tôi thực sự ngạc nhiên về một số ý kiến cổ súy cho sự cắt rời, lại còn kêu gọi đừng chịu ảnh hưởng áp lực của thế hệ viết trước. Tôi không hiểu đó là áp lực gì. Đã là một người cầm bút, người ấy phải đủ trí tuệ để phân định dở, hay rồi toàn quyền tiếp nhận hoặc gác bỏ, chứ không chịu áp lực của ai cả" (Con đường chúng tôi đã đi qua).

Rất quý trọng các nhà văn đàn anh, những năm còn khỏe, Anh Đức thường ra Hà Nội gặp gỡ, thăm hỏi họ. Khi các nhà văn đàn anh vào Tp HCM, ông lại có dịp giao lưu, đưa họ đi thăm các vùng miền. Sau một cơn đột quỵ ngỡ không qua khỏi, nhưng thần may mắn đã phù trợ cho nhà văn Nam bộ yêu quý của chúng ta. Dẫu sức khỏe có yếu đi nhiều nhưng đầu óc ông vẫn minh mẫn, vẫn nhớ đến từng chi tiết. Không còn viết được nữa, ông vẫn đọc và theo dõi thời sự văn nghệ. Nhắc tới các nhà văn đàn anh bao giờ ông cũng xúc động. Từ nhà văn Đoàn Giỏi - người đã phát hiện ra Anh Đức - đến các nhà văn đàn anh ở miền Bắc, mỗi người một tay đã dìu dắt để Anh Đức có được sự nghiệp hôm nay. Cái hành trang nghề nghiệp mà các nhà văn đàn anh truyền cho đã giúp ông sáng tác dẻo dai từ thời chiến qua thời bình, đã giúp ông có được vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật từ năm 2001.

B.Q.T

Nguồn: cand.com

 

Các bài khác:
· NHỮNG BÀI THO HAY DÀNH CHO PHỤ NỮ
· NGUYỄN THỤY LONG - BÓNG CHIM TRÊN NGỌN KHÔ
· SỰ ĐAN XEN CÁC KHUYNH HƯỚNG THẨM MỸ TRONG THƠ HUYỀN QUANG
· ĐẶC TÍNH LÃNG MẠN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ THI CA VIỆT NAM THỜI CHIẾN
· CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
· TRÍ THỨC VĂN NGHỆ SÀI GÒN TRƯỚC 75 VỚI VŨ TRỌNG PHỤNG
· DẤU VẾT VŨ BẰNG TRÊN HAI TỜ BÁO “TRUNG VIỆT TÂN VĂN” (HÀ NỘI, 1946) VÀ “LỬA SỐNG” (HẢI PHÒNG, 1954-55)
· NGÀY GIA ĐÌNH VN 28/6: NHỮNG BÀI THƠ HAY VỀ VỢ
· CÁI TÔI ĐỘC ĐÁO CỦA TẢN ĐÀ TRONG TÁC PHẨM 'HẦU TRỜI'
· CHẾ LAN VIÊN VÀ HIỆN ĐẠI HÓA THƠ VIỆT
· VĂN CAO - DÒNG SÔNG BA NHÁNH SƯƠNG MÙ
· TRẦN ĐÌNH HƯỢU VÀ BA LOẠI NHÀ NHO TRONG VĂN HỌC VN TRUNG ĐẠI
· 'THUYỀN TRĂNG' CỦA HỒ THẾ HÀ - TỪ MẪU NGƯỜI VĂN HÓA
· NGƯỜI ĐẤT QUẢNG VIẾT VỀ TRƯỜNG CA NGŨ QUẢNG
· LIỆU DOSTOEVSKY CÓ THỂ LÀM CHÚNG TA CHOÁNG VÁNG!
· TINH THẦN BI TRÁNG VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN
· 10 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ THU BỒN: THU BỒN VÀ TÔI
· THỜI GIAN VÀ PHẬN NGƯỜI TRONG THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· ÔNG THÔNG SẦU
· XIN MỘT LẦN CHO NÀNG KIỀU THÔI KHÓC

 

  
Gia đình Bích Khê